Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 261/2024/DS-ST

Ngày: 25-7-2024

V/v tranh chấp Hợp đồng dịch vụ.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Viết Bình.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Như Thủy;
  2. Ông Huỳnh Công Nhân.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Chính Việt Phương là Thư ký Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Không tham gia.

Trong các ngày 22 và 25 tháng 7 năm 2024 tại Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 396/2023/TLST-DS ngày 06 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng dịch vụ” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 209/2024/QĐXXST-DS ngày 28 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 160/2024/QĐST-DS ngày 21 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Công ty Cổ phần D. Địa chỉ: Sân bay Quốc tế T, Phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo ủy quyền: ông Nguyễn Văn H và ông Phan Huy T. (Có mặt.)

Bị đơn: Ông Nguyễn Mậu Á. Địa chỉ: Số A đường H, Khu phố B, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có đơn xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn tại đơn khởi kiện, tại bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án trình bày:

Ngày 08/3/2021, Công ty Cổ phần D và ông Nguyễn Mậu Á ký Hợp đồng lao động số 05952/1/2021/ SASCO -HĐLĐ có thời hạn từ ngày 08/3/2021 đến ngày 07/3/2022 (“Hợp đồng lao động”). Theo hợp đồng này, ông Á làm việc cho Công ty Cổ phần D với chức vụ Phó Giám đốc Chi nhánh L, phụ trách phát triển hệ thống phân phối sản phẩm.

2

Ngày 22/3/2021, ông Á, với tư cách Phó Giám đốc Chi nhánh L, đã ký Tờ trình số 10TT/ SASCO-CNLA gửi Công ty Cổ phần D về đề xuất chi phí đưa sản phẩm Nước mắm Phú Nhĩ (“Sản phẩm”) của Công ty Cổ phần D được phân phối tại 06 hệ thống siêu thị và chi phí tạm ứng, cụ thể như sau:

TT Hệ thống siêu thị Chi phí (đồng)
Co.op Mart 100.000.000
Aeon Mall 60.000.000
Satra 80.000.000
Vinmart 150.000.000
Lotte Mart 80.000.000
Bách Hóa Xanh 60.000.000
Tổng cộng 530.000.000
Chi phí tạm ứng 295.000.000

Thời gian thực hiện là 60 ngày.

Ngày 26/3/2021, Công ty Cổ phần D đã phê duyệt tờ trình nêu trên và đồng ý triển khai công việc theo đề xuất của ông Á.

Ngày 15/7/2021, ông Á ký Giấy đề nghị tạm ứng số tiền 295.000.000 đồng để thực hiện công việc đưa Sản phẩm vào phân phối tại 06 hệ thống siêu thị.

Ngày 08/10/2021, ông Á nhận tạm ứng số tiền 295.000.000 đồng từ Công ty Cổ phần D theo Phiếu chi tiền có chữ ký xác nhận của ông Á.

Tuy nhiên, cho đến tháng 01/2022, ông Á vẫn chưa hoàn thành việc đưa Sản phẩm vào các hệ thống siêu thị.

Vào ngày 21/01/2022, Công ty Cổ phần D đã gửi cho ông Á Thông báo số 66/SASCO về việc chấm dứt hợp đồng lao động kể từ ngày 07/3/2022 do hết hạn hợp đồng.

Tại buổi làm việc ngày 24/01/2022 giữa Công ty Cổ phần D và ông Á về việc giải quyết công việc khi chấm dứt Hợp đồng lao động, ông Á đề xuất sau khi chấm dứt Hợp đồng lao động với Công ty Cổ phần D thì hai bên ký hợp đồng dịch vụ để ông Á tiếp tục thực hiện công việc đưa Sản phẩm của Công ty Cổ phần D vào hệ thống các siêu thị.

