|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 261/2024/HNGĐ-ST Ngày: 30/7/2024 “V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Công Định
Ông Nguyễn Đức Hạnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Hà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương: Bà Phạm Thị Thùy - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 30 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 211/2024/HNGĐ-TLST ngày 24/4/2024, về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 286/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 20/6/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 207/2024/QĐ-ST ngày 11 tháng 7 năm 2024, giữa:
1. Nguyên đơn: Anh Bùi Văn Đ, sinh ngày 28/01/1989.
Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn H, xã H, huyện T, tỉnh Hải Dương.
Hiện đang ở: Nhật Bản.
2. Bị đơn: Chị Tấn Thị T, sinh ngày 16/7/1994.
Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn H, xã H, huyện T, tỉnh Hải Dương.
Hiện đang ở: Nhật Bản.
3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
3.1. Bà Hà Thị T1, sinh năm 1963.
Địa chỉ : Thôn H, xã H, huyện T, tỉnh Hải Dương.
3.2. Chị Tấn Thị T2, sinh năm 1992.
Địa chỉ: Thôn H, xã H, huyện T, tỉnh Hải Dương.
( Anh Đ, chị T, bà T1, chị T2 đều có quan điểm đề nghị giải quyết vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai - Nguyên đơn anh Bùi Văn Đ trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Tấn Thị T tự do tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Hải Dương ngày 18/11/2013. Sau ngày cưới vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2019 thì xảy ra mâu thuẫn. Để phát triển kinh tế tháng 11/2019 anh và chị T đều sang Nhật Bản lao động nhưng mỗi người ở một nơi, không quan tâm đến nhau, vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay. Tháng 4/2024 anh về Việt Nam, anh có trao đổi với chị T về việc ly hôn, chị T cũng đồng ý. Tuy nhiên, chị T không gửi văn bản giấy tờ về mà để anh làm thủ tục ly hôn đơn phương. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị T.
Về quan hệ con chung: Anh và chị T có 02 con chung là Bùi Trung H, sinh ngày 12/9/2014 và Bùi Diệu L, sinh ngày 01/8/2016. Trong thời gian anh và chị T đi nước ngoài, hai con ở với bà nội là Hà Thị T1. Ly hôn anh và chị T thỏa thuận anh nuôi cháu H, chị T nuôi cháu L. Hai bên không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho nhau. Trường hợp chị T đồng ý để anh nuôi hai con anh cũng nhất trí và yêu cầu chị T cấp dưỡng tiền nuôi con theo quy định của pháp luật. Do công việc anh phải tiếp tục sang Nhật Bản lao động, không có mặt ở Việt Nam nên anh ủy quyền cho mẹ đẻ là bà Hà Thị T1 nuôi dưỡng, chăm sóc các con .
Về tài sản chung, nợ chung: Anh và chị T không có, ly hôn anh không đề nghị Tòa án giải quyết.
- Chị Tấn Thị T hiện nay đang lao động tại Nhật Bản, do anh Đ không cung cấp được địa chỉ cụ thể của chị T, nên Tòa án đã xác minh địa chỉ của chị T qua gia đình. Chị Tấn Thị T2 là chị gái chị T xác định, chị T và anh Đ đều lao động ở Nhật Bản. Địa chỉ của chị T ở nước ngoài chị không biết, nhưng chị T vẫn thường xuyên liên lạc về gia đình. Chị T2 đồng ý nhận các văn bản tố tụng của Tòa án và có trách nhiệm thông báo cho chị T biết. Thông qua gia đình cũng như tại buổi làm việc với Tòa án, chị T đã trực tiếp gọi điện thoại về và thể hiện quan điểm: Vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn, hai bên không còn tình cảm với nhau, mặc dù chị và anh Đ đều ở Nhật Bản, nhưng vợ chồng không gặp mặt và không liên lạc với nhau. Nay anh Đ có đơn ly hôn, chị đồng ý. Về con chung chị xác định vợ chồng có hai con chung là Bùi Trung H, sinh ngày 12/9/2014 và cháu Bùi Diệu L, sinh ngày 01/8/2016. Hiện nay các con đang ở với bà nội. Ly hôn chị và anh Đ thỏa thuận, chị nuôi cháu L, anh Đ nuôi cháu H. Hai bên không phải cấp dưỡng tiền nuôi con cho nhau. Về tài sản chung, nợ chung chị và anh Đ không có. Do điều kiện chị chưa về được Việt Nam, nên chị đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt và ủy quyền cho chị gái là Tấn Thị T2 thay chị chăm sóc, nuôi dưỡng cháu L, đồng thời ủy quyền cho chị T2 thay chị nhận các văn bản tố tụng của Tòa án. Chị T2 đồng ý nhận ủy quyền của chị T và đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Hà Thị T1 trình bày: Bà là mẹ đẻ của anh Đ. Trong thời gian anh Đ, chị T ở nước ngoài, bà là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu H và cháu L. Nếu Tòa án giao hai con cho anh Đ nuôi dưỡng, bà đồng ý nhận ủy quyền của anh Đ chăm sóc cháu H và cháu L trong thời gian anh Đ không có mặt ở Việt Nam.
- Cháu Bùi Trung H và cháu Bùi Diệu L đều có quan điểm được ở với bố và bà nội khi bố mẹ ly hôn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương phát biểu quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, thư ký, Hội đồng xét xử và nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ cho thấy mâu thuẫn giữa anh Đ và chị T đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện, xử cho anh Đ được ly hôn chị T. Về con chung: Giao con chung Bùi Trung H, sinh ngày 12/9/2014 cho anh Bùi Văn Đ chăm sóc, nuôi dưỡng. Giao cháu Bùi Diệu L, sinh ngày 01/8/2016 cho chị Tấn Thị T chăm sóc, nuôi dưỡng. Trong thời gian chị T, anh Đ không ở Việt Nam. Tạm giao cháu H cho bà Hà Thị T1 chăm sóc, nuôi dưỡng, giao cháu L cho chị Tấn Thị T2 chăm sóc, nuôi dưỡng. Hai bên không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho nhau. Về án phí: Anh Đ phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và xem xét ý kiến của các đương sự, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương, Hội đồng xét xử nhận định:
[1].Về tố tụng: Anh Bùi Văn Đ và chị Tấn Thị T đều có hộ khẩu thường trú tại: Thôn H, xã H, huyện T, tỉnh Hải Dương. Hiện anh Đ, chị T đang lao động tại Nhật Bản. Do vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương. Quá trình giải quyết vụ án, anh Đ không cung cấp được địa chỉ của chị T tại Nhật Bản. Theo quy định tại Điều 10 Nghị Quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án đã nhiều lần yêu cầu gia đình chị T cung cấp địa chỉ, nhưng gia đình không cung cấp được. Qua xác minh tại gia đình chị T được biết, chị T thường xuyên liên lạc với chị gái là Tấn Thị T2. Chị T2 đồng ý nhận các văn bản tố tụng của Tòa án và đã thông báo cho chị T biết. Chị T cũng đã trực tiếp gọi điện về trình bày quan điểm của mình về việc ly hôn và nuôi con, đồng thời ủy quyền cho chị Tấn Thị T2 chăm sóc nuôi dưỡng cháu L trong thời gian chị không ở Việt Nam. Sau khi nộp đơn ly hôn, anh Đ tiếp tục sang Nhật Bản lao động và ủy quyền cho mẹ đẻ chăm sóc cháu H. Do vậy Tòa án xác định chị Tấn Thị T2 và bà Hà Thị T1 là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
Anh Đ, chị T, bà T1, chị T2 đều có quan điểm đề nghị giải quyết vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[2]. Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Anh Bùi Văn Đ và chị Tấn Thị T kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Hải Dương ngày 18/11/2013, do vậy hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Sau ngày cưới vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2019 thì xảy ra mâu thuẫn. Anh Đ, chị T đều lao động ở Nhật Bản nhưng mỗi người sống một nơi, hai bên không quan tâm, liên lạc dẫn đến vợ chồng bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung. Nay anh Đ xác định tình cảm vợ chồng không còn và có đơn xin ly hôn chị T. Quá trình giải quyết vụ án, chị T cũng có quan điểm xác định không còn tình cảm với anh Đ, nay anh Đ có đơn ly hôn chị cũng đồng ý. Do vậy có cơ sở xác định mâu thuẫn giữa anh Đ và chị T đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Đ.
Về quan hệ con chung: Anh Bùi Văn Đ và chị Tấn Thị T có hai con chung Bùi Trung H, sinh ngày 12/9/2014 và cháu Bùi Diệu L, sinh ngày 01/8/2016. Ly hôn anh Đ, chị T thỏa thuận anh Đ nuôi cháu H, chị T nuôi cháu L. Xét thấy, chị T và anh Đ đang lao động ở nước ngoài, điều kiện nuôi con của hai bên như nhau. Vì vậy, cần chấp nhận sự thỏa thuận của các bên, giao cháu H cho anh Đ chăm sóc, nuôi dưỡng; giao cháu L cho chị T chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp. Trong thời gian anh Đ, chị T ở nước ngoài, tạm giao cháu H cho bà Hà Thị T1 chăm sóc, nuôi dưỡng, giao cháu L cho chị Tấn Thị T2 chăm sóc, nuôi dưỡng. Hai bên không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho nhau.
Về tài sản chung, nợ chung: Anh Bùi Văn Đ và chị Tấn Thị T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3].Về án phí: Anh Bùi Văn Đ phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì những lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án. Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Bùi Văn Đ được ly hôn chị Tấn Thị T.
2. Về quan hệ con chung: Giao con Bùi Trung H, sinh ngày 12/9/2014 cho anh Bùi Văn Đ chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con tròn 18 tuổi; giao con Bùi Diệu L, sinh ngày 01/8/2016 cho chị Tấn Thị T chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con tròn 18 tuổi. Anh Đ, chị T không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho nhau.
Chị Tấn Thị T và anh Bùi Văn Đ được quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở.
Trong thời gian chị T, anh Đ không ở Việt Nam, tạm giao cháu H cho bà Hà Thị T1 chăm sóc, nuôi dưỡng; tạm giao cháu L cho chị Tấn Thị T2 chăm sóc, nuôi dưỡng.
3. Về án phí: Anh Bùi Văn Đ phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được đối trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0000649 ngày 24 tháng 4 năm 2024 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương. Anh Đ đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Anh Bùi Văn Đ và chị Tấn Thị T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Bà Hà Thị T1, chị Tấn Thị T2 được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thu Hiền |
Bản án số 261/2024/HNGĐ-ST ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 261/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện
