|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 261/2024/HS-ST
Ngày: 24 - 9 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Nhâm.
- Các Hội thẩm nhân dân:
- - Bà Nguyễn Thị Tuý Phượng
- - Ông Lê Văn Công
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Đình Giang, là Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 318/2024/TLST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 348/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
NVU, sinh năm 1993 tại Bình Dương; thường trú: Không rõ; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông NVC, sinh năm không rõ và bà NTH, sinh năm 1962 (đã chết); tiền án: Không; tiền sự: Ngày 09/9/2022, bị Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy Phước Bình đến ngày 01/12/2023 chấp hành xong;
Nhân thân:
- + Ngày 31/10/2013, bị Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo Bản án số 215/2013/HSST. Chấp hành án tại Trại giam Xuân Lộc - Bộ Công an đến ngày 22/9/2015 chấp hành xong.
- + Ngày 09/8/2016, bị Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo Bản án số 225/2016/HSST. Chấp hành án tại Trại giam An Phước - Tổng cục VIII - Bộ Công an đến ngày 23/7/2017 chấp hành xong.
bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 29/5/2024, bị cáo có đơn xét xử vắng mặt.
- Bị hại: LTBC, sinh năm 1998; thường trú: ấp Phú Hoà, xã Phú Mỹ, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang; tạm trú: 4/5A khu phố Hoà Lân 2, phường Thuận Giao, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.
- Người làm chứng: Trần Thị Hồng Thuỷ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
NVU không có tiền tiêu xài nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản để bán lấy tiền tiêu xài. Thực hiện ý định, khoảng 02 giờ 00 phút ngày 28/5/2024, U điều khiển xe đạp hiệu martin đi đến địa bàn phường Thuận Giao, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tìm tài sản để trộm cắp. Khi đi đến trước cơ sở trọ tại địa chỉ: 4/5A, khu phố Hòa Lân 2, phường Thuận Giao, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương thì Út nhìn thấy cổng ra vào cơ sở trọ không khóa nên Út bỏ xe đạp bên ngoài, đi bộ vào bên trong hành lang của dãy trọ thấy phòng trọ (không nhớ số) không khóa cửa và bên ngoài có dựng 01 xe mô tô, chưa có biển số, nhãn hiệu Honda, số loại Wave màu trắng của LTBC sinh năm: 1998, nơi thường trú: Ấp Phú Hòa, xã Phú Mỹ, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang không có người trông coi. Lúc này, U tiếp cận và quan sát thấy có chìa khóa xe mô tô đặt trên tủ lạnh trong phòng trọ nên U lấy chìa khóa rồi đẩy xe ra đến cổng trọ, nổ máy điều khiển xe mô tô rời khỏi hiện trường. U điều khiển xe mô tô về quán cà phê Kim Loan, địa chỉ: Số 51, đường Võ Minh Đức, phường Phú Thọ, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương để nghỉ ngơi. Đến khoảng 05 giờ 00 phút cùng ngày, bà C ngủ dậy thì phát hiện cửa phòng trọ mở và chìa khóa trên tủ lạnh cùng xe mô tô bị lấy trộm nên bà Ckiểm tra định vị lắp trên xe mô tô phát hiện xe mô tô đang ở tại địa bàn phường Phú Thọ, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương do đó bà C đến Công an phường Thuận Giao, thành phố Thuận An trình báo vụ việc. Công an phường Thuận Giao phối hợp cùng Công an phường Phú Thọ, thành phố Thủ Dầu Một truy tìm theo định vị của xe mô tô phát hiện U cùng xe mô tô bị mất trộm tại quán cà phê Kim Loan nên lập biên bản, đưa U và tang vật về trụ sở làm việc. Tại đây, Út khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Vật chứng thu giữ:
- - 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại: Wave, không gắn biển số, màu trắng, số khung: RLHJA3931PY031687, số máy: JA70E-0043164.
Căn cứ Biên bản định giá tài sản và Kết luận định giá tài sản số 80 ngày 06/6/2024 của Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự thành phố Thuận An kết luận: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại: Wave, không gắn biển số, màu trắng, số khung: RLHJA3931PY031687, số máy: JA70E-0043164 có trị giá 18.000.000 đồng (Mười tám triệu đồng).
Cáo trạng số 279/CT-VKS-TA ngày 11 tháng 9 năm 2023 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo NVU về “Tội trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội trộm cắp tài sản như cáo trạng đã truy tố, phân tích tính chất, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đề xuất xử phạt Nguyễn Văn Út mức án từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù.
Về trách nhiệm dân sự: Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại: Wave, chưa gắn biển số (xe mới mua chưa được cấp biển số), màu trắng. Quá trình điều tra xác định thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bà LTBC nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An trả lại cho bà Châu là có căn cứ. Bà Châu đã nhận được tài sản và không yêu cầu gì khác.
Đối với chiếc xe đạp hiệu martin của bị can U dùng vào việc phạm tội, quá trình điều tra, cơ quan CSĐT đã tiến hành truy tìm nhưng không thu hồi được, do đó không đề cập xử lý.
- - Ý kiến bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
- - Ý kiến bị hại: Đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường và đề nghị xét xử bị cáo theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cán bộ điều tra, Kiểm sát viên đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không khiếu nại, tố cáo về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng là hợp pháp. Bị cáo NVU có yêu cầu xét xử vắng mặt ngày 17/9/2024, đơn được Nhà tạm giữ Công an thành phố Thuận An xác nhận. Xét thấy, đây là yêu cầu tự nguyện của bị cáo, việc vắng mặt của bị cáo không gây trở ngại cho việc xét xử, phù hợp với điểm c và điểm d khoản 2 Điều 290 Bộ luật tố tụng hình sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận xét xử vắng mặt bị cáo.
[2] Quá trình tố tụng bị cáo NVU khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An đã truy tố bị cáo trước Tòa. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo, những người tham gia tố tụng khác tại Cơ quan điều tra, các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 02 giờ 00 phút ngày 28/5/2024, tại trước địa chỉ 4/5A khu phố Hoà Lân 2, phường Thuận Giao, thành phố Thuận An, Bình Dương, bị cáo NVU đã có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại: Wave, chưa gắn biển số (xe mới mua chưa được cấp biển số), màu trắng của bà Lê Thị Bảo Châu trị giá 18.000.000 đồng, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An truy tố bị cáo về tội danh và khung hình phạt nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3]. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự, trị an tại địa phương. Bị cáo nhận thức được hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật hình sự và sẽ bị xử lý nhưng vì động cơ tham lam, tư lợi, muốn có tài sản sử dụng không phải bằng sức lao động của mình nên đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội, bất chấp hậu quả và pháp luật. Do đó cần xử phạt bị cáo mức án tương xứng để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
[4]. Về nhân thân, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.
- - Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu
- - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
- - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) để xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Mức đề nghị hình phạt của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An đối với bị cáo Nguyễn Văn Út là phù hợp nên chấp nhận.
[5]. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường nên không xem xét.
Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại: Wave, chưa gắn biển số (xe mới mua chưa được cấp biển số), màu trắng. Quá trình điều tra xác định thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bà LTBC nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An trả lại cho bà Châu là có căn cứ. Bà Châu đã nhận được tài sản và không yêu cầu gì khác.
Đối với chiếc xe đạp hiệu martin của bị can Út dùng vào việc phạm tội, quá trình điều tra, cơ quan CSĐT đã tiến hành truy tìm nhưng không thu hồi được, do đó không đề cập xử lý.
[6]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- - Điều 136, điểm c và điểm d khoản 2 Điều 290 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
- - Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo NVU phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Út 01 (một) năm 06 (sáu) tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/5/2024.
2. Về án phí: Buộc bị cáo NVU phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Nhâm |
Bản án số 261/2024/HS-ST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 261/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: NVU 173