3

Nội dung đề xuất của ông Á được ghi nhận tại Biên bản số 26BB/SASCO -TCNS ngày 24/01/2022 ký bởi đại diện của Công ty Cổ phần D và ông Á như sau:

“Tôi đề xuất sau khi chấm dứt Hợp đồng lao động giữa SASCO và tôi, hai bên sẽ ký hợp đồng dịch vụ đưa hàng vào siêu thị để tôi tiếp tục thực hiện công việc đang triển khai và các cam kết như đã báo cáo Anh C – Phó Tổng Giám đốc và Chị T1 – Kế toán trưởng, Trưởng Phòng Tài chính Kế toán Công ty.”

“Tôi đã có email cam kết với Anh C - Phó Tổng Giám đốc và Chị T1 – Kế toán trưởng, Trưởng Phòng Tài chính Kế toán Công ty về việc cam kết đến tháng 04/2022 sẽ đưa các sản phẩm nước mắm của SASCO vào hệ thống 04 siêu thị (theo kế hoạch là hệ thống 6 siêu thị). Nếu hết tháng 04/2022, tôi không hoàn thành công việc thì tôi sẽ hoàn trả tiền tạm ứng cho SASCO.”

“Khoản tiền 295.000.000 tôi đã tạm ứng, quá trình đàm phán đưa hàng vào hệ thống siêu thị cũng đã được sử dụng. Do đó, đến thời hạn cam kết hoặc hoàn tất đưa hàng vào hệ thống 6 siêu thị (tùy điều kiện nào đến trước), tôi sẽ quyết toán lại với Công ty”.

Công ty Cổ phần D đã chấp nhận xác lập hợp đồng dịch vụ với các nội dung theo đề xuất nêu trên của ông Á bằng việc tiếp tục để ông Á thay mặt Công ty Cổ phần D đàm phán với các đối tác siêu thị mà chưa yêu cầu quyết toán khoản tiền ông Á đã nhận tạm ứng tại thời điểm chấm dứt Hợp đồng lao động. Trên thực tế, ông Á cũng đã tiếp tục thực hiện các công việc theo đề xuất của mình và được hai bên thống nhất.

Hợp đồng dịch vụ được xác lập giữa Nguyên đơn và Bị đơn

Căn cứ theo Biên bản số 26BB/SASCO -TCNS ngày 24/01/2022 giữa Công ty Cổ phần D và ông Á cùng với quá trình thực hiện hợp đồng trong năm 2022, có thể xác định nội dung hợp đồng dịch vụ được xác lập giữa Công ty Cổ phần D và ông Á như sau:

Các bên hợp đồng: Công ty Cổ phần D (bên sử dụng dịch vụ) và ông Á (bên cung ứng dịch vụ).

Nội dung hợp đồng: Ông Á cung cấp cho Công ty Cổ phần D dịch vụ tư vấn, đàm phán đưa Sản phẩm của Công ty Cổ phần D vào phân phối tại 06 hệ thống siêu thị, bao gồm Co.op Mart, Aeon M, S, V, Lotte M1 và Bách Hóa X.

Ngày hiệu lực của hợp đồng: ngày 08/3/2022 (sau khi Hợp đồng lao động chấm dứt vào ngày 07/3/2022).

Phí dịch vụ của ông Á: 530.000.000 đồng, bằng với chi phí mà ông Á đã đề xuất với Công ty Cổ phần D trong giai đoạn thực hiện Hợp đồng lao động. Trong đó, ông Á đã nhận số tiền tạm ứng 295.000.000 đồng từ Công ty Cổ phần D.

4

Các nghĩa vụ chính của ông Á bao gồm:

Tư vấn, đàm phán đưa Sản phẩm vào phân phối tại 06 hệ thống siêu thị;

Phải hoàn tất việc đưa Sản phẩm vào phân phối tại 04 hệ thống siêu thị C2, A, S, V trong tháng 4/2022. Nếu vi phạm nghĩa vụ này thì ông Á phải hoàn trả lại cho Công ty Cổ phần D số tiền đã nhận tạm ứng.

