TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 261/2023/HNGĐ-ST
Ngày 26-12-2023
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Hoàng Đắc Hân
Ông Trần Đình Điệu
Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thị Hà - Thư ký Tòa án nhân dân huyện N, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện N, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 301/2023/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 10 năm 2023 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 234/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 11 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 194/2023/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 12 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị T, sinh năm 1991; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn Đ, xã K, huyện N, thành phố Hải Phòng; chỗ ở hiện nay: Thôn 7, xã L, huyện N, thành phố Hải Phòng; có mặt.
- Bị đơn: Anh D, sinh năm 1984; nơi cư trú: Thôn Đ, xã K, huyện N, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 20 tháng 9 năm 2023, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà nguyên đơn là chị T trình bày:
Chị kết hôn với anh D trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện N, thành phố Hải Phòng vào ngày 10 tháng 5 năm 2010. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau tại thôn Đ, xã K, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng. Quá trình vợ chồng chung sống hoà thuận đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình vợ chồng không hoà hợp, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không tôn trọng nhau nên vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn cãi nhau. Mâu thuẫn vợ chồng giữa chị T và anh D đã được gia đình hoà giải nhưng tình cảm vợ chồng vẫn không cải thiện. Vợ chồng đã sống ly thân nhau từ tháng 9 năm 2023 đến nay. Nay chị T khẳng định tình cảm vợ chồng giữa chị và anh D không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh D.
Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung tên Nsinh ngày 18 tháng 6 năm 2011, Hsinh ngày 20 tháng 3 năm 2017 và Psinh ngày 06 tháng 11 năm 2020. Khi ly hôn chị T yêu cầu Toà án giải quyết giao 02 con chung tên N sinh ngày 18 tháng 6 năm 2011 và H sinh ngày 20 tháng 3 năm 2017 cho anh D trực tiếp nuôi dưỡng, còn giao con chung tên P sinh ngày 06 tháng 11 năm 2020 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung để vợ chồng tự thoả thuận không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về tài sản chung: Vợ chồng không có tài sản chung nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
Bị đơn là anh D đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, giấy triệu tập, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Tòa án đã triệu tập hợp lệ lần thứ hai để anh D có mặt tại phiên tòa nhưng anh D vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do, không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là chị T.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và ý kiến về việc giải quyết vụ án. Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn là chị T trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn là anh D không tuân thủ quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, Điều 228, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là chị T. Về hôn nhân: Cho chị T được ly hôn anh D. Về con chung: Giao 02 con chung tên Nsinh ngày 18 tháng 6 năm 2011 và Hsinh ngày 20 tháng 3 năm 2017 cho anh D trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi theo quy định của pháp luật; giao con chung tên Psinh ngày 06 tháng 11 năm 2020 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi theo quy định của pháp luật. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết. Về án phí: Chị T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được xem xét tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Bị đơn là anh D có nơi cư trú tại thôn Đ, xã K, huyện N, thành phố Hải Phòng, Toà án đã tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, giấy triệu tập để anh D có mặt tại Toà án trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là chị T nhưng anh D vắng mặt không có lý do. Tài liệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện anh D có đăng ký hộ khẩu thường trú và vẫn đang thường xuyên sinh sống tại thôn Đ, xã K, huyện N, thành phố Hải Phòng. Toà án đã triệu tập hợp lệ lần thứ hai để anh D có mặt tại phiên toà trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là chị T nhưng anh D vắng mặt tại phiên toà không có lý do. Vì vậy căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là anh D.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Xét quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh D kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện N, thành phố Hải Phòng vào ngày 10 tháng 5 năm 2010 là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng chị T và anh D chung sống với nhau tại thôn Đ, xã K, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng. Quá trình vợ chồng chị T và anh D chung sống hòa thuận hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn chị T trình bày do tính tình vợ chồng không hòa hợp, vợ chồng bất đồng quan điểm sống và do vợ chồng không tôn trọng nhau nên vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn cãi nhau. Nay chị T khẳng định tình cảm vợ chồng giữa chị và anh D không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh D. Bị đơn là anh D đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải lần thứ hai nhưng anh D vẫn vắng mặt không có lý do nên Tòa án không tiến hành hòa giải được. Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để anh D có mặt tại phiên toà trình bày ý kiến đối với yêu cầu xin ly hôn của chị T nhưng anh D vắng mặt tại phiên tòa không có lý do, không có ý kiến đối với yêu cầu xin ly hôn của chị T. Tài liệu xác minh có trong hồ sơ vụ án thể hiện quá trình vợ chồng chị T và anh D chung sống hòa thuận đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống và do vợ chồng không tin tưởng nhau về mặt tình cảm. Mâu thuẫn vợ chồng giữa chị T và anh D đã được gia đình hoà giải nhưng không thành. Vợ chồng chị T và anh D đã sống ly thân nhau từ tháng 9 năm 2023 đến nay. Như vậy thể hiện hôn nhân giữa chị T và anh D đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Mặt khác anh D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai đến phiên hòa giải và phiên tòa nhưng anh D vẫn vắng mặt không có lý do, không có ý kiến đối với yêu cầu xin ly hôn của chị T. Vì vậy căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị T về việc xin ly hôn anh D, cho chị T được ly hôn anh D.
[3] Về con chung: Chị T và anh D có 03 con chung tên Nsinh ngày 18 tháng 6 năm 2011, Hsinh ngày 20 tháng 3 năm 2017 và Psinh ngày 06 tháng 11 năm 2020. Khi ly hôn chị T yêu cầu Toà án giải quyết giao 02 con chung tên N sinh ngày 18 tháng 6 năm 2011 và H sinh ngày 20 tháng 3 năm 2017 cho anh D trực tiếp nuôi dưỡng, còn giao con chung tên P sinh ngày 06 tháng 11 năm 2020 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Anh D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai đến phiên tòa nhưng anh D vẫn vắng mặt không có lý do, không có ý kiến đối với yêu cầu nuôi con chung của chị T. Tuy nhiên việc giao con chung cho ai trực tiếp nuôi dưỡng thì cần xem xét để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chưa thành niên. Xét hiện nay anh D đang trực tiếp nuôi 03 con chung nhưng 02 con chung tên Nvà Hcó nguyện vọng được ở cùng với bố là anh D, còn con chung tên Pcòn nhỏ cần sự chăm sóc của người mẹ. Vì vậy căn cứ các điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của chị T, giao 02 con chung tên N sinh ngày 18 tháng 6 năm 2011 và H sinh ngày 20 tháng 3 năm 2017 cho anh D trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi theo quy định của pháp luật, giao con chung tên P sinh ngày 06 tháng 11 năm 2020 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi theo quy định của pháp luật. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
[4] Về tài sản chung: Chị T trình bày vợ chồng không có tài sản chung, anh D không có ý kiến về tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[5] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
- Cho chị T được ly hôn anh D.
Về con chung: Giao con chung tên P sinh ngày 06 tháng 11 năm 2020 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi theo quy định của pháp luật. Giao 02 con chung tên N sinh ngày 18 tháng 6 năm 2011 và H sinh ngày 20 tháng 3 năm 2017 cho anh D trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi theo quy định của pháp luật.
Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008732 ngày 16 tháng 10 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện N, thành phố Hải Phòng, chị T đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Hiền |
Bản án số 261/2023/HNGĐ-ST ngày 26/12/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 261/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/12/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án hôn nhân và gia đình
