TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 262/2024/DS-PT Ngày: 11 - 11 - 2024 V/v tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Văn Hai
Các Thẩm phán: Ông Lâm Thuận Tùng và ông Đào Chí Keo
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thanh Huế - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Lương Thị Hương – Kiểm sát viên.
Trong các ngày 08 và 11 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 251/2024/TLPT-DS ngày 02 tháng 10 năm 2024 về việc tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 217/2024/DS-ST, ngày 01/7/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 286/2024/QĐXX-PT ngày 09 tháng 10 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số: 311/2024/QĐXX-PT ngày 28 tháng 10 năm 2024 giữa:
- Nguyên đơn: Ông Hoàng Hà Q, sinh năm 1968; nơi cư trú: A tổ A hẻm N, khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang.
- Bị đơn:
- Bà Trần Thị Ánh T, sinh năm 1990; nơi cư trú: Số E, tổ A, đường T, khóm Đ, phường Đ, thành phố L, tỉnh An Giang.
- Ông Trần Đức T1, sinh năm 1971; nơi cư trú: Số B, đường N, khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
(Các đương sự có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại bản án sơ thẩm, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, ông Hoàng Hà Q trình bày:
Vào ngày 31/7/2023 bà Trần Thị Ánh T và ông Trần Đức T1 ký biên nhận vay của ông số tiền là 1.850.000.000 đồng, lãi suất thỏa thuận là 0.2%/ngày để đáo hạn Ngân hàng và hẹn 02 ngày sau sẽ hoàn trả đầy đủ tiền vốn và lãi, nhưng sau khi vay, bà T và ông T1 không thực hiện theo cam kết.
Nay yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Trần Thị Ánh T, ông Trần Đức T1 phải liên đới trả cho ông số tiền vốn, lãi tính đến ngày 01/7/2024 là 2.368.505.000 đồng. Và yêu cầu tiếp tục tính lãi từ ngày 02/7/2024 theo quy định pháp luật cho đến khi trả hết nợ.
Đối với số tiền 95.000.000 đồng, ông T1 trả vào số tiền nợ vay ngày 28/7/2023, không liên quan đến khoản nợ 1.850.000.000 đồng của vụ án này.
Bị đơn, bà Trần Thị Ánh T và ông Trần Đức T1 cùng trình bày:
Số tiền vay 1.850.000.000 đồng theo biên nhận ngày 31/7/2023 là trách nhiệm của ông Trần Đức T1. Bà Trần Thị Ánh T không đồng ý liên đới cùng ông T1 trả nợ theo yêu cầu của ông Q.
Sau khi vay, ông T1 chuyển khoản trả cho ông Q số tiền 95.000.000 đồng, yêu cầu khấu trừ vào số tiền vốn vay.
Ông T1 đồng ý trả số tiền còn lại cho ông Q, trả dần mỗi năm 500.000.000 đồng cho đến khi hết nợ.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 217/2024/DS-ST, ngày 01/7/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên đã tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ông Hoàng Hà Q đối với bà Trần Thị Ánh T, ông Trần Đức T1:
Buộc bà Trần Thị Ánh T, ông Trần Đức T1 cùng liên đới chịu tránh nhiệm trả cho ông Hoàng Hà Q số tiền 2.361.411.000 đồng.
Kể từ ngày 02/7/2024 cho đến khi thi hành án xong bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất nợ quá hạn là 30%/năm.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về phần án phí dân sự, về áp dụng luật thi hành án và tuyên về phần quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 11 tháng 7 năm 2024, ông Trần Đức T1 làm đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Ngày 09 tháng 8 năm 2024, bà Trần Thị Ánh T làm đơn kháng cáo, không chịu trách nhiệm liên đới trả nợ cùng với của ông Trần Đức T1.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Ông Trần Đức T1 bổ sung đơn kháng cáo, số tiền 95.000.000 đồng ông trả 01 phần vốn cho ông Hoàng Hà Q nhưng cấp sơ thẩm không khấu trừ.
Bà Trần Thị Ánh T cũng đồng ý chịu trách nhiệm trả ½ số tiền cho ông Hoàng Hà Q như án sơ thẩm tuyên, nhưng tách trách nhiệm liên đới với ông Trần Đức T1.
Tuy nhiên, ông Hoàng Hà Q không đồng ý.
Phát biểu quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang về giải quyết vụ án:
Về thủ tục tố tụng:
Kháng cáo đúng quy định pháp luật; Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, Thư ký Tòa án, Hội đồng xét xử đã chấp hành đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử. Các đương sự cũng đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật và tại phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 71, Điều 72, Điều 86, Điều 234, Điều 273 và Điều 285 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung vụ án:
Cấp sơ thẩm căn cứ biên nhận ngày 31/7/2023 buộc bà Trần Thị Ánh T, ông Trần Đức T1 cùng liên đới chịu tránh nhiệm trả cho ông Hoàng Hà Q số tiền 1.850.000.000 đồng và tiền lãi là có căn cứ. Tuy nhiên, chưa khấu trừ số tiền 95.000.000 đồng do ông T1 trả cho ông Q1 và mức lãi suất tính không chính xác, đề nghị sửa bản án sơ thẩm về phần này.
Từ những căn cứ trên, đề nghị Hội đồng xét xử, căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, chấp nhận 01 phần đơn kháng cáo của ông T1 và bà T. Sửa bản án sơ thẩm số 217/2024/DS-ST, ngày 01/7/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của đương sự và của Viện kiểm sát.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về hình thức, đơn kháng cáo của bị đơn trong hạn luật định nên chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về quan hệ tranh chấp: Cấp sơ thẩm xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp.
[3] Về nội dung:
[3.1] Ông Hoàng Hà Q khởi kiện bà Trần Thị Ánh T, ông Trần Đức T1 yêu cầu phải trả số tiền vay 1.850.000.000₫ và tiền lãi. Chứng cứ là Biên nhận ngày 31/7/2023.
[3.2] Bà Trần Thị Ánh T, ông Trần Đức T1 thừa nhận ký tên biên nhận ngày 31/7/2023. Tuy nhiên, bà T nại rằng số tiền 1.850.000.000đ là do ông T1 vay, bà chỉ giúp ông T1 nhận chuyển tiền từ ông Q cho ông T1 số tiền trên và bà đã chuyển giao lại đủ cho ông T1.
[4] Xét yêu cầu kháng cáo của các đương sự thấy rằng:
[4.1] Số tiền vay 1.850.000.000 đồng, ông Q đã chuyển vào tài khoản của bà T và bà cùng với ông T1 ký biên nhận ngày 31/7/2023. Vì ông Q chưa nhận lại tiền đã cho vay nên đã khởi kiện. Bà T và ông T1 không chứng minh đã trả lại tiền cho ông Q theo biên nhận trên. Nên Cấp sơ thẩm buộc trả lại là có căn cứ.
[4.2] Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Q và T1 xác nhận: sau ngày 31/7/2023 ông T1 chuyển khoản trả cho ông Q số tiền 95.000.000 đồng, gồm, ngày 04/12/2023 số tiền 25.000.000đ, ngày 06/01/2024 số tiền 40.000.000đ, ngày 01/3/2024 số tiền 20.000.000đ và ngày 09/3/2024 số tiền 24.000.000đ để trả 01 phần tiền vốn gốc. Ông Q nêu rằng số tiền trên trả cho khoản vay khác và cung cấp biên nhận ngày 28/7/2023, có chữ ký của ông T1 để chứng minh, nhưng ông T1 thừa nhận.
Vì các đương sự chưa tranh chấp liên quan đến biên nhận ngày 28/7/2023 nên số tiền 95.000.000 đồng ông T1 trả cho ông Q nêu trên phải được khấu trừ. Cấp sơ thẩm có nhận định nhưng chưa khấu trừ là thiếu sót.
[4.3] Về cách tính tiền lãi: Biên nhận ngày 31/7/2023 chỉ ghi thời hạn vay là 02 ngày, không ghi mức tiền lãi nên được xác định là vay không có lãi theo quy định tại khoản 1 Điều 470 Bộ luật dân sự.