Nghĩa vụ chính của Công ty Cổ phần D là trả phí dịch vụ cho ông Á.

Điều 513 Luật số 91/2015/QH13 về dân sự được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 24/11/2015 (“Bộ luật Dân sự năm 2015”) quy định:“Hợp đồng dịch vụ là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cung ứng dịch vụ thực hiện công việc cho bên sử dụng dịch vụ, bên sử dụng dịch vụ phải trả tiền dịch vụ cho bên cung ứng dịch vụ.”

Theo quy định nêu trên, thỏa thuận về việc ông Á cung ứng dịch vụ cho Công ty Cổ phần D và được Công ty Cổ phần D trả tiền được coi là một hợp đồng dịch vụ.

Bên cạnh đó, các quy định của pháp luật không yêu cầu hợp đồng trong trường hợp của Công ty Cổ phần D và ông Á bắt buộc phải lập thành văn bản.

Do đó, giữa Nguyên đơn và Bị đơn đã hình thành một hợp đồng dịch vụ với các nội dung chính nêu ở trên (sau đây gọi là “Hợp đồng dịch vụ”).

Quá trình thực hiện Hợp đồng dịch vụ của Bị đơn

Kết quả thực hiện công việc của ông Á tính đến tháng 8/2022 như sau:

TT Hệ thống siêu thị Giá trị hợp đồng tư vấn (đồng) Thời hạn thực hiện Kết quả công việc
Co.op Mart 100.000.000 Tháng 4/2022 Đối tác đã ký hợp đồng với Công ty Cổ phần Dịch vụ hàng không sân bay Tân Sơn Nhất vào ngày 01/4/2022
Satra 80.000.000 Tháng 4/2022 Đối tác đã ký hợp đồng với Công ty Cổ phần Dịch vụ hàng không sân bay Tân Sơn Nhất vào ngày 06/6/2022
Aeon Mall 60.000.000 Tháng 4/2022 Đang thực hiện
Vinmart 150.000.000 Tháng 4/2022 Đang thực hiện
Lotte Mart 80.000.000 Không có Chưa thực hiện
Bách Hóa Xanh 60.000.000 Không có Chưa thực hiện
Tổng cộng 530.000.000

5

Ngày 24/8/2022, Công ty Cổ phần D gửi Công văn số 656/ SASCO xác nhận ông Á đã hoàn thành nghĩa vụ đưa hàng vào siêu thị đối với 02 hệ thống siêu thị Co.op Mart và S nhưng chưa hoàn thành nghĩa vụ đối với hệ thống siêu thị A1 và V. Tại Công văn số 656, Công ty Cổ phần D đề nghị ông Á hoàn trả số tiền đã nhận tạm ứng sau khi cấn trừ chi phí đưa hàng vào siêu thị đối với 02 hệ thống siêu thị Co.op Mart và S.

Ngày 12/9/2022, đại diện của Công ty Cổ phần D và ông Á đã ký Biên bản số 431BB/ SASCO -TCNS để ghi nhận việc gia hạn thời hạn hoàn thành công việc đối với hệ thống siêu thị A1 và Vinmart như sau:

Hệ thống Aeon Mall: ngày 16/9/2022.

Hệ thống Vinmart: ngày 31/10/2022.

Thỏa thuận nêu trên được hiểu là việc gia hạn thời hạn thực hiện công việc cho cho ông Á. Nếu ông Á không hoàn thành công việc trong thời hạn gia hạn thì ông Á có nghĩa vụ hoàn trả số tiền 115.000.000 đồng đã nhận tạm ứng từ Công ty Cổ phần D.

Mặc dù được Công ty Cổ phần D đồng ý gia hạn việc đưa Sản phẩm vào hệ thống siêu thị nhưng khi kết thúc thời hạn gia hạn vào ngày 16/9/2022 với hệ thống siêu thị A1 và ngày 31/10/2022 với hệ thống siêu thị V1, ông Á tiếp tục không hoàn thành công việc theo thỏa thuận với Công ty Cổ phần D.

