Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH

TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 261/2024/HS-ST

Ngày: 26-11-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Trần Mạnh Hà.

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Tiến Dũng.

Bà Đặng Thị Châu Loan.

- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Huyền Thương - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Ích Sáng - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 11 năm 2024 tại Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 261/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 261/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Xuân P, sinh năm 1987 tại tỉnh Nam Định; số Căn cước công dân: [...] ; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: thôn L, xã M, thành phố N (cũ là xã M, huyện M), tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn M (đã chết) và bà Nguyễn Thị T; có vợ là Trần Thị T1 và có 01 con; tiền án: Không; tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 8-12-2011 Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện M (nay là thành phố N), tỉnh Nam Định ra Quyết định về việc đưa người nghiện ma tuý vào cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội của tỉnh Nam Định thời gian 12 tháng.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 13-8-2024, chuyển tạm giam ngày 22-8-2024. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố N; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng: Anh Trần Công T2, anh Trần Sỹ N (không triệu tập đến phiên toà).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 40 phút, ngày 13-8-2024, tổ công tác Công an phường M, thành phố N, tỉnh Nam Định làm nhiệm vụ tại khu vực đầu ngõ B đường P, phường T, thành phố N phát hiện Trần Xuân P đi xe đạp điện có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. P nhả từ trong miệng xuống đất 01 gói giấy bạc màu trắng, bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng (P khai là H mua về để sử dụng). Tổ công tác đã thu giữ, niêm phong vật chứng và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Trần Xuân P. Ngoài ra tạm giữ của P 01 xe đạp điện màu trắng và 01 điện thoại Iphone màu trắng hồng, đều đã cũ.

Bản kết luận giám định số 1476/KL-KTHS ngày 20-8-2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Mẫu bột dạng cục màu trắng trong 01 giấy bạc màu trắng được niêm phong gửi giám định là ma tuý. Loại ma túy: Heroine. Tổng khối lượng mẫu: 0,149 gam.

Tại Cơ quan điều tra, Trần Xuân P khai nhận: Khoảng 10 giờ ngày 13-8-2024, P đi xe đạp điện từ nhà đến một ngõ ở đường H, phường T, thành phố N (không nhớ số ngõ) gặp một người phụ nữ (không rõ tên, tuổi, địa chỉ) mua 01 gói Heroine với giá 100.000 đồng, Phong cầm gói Heroine cho vào trong miệng ngậm rồi đi tìm chỗ sử dụng thì bị phát hiện, bắt giữ.

Bản cáo trạng số 266/CT-VKS-TPNĐ ngày 06-11-2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định truy tố bị cáo Trần Xuân P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Trần Xuân P đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy mục đích để sử dụng cho bản thân như bản cáo trạng đã nêu và không khai báo thêm tình tiết gì mới.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo Trần Xuân P tại phiên tòa thể hiện hành vi của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Do đó Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ nguyên nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Trần Xuân P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Xuân P từ 24 tháng tù đến 27 tháng tù.

- Về hình phạt bổ sung: Đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy đã thu giữ của bị cáo trong phong bì niêm phong số 1476/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh N; Chiếc điện thoại Iphone màu trắng hồng đã qua cũ, là tài sản của bị cáo nên trả lại cho bị cáo.

Bị cáo Trần Xuân P nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trần Xuân P không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

[2] Về tội danh:

Lời khai nhận tội của bị cáo Trần Xuân P trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa hôm nay phù hợp với các chứng cứ khác như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản thu giữ vật chứng; Bản kết luận giám định số 1476/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh N; lời khai của những người làm chứng cùng các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án nên đã có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 10 giờ 40 phút, ngày 13-8-2024, tại khu vực đầu ngõ B đường P, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định, bị cáo Trần Xuân P đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,149 gam Heroine mục đích để sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang.

Hành vi của bị cáo Trần Xuân P là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất gây nghiện của Nhà nước, gây mất trật tự an toàn xã hội. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi tàng trữ ma túy của mình bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện; khối lượng ma túy bị cáo có hành vi tàng trữ để sử dụng 0,149 gam Heroine. Vì vậy bị cáo Trần Xuân P đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

[3] Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

3.1. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thì bị cáo Trần Xuân P đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

3.2. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng là đối tượng có nhân thân xấu.

[4] Về hình phạt:

Hành vi phạm tội của bị cáo Trần Xuân P là nghiêm trọng, gây ảnh hưởng xấu đối với an ninh trật tự trên địa bàn thành phố N; Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo.

[5] Về hình phạt bổ sung:

Xét thấy bị cáo Trần Xuân P tàng trữ ma túy, mục đích để sử dụng. Bị cáo lao động tự do, không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử sẽ không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng:

- Số ma túy thu giữ của bị cáo trong phong bì niêm phong số 1476/KL-KTHS ngày 20-8-2024 là vật thuộc loại nhà Nhà nước cấm tàng trữ nên sẽ tiêu hủy.

- Chiếc xe đạp điện là của bà Đoàn Thị B, sinh năm 1955 trú tại số nhà D H, phường T, thành phố N (chủ cửa hàng nơi P đang làm thuê). Bà B không biết P mượn xe đạp điện của mình đi mua ma tuý sử dụng nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã trả lại xe cho bà B là đúng quy định của pháp luật.

Đối với chiếc điện thoại Iphone màu trắng hồng đã cũ được niêm phong trong túi niêm phong có mã số NS3A. 039897 của tài sản của bị cáo Trần Xuân P, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

[7] Các vấn đề khác trong vụ án:

Đối với đối tượng đã bán ma túy cho bị cáo, tài liệu điều tra chưa đủ căn cứ xác định nên Cơ quan điều tra tách ra tiếp tục điều tra, xử lý sau là đúng quy định của pháp luật

[8] Về án phí:

Bị cáo Trần Xuân P bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Trần Xuân P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

    - Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt bị cáo Trần Xuân P 02 năm tù (hai năm tù).

    Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 13 tháng 8 năm 2024.

  2. Xử lý vật chứng:

    - Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự;

    - Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Tịch thu tiêu hủy gói ma túy đã thu giữ trong phong bì niêm phong số 1476/KL- KTHS của Phòng K Công an tỉnh N.

    Trả lại cho bị cáo chiếc điện thoại Iphone màu trắng hồng đã cũ, được niêm phong trong túi niêm phong có mã số NS3A. 039897 nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành phần án phí hình sự sơ thẩm.

    (Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 11-11-2024).

  3. Án phí:

    - Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;

    - Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

    Bị cáo Trần Xuân P phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Quyền kháng cáo:

    Bị cáo Trần Xuân P có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo Trần Xuân P có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Nam Định;
  • - VKSND TP. Nam Định (02 bản);
  • - Công an TP. Nam Định;
  • - Chi cục THADS TP. Nam Định;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Mạnh Hà

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Đỗ Quang Chung Đặng Thị Châu Loan

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Mạnh Hà

6

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 261/2024/HS-ST ngày 26/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 261/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Xuân P - Tàng trữ trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger