TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 262/2023/HS-ST Ngày 15 - 11 - 2023 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Hồng Hải.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Kim Liên.
- Bà Lê Thị Khanh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh B - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 299/2023/TLST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 300/2023/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2023 đối với các bị cáo:
1. Liêng Hữu T; sinh ngày 21 tháng 7 năm 1994 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký thường trú: 2 T, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi ở: 6 Đường số B, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Liêng Sơn Thanh V và bà Nguyễn Thị L; bị cáo chưa có vợ con. tiền án, tiền sự: không; Nhân thân:
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/02/2023. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2. Nguyễn Văn T1; sinh ngày 05 tháng 6 năm 2004 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký thường trú: 4 đường số A, Phường H, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; nghê nghiệp: không; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Đ và bà Hán Thị Ngọc H; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/02/2023 đến ngày 30/6/2023 được thay đổi biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Những người tham gia tố tụng:
Bị hại: Ông Trần Lê Hoàng Đ1, sinh năm 2003. (có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: 6 Ấp A, xã N, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ ngày 21/02/2023, Nguyễn Văn T1 điều khiển xe gắn máy hiệu Winer X, biển số 59V3-378.48 chở Liêng Hữu T đi chơi trên đường N từ hướng huyện Đ, tỉnh Long An về thị trấn H. Trên đường đi, T rủ T1 đi tìm người có tài sản để chặn cướp lấy tài sản bán chia nhau tiêu xài, T1 đồng ý. Sau đó, T1 tháo biển số xe ra, gắn biển số giả (không nhớ rõ số) vào rồi điều khiển xe chở T đi qua cầu bà M thuộc xã N, huyện H thì cả hai phát hiện anh Trần Lê Hoàng Đ1 đang điều khiển xe gắn máy hiệu Blade, biển số 59Y2 – 865.60 chạy cùng chiều nên T kêu T1 điều khiển xe chạy lên ép xe của anh Đ1 vào lề, tuy nhiên anh Đ1 tăng ga bỏ chạy. T kêu T1 tăng ga đuổi theo anh Đ1 và T la lớn: “Tấp xe vô lề nhanh cho tao” thì Đ1 liền thắng và dừng xe lại. Lúc này, anh Đ1 định quay đầu xe bỏ chạy thì T nhảy xuống xe rồi lớn giọng nói: “Tắt máy xe đứng yên cho tao” và dùng tay phải chỉ thẳng vào người anh Đ1, nghe vậy anh Đ1 không dám phản ứng gì mà chỉ đứng yên. Cùng lúc này. T1 dừng xe sát bên anh Đ1 rồi T tiến lại gần xe của Đ1, kêu Đ1 đứng sang 01 bên, còn T ngồi lên xe của Đ1 nổ máy xe, kêu anh Đ1 lên xe để T chở đi nhằm mục đích tìm đường vắng vẻ để thực hiện hành vi chiếm đoạt xe của anh Đ1.
Sau đó, T chở anh Đ1 vào đường N thuộc tổ A, ấp D, xã N, huyện H, còn T1 chạy phía sau nhằm không để cho Đ1 nhảy xuống xe hay truy hô. Trên đường đi thì T nói: “Mày có điện thoại hay bóp gì thì lấy ra mau”. Đ1 không làm theo thì bị T1 chạy lên song song bên phải xe T đang chở anh Đ1 rồi T1 dùng tay trái đánh vào đầu Đ1 01 cái nên anh Đ1 hoảng sợ lấy điện thoại di động hiệu Iphone XS Max cùng 01 cái bóp ra đưa cho T1. Sau khi vào đường N thì T thấy đường vắng nên đã dừng xe lại và kêu Đ1 xuống xe để kiểm tra cốp xe. Cùng lúc này, T1 dừng xe đứng cách đó khoảng 03 mét. T kêu Đ1 tự mở cốp xe của anh Đ1 ra kiểm tra thấy không có tài sản gì nên kêu Đ1 đóng cốp xe lại, đưa chìa khóa xe cho T. Sau đó, T ngồi lên xe của anh Đ1, nổ máy xe bỏ chạy, anh Đ1 liền dùng 02 tay nắm cản xe phía sau kéo xe lại làm T ngã xuống đường. Nghe tiếng tri hô của bị hại, người dân xung quanh chạy đến bắt giữ T cùng xe gắn máy của anh Đ1 giao Công an xã N xử lý, còn T1 điều khiển xe Winer X tẩu thoát.
Sau đó, T1 gắn lại biển số thật 59V3-378.48, còn biển số giả T1 đem vứt bỏ ở kênh cầu T, khu phố E, phường A, quận G, Cơ quan điều tra không thu hồi được. Thông qua Đặng Kim L1 và Trần Đinh D, T1 nhờ Lê Ngọc T2 đi bán giùm chiếc điện thoại của anh Đ1 với giá 1.800.000 đồng, T2 chuyển cho L1 số tiền 1.500.000 đồng, L1 chuyển cho T1 số tiền 1.000.000 đồng và cho người bạn số tiền 150.000 đồng, L1 giữ lại số tiền 350.000 đồng mua sữa cho con. Khi T1 nhờ bán điện thoại, có nói nguồn gốc điện thoại là của T1. Riêng giấy đăng ký xe, căn cước công dân và giấy phép lái xe của anh Đ1 thì T1 cất giữ và bị Công an thu giữ, còn cái bóp thì T1 vứt bỏ, không thu hồi được. Đối với số tiền bán điện thoại di động được 1.000.000 đồng, T1 đã tiêu xài hết.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 2682/KL - KTHS ngày 15/05/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân huyện H định giá 01 xe gắn máy hiệu Honda Blade biển số 59Y2 – 865.60 trị giá 11.000.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS Mas 64GB trị giá 4.500.000 đồng. Tổng cộng là 15.500.000 đồng (BL 161-164).
Tại Cơ quan điều tra, Liêng Hữu T, Nguyễn Văn T1 khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Vật chứng thu giữ:
- - 01 (một) xe gắn máy hiệu Honda Blade biển số 59Y2 – 865.60 (SM: JC52E – 4213446; SK: RLHJA3608EY117473) cùng 01 (một) giấy phép lái xe mang tên Trần Lê Hoàng Đ1; 01 (một) thẻ CCCD mang tên Trần Lê Hoàng Đ1; 01 (một) giấy đăng ký xe gắn hiệu Honda Blade biển số 59V2 – 865.60 do Cao Thị S đứng tên, Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Đ1.
- - 01 xe gắn máy hiệu Winer X, biển số 59V3-378.48. Qua xác minh, xe thuộc sở hữu của anh Nguyễn Văn T3 (anh trai của T1) cho T1 mượn để đi chơi. Anh T4 không biết T1 dùng xe làm phương tiện phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả xe cho anh T4.
- - 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6PLUS màu hồng (thu của T), là tài sản riêng của bị cáo.
- - 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax màu vàng gold (thu của T1), là tài sản riêng của bị cáo.
Về phần dân sự: Bị hại Trần Lê Hoàng Đ1 yêu cầu bồi thường chiếc điện thoại Iphone XSMas 64 GB với số tiền 4.500.000 đồng. Riêng chiếc bóp không có giá trị nên anh Đ1 không yêu cầu bồi thường.
Tại Bản cáo trạng số: 183/CT-VKSH.HM ngày 19 tháng 7 năm 2023 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố các bị cáo Liêng Hữu T và Nguyễn Văn T1 ra trước Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh để xét xử về tội “Cướp tài sản” theo khoản 1 Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân dân huyện H đề nghị Hội đồng xét xử xem xét:
- - Áp dụng khoản 1 Điều 168, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Liêng Hữu T từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm 06 tháng tù.
- - Áp dụng khoản 1 Điều 168, điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 91, khoản 2 Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T1 từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
- - Về xử lý vật chứng:
- + 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6PLUS màu hồng thu của T. Đây là tài sản riêng của bị cáo, đề nghị trả lại cho bị cáo.
- + 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax màu vàng gold thu của T1. Đây là tài sản riêng của bị cáo, đề nghị trả lại cho bị cáo.
Tại phiên tòa, các bị cáo Liêng Hữu T và Nguyễn Văn T1 thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không trình bày bổ sung và không có ý kiến tranh luận với nội dung truy tố của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn.
Các bị cáo nói lời nói sau cùng:
Bị cáo T và bị Cáo T1 ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, qua phần hỏi và tranh tụng công khai, các bị cáo đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn đã truy tố. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, những người tham gia tố tụng khác và các chứng cứ khác đã được thu thập có tại hồ sơ vụ án. Từ đó, có đủ cơ sở chứng minh:
Ngày 21/02/2023, tại xã N, huyện H, Liêng Hữu T và Nguyễn Văn T1 đã có hành vi dùng vũ lực tấn công anh Trần Lê Hoàng Đ1 để chiếm đoạt chiếc xe gắn máy và điện thoại di động trị giá 15.500.000 đồng của anh Trần Lê Hoàng Đ1.
[3] Các bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự.
