TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 261/2023/HS-ST Ngày 28-8-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Liễng
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Tô Văn Nhung.
- Ông Nguyễn Văn Hoàn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tố Anh, là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hoa - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 8 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 286/2023/TLST-HS ngày 10 tháng 8 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 399/2023/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Trọng P, sinh năm 2002 tại tỉnh Bình Dương; thường trú: Tổ E, khu phố P, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: Lớp 9/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; cha (không rõ) và mẹ tên Nguyễn Duy T, sinh năm 1979; bị cáo chưa có vợ, con; có 01 em ruột sinh năm 2009; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 26/8/2022 bị Công an phường T, thị xã T, tỉnh Bình Dương xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, đóng phạt ngày 09/9/2022; nhân thân: Ngày 24/9/2019, bị Công an phường T, thị xã T, tỉnh Bình Dương xử phạt 375.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, đóng phạt ngày 17/11/2020; bị tạm giữ, tạm giam ngày 25/4/2023, có mặt tại phiên tòa.
Người tham gia tố tụng khác:
Người làm chứng: Nguyễn Mai Thảo U, sinh năm 2002. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ 00 phút ngày 25/04/2023, Nguyễn Trọng P đang ở phòng trọ số A thuộc nhà trọ số A khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương cùng với bạn gái là Nguyễn Mai Thảo U. Sau đó, một người bạn tên L (không rõ nhân thân) đến và hỏi P về việc mua ma túy. Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên P đã mua của L 200.000 đồng ma túy đá. Sau khi bán ma túy cho P thì L đi về. Sau đó, P cất túi ma túy đá vào túi quần Jean phía sau, bên phải của P đang mặc. Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 25/04/2023, Công an phường T tổ chức tuần tra phòng chống tội phạm trên địa bàn phường. Khi đến nhà trọ số A, khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương, phát hiện bên trong phòng trọ số 10 có nhiều đối tượng biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra hành chính. Lúc này, trong phòng trọ có P và U. Khi lực lượng Công an đang kiểm tra thì P đưa tay vào trong túi quần lấy 01 túi nylon miệng kéo dính chứa tinh thể màu trắng bỏ vào ấm nấu nước siêu tốc nhưng bị rơi xuống nền nhà và bị lực lượng Công an phát hiện. P khai nhận túi nylon miệng kéo dính chứa tinh thể màu trắng là ma túy đá, P mua mục đích để sử dụng nhưng chưa sử dụng thì bị Cơ quan Công an kiểm tra phát hiện.
Đối với Nguyễn Mai Thảo U không biết P mua ma túy và cất giấu để sử dụng, cũng không liên quan gì đến hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của P, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D không xử lý.
Đối với đối tượng tên L không rõ nhân thân đã bán ma túy cho P sẽ tiến hành điều tra xác minh, xử lý sau:
* Kết luận giám định số 228/KL-KTS(MT) ngày 01/05/2023 của phòng K Công an tỉnh B, kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng: 0,1265 gam.
Quá trình tố tụng, bị cáo không có ý kiến gì về kết luận giám định số 228/KL-KTS(MT) ngày 01/05/2023 của phòng K Công an tỉnh B.
* Vật chứng thu giữ:
- - 01 (một) túi nylon miệng kéo dính chứa tinh thể màu trắng, là ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng 0,0551 gam là mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong trong bì thư ghi số 228/PC09.
* Xử lý vật chứng:
- - Đối với 01 (một) túi nylon miệng kéo dính chứa tinh thể màu trắng, là ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng 0,0551 gam là mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong trong bì thư ghi số 228/PC09, cần tịch thu, tiêu hủy.
Tại bản Cáo trạng số 281/CT-VKS-DS ngày 08/8/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Nguyễn Trọng P về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.
Xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 0,0551 gam ma túy loại Methamphetamine là mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong trong bì thư ghi số 228/PC09.
Tại phiên tòa, bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, trong lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình tố tụng, bị cáo và người tham gia tố tụng không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Căn cứ vào lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa, lời khai của người tham gia tố tụng, biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, có đủ cơ sở xác định: Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 25/04/2023, Công an phường T kiểm tra phòng trọ số A, nhà trọ số A, khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương phát hiện Nguyễn Trọng P có hành vi tàng trữ 01 túi nylon miệng kéo dính chứa tinh thể màu trắng là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,1265gam để sử dụng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Do đó, Cáo trạng số 281/CT-VKS-DS ngày 08 tháng 8 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An và luận tội của Kiểm sát viên truy tố đối với bị cáo là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện là nghiêm trọng đã xâm phạm vào sự quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma tuý, gây tác hại cho xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người đã thành niên nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng để thỏa mãn cơn nghiện đã cố ý thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với hình phạt tù tương xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo.
[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.
[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo được xem xét khi quyết định hình phạt: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử áp dụng để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
[6] Về nhân thân: Bị cáo là người, nghiện ma túy, có 01 tiền sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy chưa được xóa.
[7] Xử lý vật chứng:
Xét 01 bì thư được niêm phong, kí hiệu 228/PC09 bên trong chứa 0,0551gam ma túy loại Methamphetamine mẫu vật hoàn lại sau giám định là vật cấm lưu thông cần tịch thu tiêu hủy.
[8] Đối với Nguyễn Mai Thảo U không biết Nguyễn Trọng P mua ma túy và cất giấu để sử dụng, cũng không liên quan gì đến hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của P, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D không xử lý là có căn cứ.
Đối với L chưa rõ nhân thân đã bán ma túy cho Nguyễn Trọng P, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố D tiếp tục điều tra xác minh, xử lý sau.
[9] Hình phạt chính: Xét bị cáo phạm tội nghiêm trọng, bị nghiện ma túy nên cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ sức giáo dục bị cáo thành người có ích cho gia đình, xã hội và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.
[10] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đ đến dưới 500.000.000đ, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu 01 phần hoặc toàn bộ tài sản. Hội đồng xét xử xét thấy, mức hình phạt tù đối với bị cáo cũng đủ sức giáo dục, cải tạo, đồng thời bị cáo là người nghiện, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[11] Mức hình phạt, xử lý vật chứng như Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp nên chấp nhận.
[12] Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trọng P phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng P 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/4/2023.
2. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 01 bì thư được niêm phong, kí hiệu 228/PC09 bên trong chứa 0,0551gam ma túy loại Methamphetamine.
(Biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/8/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương).
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Trọng P phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Liễng |
Bản án số 261/2023/HS-ST ngày 28/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tàng trữ trái phép chất ma túy (criminal case)
- Số bản án: 261/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Criminal Case)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/08/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Trọng P phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy
