|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc
|
Bản án số: 261/2024/HS-ST
Ngày: 16-12-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Tô Thị Ngọc Phượng
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Trần Quang Cảnh
- Ông Nguyễn Văn Hoàng
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Mạnh Hải – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Ngọc Hà – Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 262/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 300/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 12 năm 2024 đối với các bị cáo:
1/ Nguyễn Văn D (tên gọi khác: Đỗ Kim Ú, Nguyễn Trung D1), sinh năm 1983, tại Kiên Giang; Thường trú: Ấp N, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang; nơi ở: không nơi ở nhất định; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 0/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Kim T (chết) và bà Nguyễn Thị C; hoàn cảnh gia đình: có vợ và 03 con, lớn nhất sinh năm 2005, nhỏ nhất sinh năm 2018; tiền án: không; Tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 19/3/2002, bị Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Đóng án phí ngày 26/7/2004; Ngày 04/11/2002, bị Tòa án nhân dân quận 6 xử phạt 01 năm tù về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt với Bản án số 78/STHS ngày 19/3/2002 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh là 01 năm 06 tháng tù. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/12/2003; Ngày 27/12/2004, bị Ủy ban nhân dân Thành phố H áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở giáo dục với thời hạn là 24 tháng. Chấp hành xong ngày 11/01/2007; Ngày 24/9/2008, bị Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh xử phạt 01 năm 06 tháng tù về hành vi “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có". Chấp hành xong hình phạt tù ngày 01/9/2009; Ngày 10/9/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn xử phạt 09 tháng tù về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/01/2021. Đóng án phí ngày 17/5/2022 Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/02/2024. (có mặt)
2/ Huỳnh Văn P, sinh năm 1994, tại Thành phố Hồ Chí Minh; Thường trú: 2B98, ấp B, xã P, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi ở: 2C93, ấp B, xã P, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn T1 (chết) và bà Ngô Thị D2; hoàn cảnh gia đình: Chưa có vợ con; tiền án: không; tiền sự: Ngày 09/6/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 18 tháng, chấp hành xong ngày 19/8/2021; ngày 20/01/2022, bị Tòa án nhân dân quận Bình Tân áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 24 tháng, chấp hành xong ngày 09/9/2023; nhân thân: ngày 14/11/2017, bị Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh xử phạt 02 năm 06 tháng tù về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, chấp hành xong hình phạt tù ngày 03/6/2019, đóng án phí vào tháng 8/2018; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/2/2024. (có mặt)
3/ Trần Đức T2, sinh năm 1998, tại Kiên Giang; Thường trú: Ấp N, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang; nơi ở: 541/12 Tỉnh lộ 10, khu phố I, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Đức S và bà Hồ Thị T3; hoàn cảnh gia đình: Chưa có vợ con; tiền án: Ngày 30/6/2020, bị Tòa án nhân dân Quận 6 xử phạt 04 năm tù về tội Trộm cắp tài sản, chấp hành xong hình phạt tù ngày 27/9/2022; tiền sự: không; nhân thân: ngày 18/7/2016, bị Tòa án nhân dân quận Bình Tân xử phạt 01 năm tù về tội Cướp giật tài sản, chấp hành xong hình phạt tù ngày 08/02/2017; ngày 05/9/2017, bị Tòa án nhân dân Quận 6 áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 15 tháng, chấp hành xong ngày 06/10/2018; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/2/2024. (có mặt)
- Người bị hại:
- Ông Đặng Thanh S1, sinh năm 1983
- Ông Nguyễn Văn D, sinh năm: 1990
Địa chỉ: 2 T, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn H, xã T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn D; Trần Đức T2 và Huỳnh Văn P là bạn bè quen biết nhau được khoảng 07 năm.
Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 01/02/2024, D gọi điện thoại cho T2 rủ đi trộm cắp xe lôi ba bánh gắn máy tự chế thì T2 đồng ý. Sau đó, D đến nhà P ở địa chỉ số B ấp B, xã P, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh rủ P cùng đi trộm cắp tài sản, P đồng ý. D gọi điện hẹn gặp T2 tại trước Cây xăng K, số D Tỉnh Lộ 10, phường B, quận B rồi điều khiển xe máy hiệu Atilla Alizabeth, màu đỏ, biển số: 52S6-0145 chở P đến điểm hẹn. Tại đây, D phân công P thực hiện trộm cắp xe lôi ba bánh gắn máy tự chế; còn T2 và D sẽ đứng cảnh giới, khi bị người dân phát hiện thì D hoặc T2 sẽ là người chở P tẩu thoát. Trước khi đi, D chuẩn bị 01 cây kềm cắt bằng kim loại, cán bọc nhựa màu xanh bỏ trong cốp xe. Sau đó, D chở P còn T2 một mình điều khiển xe gắn máy hiệu Vario, màu trắng, biển số 59U2-260.19 đi qua nhiều tuyến đường tìm xe lôi ba bánh gắn máy tự chế để trộm cắp. Đến khoảng 11 giờ 35 phút cùng ngày, khi đến trước số A T, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh thì cả ba phát hiện có 01 chiếc xe lôi ba bánh gắn máy tự chế, màu xanh – trắng, biển số 60Y3-8226 của anh Đặng Thanh S1 đang dựng trước số nhà trên, không có ai trông coi. Ngay lập tức D chở P dừng xe tại trước số B T, phường P, quận T, còn T2 dừng xe tại trước số A T, phường P, quận T cảnh giới cho P. D đưa cho P cây kềm đã chuẩn bị sẵn để P đi bộ tiến lại gần chiếc xe lôi ba bánh gắn máy tự chế nói trên. P dùng cây kềm cắt đứt dây khóa tại vị trí bánh trước của xe rồi đấu dây điện nguồn, ngồi lên xe đề máy chạy đi. Lúc này, Tổ trinh sát Đội Cảnh sát hình sự Công an Q đang đi công tác qua địa bàn quận T phát hiện hành vi trộm cắp tài sản của P, D, T2 nên khống chế bắt giữ D tại trước số B T, phường P, quận T còn P và T2 tiếp tục điều khiển xe tẩu thoát. Tổ trinh sát tiếp tục truy đuổi theo sau liên tục đến trước số C L, Phường E, Quận A thì bắt giữ được T2; còn P bỏ xe lôi ba bánh gắn máy tự chế trộm được tại trước địa chỉ trên và bỏ chạy bộ đến số A Khu Ô, phường P, quận T thì bị bắt giữ. Sau đó, Tổ trinh sát Đ Công an Q bàn giao D; T2; P cho Công an phường P xử lý.
Kết luận định giá tài sản số 435/KL-HĐĐGTS ngày 05/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận T kết luận: “01 xe lôi ba bánh gắn máy tự chế, màu xanh – trắng, biển số 60Y3-8226, lốc máy bên trái có chữ Yinxiang, bên phải có chữ AAAAA, số máy 164ML21M001457, số khung không xác định, không rõ năm sản xuất, xe cũ đã qua sử dụng, thời điểm định giá ngày 01/02/2024, trị giá 17.000.000 đồng.” (Bút lục 74)
Ngoài ra, Nguyễn Văn D và Trần Đức T2 còn có hành vi Trộm cắp tài sản trên địa bàn Quận A như sau:
Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 04/01/2024, do không có công việc làm ổn định, cần tiền tiêu xài cá nhân nên “Bé D3” (chưa rõ nhân thân lai lịch) gọi điện thoại rủ Trần Đức T2 và Nguyễn Văn D đi tìm xe ba gác để trộm cắp, D và T2 đồng ý. Khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, “Bé D3” điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Future (chưa rõ biển số), D điều khiển xe máy hiệu Atilla Alizabeth, màu đỏ, biển số 52S6-0145 đến cửa hàng X tại địa chỉ 426 TL10, phường B, quận B thì gặp T2. T2 ngồi lên đi cùng xe với D đi phía trước, “Bé D3” điều khiển xe phía sau đi trên các tuyến đường thuộc quận B - Quận A tìm kiếm xe ba gác để trộm cắp. Đến khoảng 12 giờ 05 phút cùng ngày, khi đi ngang qua nhà số B, Quốc lộ A, Khu phố E, phường T, Quận A thì cả nhóm phát hiện 01 xe ba gác màu xanh dương của anh Nguyễn Văn D để ở phía trước nhà nhưng không có người trông coi. “Bé D3” dừng xe lại đứng cảnh giới, D điều khiển xe chở T2 quay ngược trở lại đứng cách vị trí xe ba gác khoảng 20m ngồi trên xe để cảnh giới. T2 nhảy xuống đi lại gần tiếp phía trước bên phải của X1, tay phải lấy 01 bật lửa để trong túi áo phía bên trái trước ngực đốt cháy 02 sợi dây điện kết nối ở khoá với bình điện xe ba gác rồi dùng hai tay nối hai đầu sợi dây điện này trực tiếp với nhau để khởi động xe ba gác mà không cần chìa khoá xe. Sau đó, T2 đẩy xe rời ra khỏi hiên nhà cách khoảng 05m rồi ngồi lên yên xe, nhấn vào nút khởi động và điều khiển xe ba gác ra hướng Quốc lộ A, D và “Bé D3” điều khiển xe mô tô đi theo phía sau xe T2. Khi đến trước địa chỉ: I Quốc lộ A, Khu phố E, phường T, Quận A thì T2 dừng xe ba gác giao lại cho “Bé D3”, để “Bé D3” gọi điện thoại cho người tên P1 (chưa rõ lai lịch) đến để điều khiển xe ba gác đi bán, D chở T2 quay về Cửa hàng X để đợi “Bé D3” đem tiền về chia nhau. Đến khoảng 13 giờ 15 phút cùng ngày, “Bé D3” một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Future quay lại Cửa hàng X gặp D, T2 và nói đã bán xe ba gác được 6.000.000 đồng, chia đều mỗi người được 2.000.000 đồng. Số tiền có được D và T2 đã tiêu xài cá nhân hết.
Kết luận định giá tài sản số 86/KL-HĐĐGTS ngày 03/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận A kết luận: “01 xe mô tô ba bánh (thường gọi là xe ba gác), không có giấy tờ mua bán, không có hóa đơn chứng từ liên quan đến nguồn gốc, đặc điểm thông số kỹ thuật của tài sản, xe đã hư hỏng, không sử dụng vận chuyển hàng hóa, tài sản đã qua sử dụng; thời điểm định giá ngày 04/01/2024, trị giá 8.750.000 đồng.” (Bút lục 371-372)
Vật chứng thu giữ:
- 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, số Imei 1: 353112111223059, Imei 2: 353112116223054 của Trần Đức T2 sử dụng liên lạc với Nguyễn Văn D để đi trộm cắp tài sản.
- 01 xe máy hiệu Vario màu trắng, số khung: MH1KF112JK486461, số máy: KF11E2479827. Qua xác minh, xe trên có biển số 59M2-217.77 do anh Lâm Chí C1 trú tại 1 Đường C, Phường B, Quận A đứng tên chủ sở hữu. Anh C1 trình bày bị kẻ gian lấy trộm xe trên vào khoảng tháng 8/2023 nhưng do bận công việc nên không đi trình báo sự việc. Qua giám định xe có số khung số máy không bị đục lại số. Cơ quan điều tra đã trả lại xe trên cho anh C1. (Bút lục 63)
- Biển số 59U2-260.19. Qua xác minh, biển số trên là của xe máy hiệu Honda loại Vario màu đỏ đen, số khung: MH1JM5110KK230300, số máy JM51E1230401 do ông Hồ Ngọc B trú tại D C, Phường A, Quận A đứng tên chủ sở hữu. Ông B trình bày đã bán xe trên lại cho cửa hàng mua bán xe máy vào năm 2022 nhưng không nhớ bán ở đâu và không còn giữ giấy tờ mua bán xe. (Bút lục 52-54)
- 01 mũ bảo hiểm có chữ Be, màu vàng; 01 áo khoác dài tay có chữ Be, màu vàng; 01 quần thể thao màu đen; 01 áo thể thao có chữ Adidas màu xám của Trần Đức T2 mặc khi thực hiện hành vi phạm tội.
- 01 điện thoại di động hiệu N màu đen có số seri: 350618543591445 của Huỳnh Văn P sử dụng để liên lạc với Nguyễn Văn D.
- 01 xe ba gác tại lốc máy bên trái có chữ YINXIANG, bên phải có chữ AAAAA, số máy: 164ML21M001457, số khung: Không xác định (đã qua sử dụng). Qua xác minh không có trong cơ sở dữ liệu đăng ký quản lý dữ liệu thông tin cơ giới đường bộ. Qua giám định xe có số khung số máy không bị đục lại số.
- Biển số 60Y3-8226. Qua xác minh, biển số trên là của xe mô tô 02 bánh hiệu Honda Mio, số khung 011027, số máy 011024 do chị Đinh Thị Thắm T4, trú tại Â, xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai (nay là phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai). Xác minh tại Công an phường A không có đương sự Đinh Thị T5 Tình đăng ký thường trú, tạm trú tại địa phương.
- 01 cây kềm cắt dây điện bằng kim loại dài khoảng 20cm.
- 01 sợi dây thép bị cắt đứt dài khoảng 02 mét.
- 01 áo thun có cổ ngắn tay, màu đen; 01 quần jean ngắn, màu đen ; 01 áo khoác sơmi dài tay caro, màu xám trắng; 01 mũ bảo hiểm, màu trắng thu giữ của Huỳnh Văn P mặc khi thực hiện hành vi phạm tội.
- 01 điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen, số seri 1: 357705105944931, số seri 2: 357705105944949 của Nguyễn Văn D sử dụng để liên lạc rủ đi trộm cắp tài sản.
- 01 xe mô tô hiệu Attila, sơn màu đỏ, biển số 52S6-0145; Số khung: ED7D-004544; Số máy: VMVT5A-D004544. Qua xác minh, xe do chị Huỳnh Thủy T6, trú tại 2 L, phường G, quận B đứng tên chủ sở hữu. Xác minh tại Công an phường G, quận B; chị T6 đã bán nhà đi đâu làm gì không rõ nên Cơ quan điều tra chưa làm việc được (Bút lục 64-65). Qua giám định xe có số khung số máy không bị đục lại số (Bút lục 78).
- 01 mũ bảo hiểm màu đen; 01 áo sơmi dài tay màu nâu đen; 01 quần jean ngắn màu xanh của Nguyễn Văn D mặc khi thực hiện hành vi phạm tội.
- 01 xe ba gác màu xanh, không có biển số, đã qua sử dụng
Tại Bản cáo trạng số: 280/CT-VKSQTP ngày 07/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố các bị cáo Nguyễn Văn D, Huỳnh Văn P và Trần Đức T2 về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh trình bày lời luận tội và đề nghị:
- Áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 38, Điều 50, Điều 58 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.
- Áp dụng: khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 50, Điều 58 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn P từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
- Áp dụng: khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g, h khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 38, Điều 50, Điều 58 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Đức T2 từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
- Về phần vật chứng vụ án đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Đánh giá hành vi, quyết định tố tụng:
Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh, điều tra viên, kiểm sát viên đã thực hiện đúng. Các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
[2] Đánh giá hành vi của các bị cáo:
Lời nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người làm chứng, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Qua đó đủ cơ sở để xác định: Khoảng 12 giờ ngày 01/02/2024; Nguyễn Văn D, Trần Đức T2 và Huỳnh Văn P đã có hành vi trộm cắp 01 xe lôi ba bánh gắn máy tự chế, màu xanh – trắng, biển số 60Y3-8226 (kết luận định giá trị giá 17.000.000 đồng) của anh Đặng Thanh S1 tại trước số A T, phường P, quận T thì bị bắt quả tang.
Nguyễn Văn D và Trần Đức T2 còn có hành vi trộm cắp 01 xe ba gác màu xanh dương (kết luận định giá trị giá 8.750.000 đồng) của anh Nguyễn Văn D vào khoảng 10 giờ 30 phút ngày 04/01/2024 tại trước nhà số B, QL1A, Khu phố E, phường T, Quận A
Do đó Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú truy tố các bị cáo Nguyễn Văn D, Huỳnh Văn P và Trần Đức T2 về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là phù hợp quy định của pháp luật.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị pháp luật nghiêm cấm; xâm phạm tới quyền sở hữu tài sản của người khác, được pháp luật bảo vệ, đồng thời ảnh hưởng đến trật tự, trị an, an toàn xã hội. Các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn muốn có tiền tiêu xài một cách dễ dàng mà không muốn bỏ công sức lao động nên các bị cáo đã cố ý phạm tội, chứng tỏ ý thức xem thường pháp luật của các bị cáo.
Hành vi phạm tội của các bị cáo mang tính chất đồng phạm giản đơn. Trong vụ án này, bị cáo D là người rủ rê hai bị cáo còn lại và đứng ngoài cảnh giới, còn bị cáo P và bị cáo T2 là người trực tiếp lấy trộm tài sản.
Đối với các đối tượng “Bé D3”, P1; Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã ra Quyết định tách hành vi và tài liệu liên quan trong vụ án hình sự số 2517/QĐ-CQCSĐT ngày 14/5/2024 để tiếp tục xác minh làm rõ. Do đó Hội đồng xét xử không xét.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo D phạm tội 02 lần trở lên nên cần áp dụng điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự đối với bị cáo khi lượng hình. Đối với bị cáo T2 phạm tội 02 lần trở lên và ngoài ra bị cáo đã có tiền án về tội trộm cắp tài sản, chưa được xóa án tích nay lại tiếp tục phạm tội nên lần phạm tội này của bị cáo là tái phạm. Do đó cần áp dụng điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự đối với bị cáo khi lượng hình.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.
[4] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[5] Về trách nhiệm dân sự:
- Ông Đặng Thanh S1 yêu cầu được nhận lại tài sản bị mất trộm là xe ba gác máy. Hội đồng xét xử xét thấy đây là tài sản không đúng quy định, cần phải giao cho công an quận T xử lý theo quy định nên không chấp nhận yêu cầu của ông S1.
- Ông Nguyễn Văn D yêu cầu nhận lại tài sản bị mất trộm. Hội đồng xét xử xét thấy đây là tài sản không đúng quy định, cần phải giao cho công an quận T xử lý theo quy định nên không chấp nhận yêu cầu của ông D.
[6] Về xử lý vật chứng:
- 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, số Imei 1: 353112111223059, Imei 2: 353112116223054 của Trần Đức T2 sử dụng liên lạc với Nguyễn Văn D để đi trộm cắp tài sản. Hội đồng xét xử xét thấy đây là vật chứng dùng vào việc phạm tội do đó cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
- 01 xe máy hiệu Vario màu trắng, số khung: MH1KF112JK486461, số máy: KF11E2479827. Qua xác minh, xe trên có biển số 59M2-217.77 do anh Lâm Chí C1 trú tại 1 Đường C, Phường B, Quận A đứng tên chủ sở hữu. Anh C1 trình bày bị kẻ gian lấy trộm xe trên vào khoảng tháng 8/2023 nhưng do bận công việc nên không đi trình báo sự việc. Qua giám định xe có số khung số máy không bị đục lại số. Cơ quan điều tra đã trả lại xe trên cho anh C1. Do đó Hội đồng xét xử không xét.
- Biển số 59U2-260.19. Qua xác minh, biển số trên là của xe máy hiệu Honda loại Vario màu đỏ đen, số khung: MH1JM5110KK230300, số máy JM51E1230401 do ông Hồ Ngọc B trú tại D C, Phường A, Quận A đứng tên chủ sở hữu. Ông B trình bày đã bán xe trên lại cho cửa hàng mua bán xe máy vào năm 2022 nhưng không nhớ bán ở đâu và không còn giữ giấy tờ mua bán xe. Hội đồng xét xử xét thấy đây là tài sản không rõ nguồn gốc, chưa xác định được chủ sở hữu, do đó do đó cần thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng trong thời gian 06 tháng nếu chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp không đến sẽ tịch thu tiêu hủy.
- 01 mũ bảo hiểm có chữ Be, màu vàng; 01 áo khoác dài tay có chữ Be, màu vàng; 01 quần thể thao màu đen; 01 áo thể thao có chữ Adidas màu xám của Trần Đức T2 mặc khi thực hiện hành vi phạm tội. Hội đồng xét xử xét thấy đây là vật chứng không còn giá trị sử dụng, bị cáo không có yêu cầu nhận lại do đó cần tịch thu tiêu hủy.
- 01 điện thoại di động hiệu N màu đen có số seri: 350618543591445 của Huỳnh Văn P sử dụng để liên lạc với Nguyễn Văn D. Hội đồng xét xử xét thấy đây là vật chứng dùng vào việc phạm tội do đó cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
- 01 xe ba gác tại lốc máy bên trái có chữ YINXIANG, bên phải có chữ AAAAA, số máy: 164ML21M001457, số khung: Không xác định (đã qua sử dụng). Qua xác minh không có trong cơ sở dữ liệu đăng ký quản lý dữ liệu thông tin cơ giới đường bộ. Qua giám định xe có số khung số máy không bị đục lại số. Hội đồng xét xử xét thấy đây là tài sản không đúng quy định do đó cần giao cho công an quận T, Thành phố Hồ Chí Minh xử lý theo quy định của pháp luật.
- 01 xe ba gác màu xanh, không có biển số, đã qua sử dụng. Hội đồng xét xử xét thấy đây là tài sản không đúng quy định pháp luật do đó cần giao cho công an quận T, Thành phố Hồ Chí Minh xử lý theo quy định của pháp luật.
- Biển số 60Y3-8226. Qua xác minh, biển số trên là của xe mô tô 02 bánh hiệu Honda Mio, số khung 011027, số máy 011024 do chị Đinh Thị Thắm T4, trú tại Â, xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai (nay là phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai). Xác minh tại Công an phường A không có đương sự Đinh Thị T5 Tình đăng ký thường trú, tạm trú tại địa phương. Hội đồng xét xử xét thấy đây là tài sản không rõ nguồn gốc, chưa xác định được chủ sở hữu, do đó do đó cần thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng trong thời gian 06 tháng nếu chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp không đến sẽ tịch thu tiêu hủy.
- 01 cây kềm cắt dây điện bằng kim loại dài khoảng 20cm, 01 sợi dây thép bị cắt đứt dài khoảng 02 mét. Hội đồng xét xử xét thấy đây là vật chứng dùng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng do đó cần tịch thu tiêu hủy.
- 01 áo thun có cổ ngắn tay, màu đen; 01 quần jean ngắn, màu đen ; 01 áo khoác sơmi dài tay caro, màu xám trắng; 01 mũ bảo hiểm, màu trắng thu giữ của Huỳnh Văn P mặc khi thực hiện hành vi phạm tội. Hội đồng xét xử xét thấy đây là vật chứng không còn giá trị sử dụng, bị cáo không có yêu cầu nhận lại do đó cần tịch thu tiêu hủy.
- 01 điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen, số seri 1: 357705105944931, số seri 2: 357705105944949 của Nguyễn Văn D sử dụng để liên lạc rủ bị cáo P đi trộm cắp tài sản. Hội đồng xét xử xét thấy đây là vật chứng dùng vào việc phạm tội do đó cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
- 01 xe mô tô hiệu Attila, sơn màu đỏ, biển số 52S6-0145; Số khung: ED7D-004544; Số máy: VMVT5A-D004544. Qua xác minh, xe do chị Huỳnh Thủy T6, trú tại 2 L, phường G, quận B đứng tên chủ sở hữu. Xác minh tại Công an phường G, quận B; chị T6 đã bán nhà đi đâu làm gì không rõ nên Cơ quan điều tra chưa làm việc được (Bút lục 64-65). Qua giám định xe có số khung số máy không bị đục lại số. Hội đồng xét xử xét thấy đây là tài sản không rõ nguồn gốc, chưa xác định được chủ sở hữu, do đó do đó cần thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng trong thời gian 06 tháng nếu chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp không đến sẽ tịch thu nộp Ngân sách nhà nước.