Kể từ ngày 02/8/2023 trở đi, các bên cũng không có thỏa thuận mức lãi suất và thời hạn vay. Trường hợp này, phải xác định có tranh chấp về lãi suất và phải được tính trong hạn 10%/năm và quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn là 15%/năm, quy định tại khoản 4, 5 Điều 466; khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
Như vậy, thời hạn bắt đầu tính lãi kể từ ngày 02/8/2023 trở đi, lãi suất hạn là 15%/năm, tương đương 1.25%/tháng, mỗi tháng tiền lãi là 23.125.000 đồng.
Cụ thể như sau:
- - Từ ngày 02/8/2023 đến ngày 04/12/2023 (ngày ông T1 chuyển tiền lần đầu cho ông Q) là 04 tháng 02 ngày. Số tiền gốc 1.850.000.000 đồng x 1.25%/tháng = 23.125.000 đồng x 04 tháng 02 ngày = 95.580.000 đồng.
- Vì vậy, các ngày 04/12/2023, 06/01/2024, 01/3/2024 và ngày 09/3/2024 số tiền 95.000.000 đồng ông T1 chuyển cho ông Q phải được khấu trừ vào tiền lãi.
- - Từ ngày 02/8/2023 đến ngày 01/7/2024 (ngày xét xử sơ thẩm) là 11 tháng 29 ngày. Số tiền gốc 1.850.000.000 đồng x 1.25%/tháng = 23.125.000 đồng x 11 tháng 29 ngày = 275.960.000 đồng - 95.000.000 đồng = 180.960.000 đồng.
Tổng cộng vốn và lãi là 2.030.960.000 đồng.
Bà T, ông T1 phải liên đới trả cho ông Q số tiền này và lãi suất phát sinh từ ngày 02/7/2024 cho đến khi thi hành án xong.
[5] Từ những phân tích, nhận định trên, Hội đồng xét xử có căn cứ để chấp nhận 01 phần đơn kháng cáo của ông T1, bà T. Sửa bản án sơ thẩm số 217/2024/DS-ST ngày 01/7/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên.
[6] Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang đề nghị sửa Bản án dân sự sơ thẩm, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[7] Các phần còn lại của bản án sơ thẩm, không có kháng cáo, kháng nghị đã phát sinh hiệu lực pháp luật.
[8] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông T1, bà T phải chịu tiền án phí theo quy định pháp luật.
[9] Về án phí dân sự phúc thẩm: Kháng cáo được chấp nhận, ông T1, bà T không phải chịu án phí và được nhận lại số tiền tạm ứng án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm án phí, lệ phí Tòa án.
Chấp nhận 01 phần đơn kháng cáo của bà Trần Thị Ánh T, ông Trần Đức T1.
Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 217/2024/DS-ST ngày 01/7/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên.
Tuyên xử:
Chấp nhận đơn khởi kiện ông Hoàng Hà Q đối với bà Trần Thị Ánh T, ông Trần Đức T1:
Buộc bà Trần Thị Ánh T, ông Trần Đức T1 cùng liên đới trả cho ông Hoàng Hà Q số tiền 2.030.960.000 đ (hai tỷ không trăm ba mươi triệu chín trăm sáu mươi ngàn đồng)
Kể từ ngày 02/7/2024 cho đến khi thi hành án xong bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất nợ quá hạn là 15%/năm.
Án phí dân sự sơ thẩm: bà Trần Thị Ánh T, ông Trần Đức T1 phải chịu 72.620.000 đồng.
Án phí phúc thẩm:
Bà Trần Thị Ánh T không phải chịu án phí. Hoàn trả lại cho bà T vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai số 0000602 ngày 12/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang;
Ông Trần Đức T1 không phải chịu án phí. Hoàn trả lại cho ông T1 vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai số 0002390 ngày 22/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
Các phần Quyết định còn lại của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã phát sinh hiệu lực.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Văn Hai |
Bản án số 262/2024/DS-PT ngày 11/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 262/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 11/11/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa ông Hà Hoàng Q và bà Trần Thị Ánh T, ông Trần Đức T