Hành vi đe dọa, sử dụng vũ lực của các bị cáo để tấn công bị hại làm cho bị hại không thể chống cự được nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản là tình tiết định khung hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Do đó, Bản cáo trạng số: 183/CT-VKSH.HM ngày 19 tháng 7 năm 2023 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố các bị cáo Liêng Hữu T và Nguyễn Văn T1 về tội “Cướp tài sản” theo khoản 1 Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ và đúng pháp luật.
Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định:
“1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm”
[4] Áp dụng điều luật được viện dẫn nêu trên cho thấy, hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thuộc trường hợp rất nghiêm trọng với lỗi cố ý, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Trong vụ án này, bị cáo T là người rủ rê, khởi xướng nhưng các bị cáo có vai trò ngang nhau, đều là người thực hành vi phạm tội. Do đó, Hội đồng xét xử cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của các bị cáo, cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, cải tạo, giáo dục riêng đối với các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cần xem xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với từng bị cáo.
Bị cáo Liêng Hữu T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng có nhân thân xấu; Từ năm 2015 đến nay đã nhiều lần bị bắt và bị xét xử Năm 2015, bị Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, theo bản án số 251/2015/HSST, chấp hành xong ngày 29/5/2016; Năm 2017, bị Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm 9 tháng tù về tội “Cướp tài sản”, theo bản án số 93/2017/HSST, chấp hành xong ngày 18/02/2020; Năm 2020, bị Tòa án nhân dân Quận 12 ra quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 20 tháng, chấp hành xong ngày 28/01/2022 nhưng trong quá trình chấp hành án không lấy đó làm bài học để rèn luyện bản thân chấp hành đúng pháp luật Nhà nước mà nay tiếp tục phạm tội thể hiện ý thức xem thường pháp luật Nhà nước. Tuy nhiên, tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Bị cáo Nguyễn Văn T1 không có tình tiết tăng nặng, có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tự nguyện bồi thường, khắc phục thiệt hại cho bị hại Đ1 số tiền 4.500.000 đồng; bị hại có đơn xin bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình vi phạm pháp luật nên đã đến Công an đầu thú để được cơ quan có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 do đó Hội đồng xét xử sẽ xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Xét thấy bị cáo T1 có đủ hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, đồng thời bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên có đủ điều kiện được áp dụng quy định tại Khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về xử lý vật chứng:
- - 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6PLUS màu hồng thu của T. Đây là tài sản riêng của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo.
- - 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax màu vàng gold thu của T1. Đây là tài sản riêng của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị hại có yêu cầu bồi thường thiệt hại số tiền 4.500.000 đồng. Tại phiên tòa, bị hại vắng mặt nhưng căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện bị hại đã được các bị cáo T1 bồi thường số tiền 4.500.000 đồng, bị hại không yêu cầu các bị cáo tiếp tục bồi thường về dân sự; Bị cáo T1 cũng không có yêu cầu gì đối với bị cáo T nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Các vấn đề khác:
Đối với Đặng Kim L1, Trần Đình D1 và Lê Ngọc T2 có hành vi giúp T1 tiêu thụ chiếc điện thoại do T1 chiếm đoạt nhưng không biết rõ đây là tài sản do T1 chiếm đoạt của người khác nên Cơ quan điều tra không truy cứu trách nhiệm hình sự là phù hợp Hội đồng xét xử không xem xét.
[8] Về án phí: Các bị cáo Liêng Hữu T và Nguyễn Văn T1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/ 2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ khoản 1 Điều 168, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 50, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Liêng Hữu T;
Xử phạt bị cáo Liêng Hữu T 03 (Ba) năm 06 (S1) tháng tù về tội “Cướp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt, tạm giữ, tạm giam 22/02/2023.
Căn cứ khoản 1 Điều 168, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 38, Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Nguyễn Văn T1;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T1 01 (Một) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án, được trừ vào thời gian bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22 tháng 02 năm 2023, đến ngày 30 tháng 6 năm 2023.
[2] Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tạm giam bị cáo Liêng Hữu T thời hạn 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo cho việc thi hành án.
[3] Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- - Trả lại cho các bị cáo Liêng Hữu T 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6PLUS màu hồng;
- - Trả lại cho các bị cáo Nguyễn Văn T1 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax màu vàng gold của T1.
Vật chứng của vụ án hiện do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh đang quản lý theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 20 tháng 7 năm 2023.
[4] Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 ngày 12 tháng 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Về án phí: Buộc các bị cáo Liêng Hữu T và Nguyễn Văn T1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm. Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
[5] Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
[6]. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu yêu câu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trịnh Hồng Hải |
Bản án số 262/2023/HS-ST ngày 15/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về cướp tài sản
- Số bản án: 262/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cướp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo Liêng Hữu T 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Cướp tài sản”.