- 01 mũ bảo hiểm màu đen; 01 áo sơmi dài tay màu nâu đen; 01 quần jean ngắn màu xanh của Nguyễn Văn D mặc khi thực hiện hành vi phạm tội. Hội đồng xét xử xét thấy đây là vật chứng không còn giá trị sử dụng, bị cáo không có yêu cầu nhận lại do đó cần tịch thu tiêu hủy.
[7] Về án phí: Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ Điều 173 Bộ luật hình sự;
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn D, Huỳnh Văn P và Trần Đức T2 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
[2] Áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 38, Điều 50, Điều 58 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày 01/02/2024
Áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 50, Điều 58 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn P 01 (một) năm tù.
Thời hạn tù tính từ ngày 01/02/2024
Áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g, h khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 38, Điều 50, Điều 58 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Trần Đức T2 02 (hai) năm tù.
Thời hạn tù tính từ ngày 01/02/2024
[3] Về hình phạt bổ sung:
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[5] Về trách nhiệm dân sự:
Không chấp nhận yêu cầu nhận lại xe của ông Nguyễn Văn D và ông Đặng Thanh S1.
[6] Về xử lý vật chứng:
Áp dụng: điểm a khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu N màu đen, số Imei 1: 353112111223059, Imei 2: 353112116223054; 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen có số seri: 350618543591445
- Tịch thu tiêu hủy: 01 mũ bảo hiểm có chữ Be, màu vàng; 01 áo khoác dài tay có chữ Be, màu vàng; 01 quần thể thao màu đen; 01 áo thể thao có chữ Adidas màu xám; 01 cây kềm cắt dây điện bằng kim loại dài khoảng 20cm, 01 sợi dây thép bị cắt đứt dài khoảng 02 mét; 01 áo thun có cổ ngắn tay, màu đen; 01 quần jean ngắn, màu đen ; 01 áo khoác sơmi dài tay caro, màu xám trắng; 01 mũ bảo hiểm, màu trắng; 01 mũ bảo hiểm màu đen; 01 áo sơmi dài tay màu nâu đen; 01 quần jean ngắn màu xanh
- Trả lại cho bị cáo D: 01 điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen, số seri 1: 357705105944931, số seri 2: 357705105944949
- Giao cho công an quận T, Thành phố Hồ Chí Minh xử lý theo quy định của pháp luật đối với: 01 xe ba gác màu xanh, không có biển số, đã qua sử dụng; 01 xe ba gác tại lốc máy bên trái có chữ YINXIANG, bên phải có chữ AAAAA, số máy: 164ML21M001457, số khung: Không xác định (đã qua sử dụng).
- Giao cho Chi cục Thi hành án Dân sự quận Tân phú thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng trong thời hạn 06 tháng đối với:
- + 01 Biển số 59U2-260.19 và 01 Biển số 60Y3-8226. Nếu hết thời hạn 06 tháng mà không có chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp đến nhận thì tịch thu tiêu hủy.
- + 01 xe mô tô hiệu Attila, sơn màu đỏ, biển số 52S6-0145; Số khung: ED7D-004544; Số máy: VMVT5A-D004544. Nếu hết thời hạn 06 tháng mà không có chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp đến nhận thì tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
(Tất cả theo Phiếu nhập kho vật chứng số 105/PNK ngày 26/4/2024 và Phiếu nhập kho vật chứng số: 18/PNK ngày 14/10/2024 của Công an quận T)
[7] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 13/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Thi hành tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
[8] Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tô Thị Ngọc Phượng |
Bản án số 261/2024/HS-ST ngày 16/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 261/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo phạm tội trộm cắp tài sản