Do ông Á không hoàn thành công việc trong thời hạn gia hạn, nên theo thỏa thuận của Hợp đồng dịch vụ ông Á có nghĩa vụ hoàn trả số tiền đã nhận tạm ứng là 115.000.000 đồng cho Công ty Cổ phần D.

Ngày 14/12/2022, Công ty Cổ phần D gửi Công văn số 994/ SASCO đề nghị ông Á tham gia buổi làm việc vào ngày 19/12/2022 với Công ty Cổ phần D để giải quyết số tiền ông Á đã nhận tạm ứng từ Công ty Cổ phần D. Tuy nhiên, ông Á không tham gia buổi làm việc và không có bất kỳ phản hồi nào với Công ty Cổ phần D.

Ngày 15/12/2022, Công ty Cổ phần D gửi Công văn số 84/ SASCO-TCKT cho ông Á đề nghị ông Á hoàn trả số tiền tạm ứng cho Công ty Cổ phần D trước ngày 20/12/2022. Tuy nhiên, tính đến ngày nộp Đơn khởi kiện và đến ngày hôm nay, ông Nguyễn Mậu Á vẫn chưa hoàn trả số tiền đã nhận tạm ứng là 115.000.000 đồng cho Công ty Cổ phần D.

6

Như vậy, có căn cứ để xác định Bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ hoàn trả số tiền đã nhận tạm ứng là 115.000.000 đồng cho Nguyên đơn theo Hợp đồng dịch vụ giữa hai bên.

Ông Á đã vi phạm nghĩa vụ hoàn trả cho Công ty Cổ phần D số tiền 115.000.000 đồng kể từ ngày 21/12/2022. Do hai bên không có thỏa thuận về lãi suất do chậm trả tiền, căn cứ vào khoản 2 Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, lãi suất chậm trả tiền là 10%/năm.

Căn cứ theo các quy định nêu trên, Công ty Cổ phần D tạm tính tiền lãi chậm trả của ông Á kể từ ngày 21/12/2022 đến thời điểm Phiên tòa này, ngày 22/07/2024 là 18.242.466 đồng, chi tiết như sau:

Số tiền chậm trả: 115.000.000 đồng

Lãi suất chậm trả: 10%/năm

Ngày bắt đầu chậm trả: 21/12/2022

Thời điểm phiên tòa hôm nay: 22/07/2024

Thời gian chậm trả tạm tính: 579 ngày

Số tiền lãi chậm trả tạm tính: 115.000.000 (đồng) x 10% x (579/365) ngày = 18.242.466 (đồng)

Từ những trình bày về nội dung vụ việc bên trên, tại phiên tòa hôm nay, Nguyên đơn chúng tôi kính đề nghị Q tòa giải quyết vụ việc như sau:

Thứ nhất: Buộc Bị đơn hoàn trả lại số tiền 115.000.000 đồng đã tạm ứng,

T2 hai: Buộc Bị đơn phải trả tiền lãi chậm trả cho đến khi thanh toán hết số tiền chậm trả với lãi suất 10%/năm. Số tiền lãi tạm tính đến thời điểm phiên tòa hôm nay là 18.242.466 đồng.

Bị đơn, ông Nguyễn Mậu Á trình bày: Bị đơn trình bày:

Công ty Cổ phần D có tuyển tôi vào vị trí Phó Giám Đốc Chi nhánh Công Ty Cổ phần D Tại Long An.

Trong quá trình làm tôi có lên kế hoạch setup hệ thống kinh doanh Kênh MT và Kênh GT, Cụ thể để vào hệ thống MT các Chuỗi như Win M2, C1-op, S, A, BHX, Lote Mart cần phải đầu tư khoản chi phí dịch vụ để vào hàng. Tổng 590.000.000 đồng. số tiền sẽ được tạm ứng làm 02 lần Bên Công ty Cổ phần D cũng đã đồng ý.

Lần thứ nhất Bên Công Ty đã tạm ứng 50% số tiền 295.000.000 đồng, theo thỏa thuận tôi đã triển khai cho các đối tác tạm ứng số tiền theo lộ trình để triển khai công việc theo đúng tiến độ.

7

Tuy nhiên sau đó dịch covi xuất hiện nên ảnh hưởng rất nhiều đến tiến độ vào hàng, bên cạnh đó Công Ty Cổ phần D trong quá trình trước khi triển khai cũng đã không nêu rõ các tồn đọng các chuỗi mà tôi lên kế hoạch vào hàng dẫn đến C-op và S trước đây Công Ty Cổ phần D đã vào hàng và để lại nhiều tồn đọng hệ lụy không tốt cho 2 chuỗi trên dẫn đến các chi phí phát sinh nhiều, việc này trong mail và họp tôi cũng đã có nếu báo cáo.

Trong quá trình triển khai thực tế tôi cũng đã hoàn thiện 3 chuỗi bao gồm C1-op, S và A, tuy nhiên phía Công Ty Cổ phần D lại nêu có 02 chuỗi là sai sự thật.

Hiện nay tiền lương của tôi và công tác phí Công T3 cũng chưa giải quyết số tiền là 35.568.000 đồng.

Sau khi vào 03 chuỗi tôi đã phải chi thêm 50% còn lại theo thỏa thuận, đến này Công Ty Cổ phần D cũng chưa chi trả cho thôi, lấy lý do là phải có chứng từ chi và Hóa đơn mới chi và cấn trừ vào số tiền đã tạm ứng trong khi đó thực tế tiền tạm ứng đợt 1 tôi đã chi cho các chuỗi hết rồi.

Trong giai đoạn dịch bệnh bùng phát khó khăn chung của cả nước, tuy nhiên tôi đã triển khai thành công được 03 chuỗi, Tổng 3 chuỗi đã hoàn thành: 240.000.000 đồng; C1-op: 100.000.000 đồng; Satra: 80.000.000 đồng; A: 60.000.000 đồng.

Trong đơn khởi kiện có nhiều điểm bất cập, không đúng thực tế. Tổng số tiền theo kế hoạch duyệt là 590.000.000 đồng, tạm ứng 50% là 295.000.000 đồng, tuy nhiên đơn lại nêu 530.000.000 đồng mà tạm ứng 50% số tiền 295.000.000 là hoàn toàn không đúng.

Thực tế tôi đã vào 03 chuỗi nhưng lại nêu có 2 chuỗi là sai sự thật.

Tôi là Nhân viên chính thức của công ty có ký Hợp đồng lao động và đóng Bảo hiểm đầy đủ tôi làm theo chức năng nhiệm vụ được giao theo kế hoạch kinh doanh đã được phê duyệt, chứ tôi không ký bất cứ hợp đồng dịch vụ tư vấn nào cho Công Ty Cổ phần D. Sau khi cấn trừ tiền lương và công tác phí còn lại 26.000.000 đồng, Ông Nguyễn Mậu Á sẽ trả ½ là 13.000.000 đồng để kết thúc tranh chấp nói trên với Công Ty Cổ phần D.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Căn cứ vào đơn khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn là ông Nguyễn Mậu Á phải hoàn trả số tiền tạm ứng là 115.000.000 đồng đã tạm ứng và tiền lãi tạm tính 18.242.466 đồng. Nên đây là tranh chấp về giao dịch dân sự, hợp đồng dân sự là

8

loại tranh chấp được quy định tại Khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Bị đơn có địa chỉ tại Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 7 Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

[2] Về chứng cứ và nghĩa vụ chứng minh:

[2.1] Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn và bị đơn đều thừa nhận: Số tiền nguyên đơn đã tạm ứng cho bị đơn là 295.000.000 đồng; Do đó, có cơ sở xác định số tiền 295.000.000 đồng là số tiền nguyên đơn đã tạm ứng cho bị đơn. Đây là các tình tiết sự kiện không cần phải chứng minh.

[2.2] Để chứng minh cho yêu cầu của mình ngoài một số tài liệu là bản sao đã được chứng thực, đối chiếu bản chính, các đương sự còn cung cấp cho Tòa án bản sao các tài liệu có liên quan nhưng không có bản chính để đối chiếu, sao y. Tòa án đã thực hiện thủ tục thông báo thụ lý vụ án cho các đương sự biết nhưng không có đương sự nào yêu cầu Tòa án cho xem và không có đương sự nào phản đối các tài liệu này. Quá trình giải quyết vụ án các đương sự cũng đều thừa nhận nội dung vụ việc đúng như diễn tiến nêu tại phần trên và tại phiên tòa sơ thẩm Hội đồng xét xử đã phổ biến cho các đương sự về nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và quyền được yêu cầu Tòa án thu thập chứng cứ nhưng không có đương sự nào cung cấp thêm chứng cứ hoặc có yêu cầu đề nghị Tòa án triệu tập người làm chứng hoặc thu thập thêm chứng cứ. Theo quy định tại Khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định “Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”.

[2.3] Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vụ án trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra làm rõ tại phiên tòa và những tình tiết, sự kiện các bên đã đưa ra mà bên kia thừa nhận hoặc không phản đối.

[3] Bị đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[4] Về yêu cầu khởi kiện của đương sự: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn hoàn trả số tiền tạm ứng là 115.000.000 đồng và tiền lãi tạm tính 18.242.466 đồng.

[5] Xét, yêu cầu nguyên đơn buộc bị đơn phải hoàn trả đủ số tiền nguyên đơn đã tạm ứng là 115.000.000 đồng.

Ngày 22/3/2021, ông Nguyễn Mậu Á, với tư cách Phó Giám đốc Chi nhánh L, đã ký Tờ trình số 10TT/ SASCO-CNLA gửi Công ty Cổ phần D về đề xuất chi phí đưa sản phẩm Nước mắm Phú Nhĩ của Công ty Cổ phần D được phân phối tại 06 hệ thống siêu thị và chi phí tạm ứng, cụ thể như sau: Hệ thống siêu thị C2, A,

9

S, V, Lotte M1 và Bách Hóa X với tổng chi phí là 590.000.000 đồng trong đó Co.op Mart 100.000.000 đồng; Aeon Mall 60.000.000 đồng; Satra 80.000.000 đồng. Vinmart 150.000.000 đồng; Lotte Mart 80.000.000; Bách Hóa X 120.000.000 đồng.

Ngày 26/3/2021, Công ty Cổ phần D đã phê duyệt tờ trình nêu trên và đồng ý triển khai công việc theo đề xuất của ông Á.

Ngày 15/7/2021, ông Á ký Giấy đề nghị tạm ứng số tiền 295.000.000 đồng để thực hiện công việc đưa Sản phẩm vào phân phối tại 06 hệ thống siêu thị.

Trong quá trình thực hiện, nguyên đơn ghi nhận phía bị đơn chỉ mới đưa được sản phẩm nước mắm nhĩ vào 2 chuỗi siêu thị là Co.op và S.

Bị đơn cho rằng đã đưa được sản phẩm nước mắm nhĩ vào 3 chuỗi siêu thị là C1.op, S và A.

Tại phiên tòa sơ thẩm phía nguyên đơn xác nhận sản phẩm nước mắm nhĩ của Công ty Cổ phần D đã được đưa vào bán tại hệ thống siêu thị A2 và không xác định được ông Á hay là người nào đã đưa sản phẩm này vào hệ thống siêu thị A2.

Do đó, hội đồng xét xử chấp nhận ông Nguyễn Mậu Á đưa được sản phẩm sản phẩm nước mắm nhĩ của Công ty Cổ phần D vào bày bán tại các hệ thống siêu thị C3.op, S và A.

Như vậy theo thỏa thuận Công ty Cổ phần D phải thanh toán cho ông Nguyễn Mậu Á số tiền 240.000.000 đồng. Do ông Nguyễn Mậu Á đã tạm ứng số tiền 295.000.000 đồng nên ông Nguyễn Mậu Á phải trả hoàn trả lại cho Công ty Cổ phần D số tiền 55.000.000 đồng.

[6] Xét, Yêu cầu ông Nguyễn Mậu Á trả số tiền lãi 18.242.466 đồng.

Do các bên không thỏa thuận về tiền lãi và phạt vi phạm, nên yêu cầu tính lãi của Công ty Cổ phần D là không có cơ sở chấp nhận.

[7] Tại bản tự khai ông Nguyễn Mậu Á có nội dung yêu cầu xem xét cấn trừ số tiền lương và công tác phí Công ty Cổ phần D còn nợ là 35.568.000 đồng. Ông Nguyễn Mậu Á chỉ có yêu cầu trong bản tự khai, không nộp đơn yêu cầu phản tố và tài liệu chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình. Do đó, yêu cầu trên của ông Nguyễn Mậu Á Hội đồng xét xử không xem xét.

Dành cho ông ông Nguyễn Mậu Á quyền khởi kiện tranh chấp tiền lương và công tác phí với Công ty Cổ phần D bằng vụ án khác theo quy định của pháp luật

[8] Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với phần yêu cầu của nguyên đơn đối với bị đơn được Tòa án chấp nhận. Nguyên đơn chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với phần yêu cầu của nguyên đơn đối với bị đơn được không được Tòa án chấp nhận.

10

[9] Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 5; Khoản 1 Điều 6; Khoản 3 Điều 26; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39; Khoản 5 Điều 70; Khoản 1, Khoản 4 Điều 91; Khoản 2 Điều 92; Điều 147; Điều 227, Điều 228, Điều 244; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

Căn cứ các điều 513, 519 của Bộ luật dân sự 2015;

Căn cứ Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao;

Căn cứ Luật phí, lệ phí và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội;

Căn cứ vào Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014,

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần D: Buộc ông Nguyễn Mậu Á thanh toán cho Công ty Cổ phần D số tiền 55.000.000 đồng (Năm mươi lăm triệu đồng); Ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
  2. Bác yêu cầu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần D: Buộc ông Nguyễn Mậu Á thanh toán cho Công ty Cổ phần D số tiền 78.242.466 đồng. (Bảy mươi tám triệu hai trăm bốn mươi hai nghìn bốn trăm sáu mươi sáu đồng).
  3. Kể từ ngày Công ty Cổ phần D có đơn yêu cầu thi hành án, nếu chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán thì ông Nguyễn Mậu Á chịu thêm tiền lãi của số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại Khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015
  4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Mậu Á phải chịu 2.000.000 đồng án phí, Công ty Cổ phần D chịu 3.912.123 đồng được cấn trừ vào số tiền 3.090.822 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án ký hiệu AA/2023/0037261 ngày 06 tháng 10 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh. Công ty Cổ phần D còn phải nộp 821.301 đồng tiền án phí sơ thẩm.
  5. Quyền yêu cầu thi hành án, thời hiệu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 1, Điều 2 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự,

11

người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

5. Các bên đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ. ./.

Nơi nhận:

  • - TAND TpHCM;
  • - VKSND Q7;
  • - Chi cục THADS Q7;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu, hồ sơ (Thư ký Việt Phương)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Bùi Viết Bình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 261/2024/DS-ST ngày 25/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng dịch vụ

  • Số bản án: 261/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng dịch vụ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Công Ty S tranh chấp hợp đồng dịch vụ với ông A
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger