TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 261/2024/DS-ST
Ngày: 26/11/2024
V/v: “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAΙ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Mộng Hà
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Chánh - Cán bộ hưu trí
Bà Thiều Thị Phi Loan - Cán bộ hưu trí
Thư ký phiên tòa: Bà La Nguyễn Minh Thi - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa - tỉnh Đồng Nai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa - tỉnh Đồng Nai: Bà Trần Thị Thuỷ - KSV
Ngày 26 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Biên Hòa mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 568/2024/TLST-DS ngày 05/6/2024 về việc tranh chấp “Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 351/2024/QĐST-DS ngày 15/8/2024, Quyết định hoãn phiên Tòa số 1854/2024/QĐST-DS ngày 05/11/2024 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần S.
Địa chỉ trụ sở: 266-268, N, phường V, quận C, thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D; Chức vụ: Tổng giám đốc
Đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Hồng T- Phó phòng giao dịch T.( Theo quyết định số 24A/2024/GUQ-TP ngày 01/04/2024 )
- - Bị đơn: Bà Nguyễn Thụy Ánh H, sinh năm: 1983.
Địa chỉ: B, tổ E, khu phố F, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Ông T có đơn xin xét xử vắng mặt, bà H vắng mặt không có lý do
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hòa giải đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn trình bày:
Vào ngày 12/03/2020 Ngân hàng Thương mại cổ phần S có ký hợp đồng tín dụng số LD2007001031 ngày 12/03/2020, hợp đồng thế chấp số 320/TC, giấy nhận nợ và thoả thuận sửa đổi bổ sung với bà Nguyễn Thụy Á H để cho bà H vay số tiền là 2.000.000.000₫ (Hai tỷ đồng). Thời hạn vay đến ngày 16/03/2025
Lãi suất thoả thuận: 03 tháng đầu tiên là 13.8%/năm, tại thời điểm bắt đầu tháng thứ 04 kể từ ngày giải ngân đầu tiên, lãi suất của toàn bộ dư nợ vay sẽ được điều chỉnh bằng lãi suất huy động tiết kiệm cá nhân VND kỳ hạn 13 tháng lãi cuối kỳ của tại thời điểm điều chỉnh cộng biên độ 6.2%/năm, chu kỳ điều chỉnh 03 tháng/lần.
Đồng thời theo thoả thuận sửa đổi bổ sung Hợp đồng tín dụng số LD2007001031 – 01 ngày 22/4/2021:
Kể từ ngày 16/6/2021 trở đi, lãi suất của toàn bộ dư nợ vay sẽ được điều chỉnh bằng lãi suất cơ sở tương ứng theo kỳ hạn vay được niêm yết tại www.S1.com.vnthời điểm điều chỉnh cộng biên độ 5,75%/năm, chu kỳ điều chỉnh 03 tháng/lần.
Lãi suất: được quy định trong từng Văn kiện Tín dụng cụ thể và được quy định trên cơ sở năm có 365 ngày. Ngân hàng Thương mại cổ phần S có quyền quyết định điều chỉnh lãi suất cấp tín dụng trong hạn được quy định trong Văn kiện Tín dụng cụ thể và thông báo cho Bên được cấp tín dụng, trừ trường hợp Văn kiện Tín dụng cụ thể quy định đình kỳ điều chỉnh thì N ah2ng Thương mại cổ phần S không có nghĩa vụ phải thông báo về việc điều chỉnh đó.
Mục đích sử dụng vốn: Nhận chuyển nhượng Bất động sản
Tài sản thế chấp: Quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 391 tờ bản đồ số 27 xã S huyện T, tỉnh Đồng Nai theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DO 340186 do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ cấp ngày 01/3/2024 cho Chủ sở hữu/chủ sử dụng: bà Nguyễn Thụy Ánh H theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 320/TC ngày 12/3/2020 và đăng ký giao dịch đảm bảo số 320/TC ngày 12/3/2020 để bảo đảm nghĩa vụ vay vốn của bà Nguyễn Thụy Ánh H.
Tính đến ngày 29/02/2024, bà Nguyễn Thụy Ánh H đã thanh toán cho Ngân hàng được 48 kỳ vốn với tổng số tiền là 320.000.016₫( Ba trăm hai mươi triệu không trăm linh không nghìn không trăm mười sáu đồng) Kể từ kỳ trả nợ tháng 3/2024 cho đến nay bà H đã không thanh toán cho Ngân hàng, dẫn đến khoản vay trên chuyển nợ quá hạn nhóm 2.
Tính đến ngày 26/11/2024, bà Nguyễn Thụy Ánh H còn nợ Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền như sau:
Nợ gốc: 1.679.999.984₫( Một tỷ sáu trăm bảy mươi chín triệu chín trăm chín mươi chín nghìn chín trăm tám mươi bốn đồng)
Lãi trong hạn: 166.818.819₫( Một trăm sáu mươi sáu triệu tám trăm mười tám nghìn tám trăm mười chín đồng)
Lãi quá hạn: 4.482.014₫( Bốn triệu bốn trăm tám mươi hai nghìn không trăm mười bốn đồng)
Lãi phạt quá hạn: 6.237.796đ( Sáu triệu hai trăm ba mươi bảy nghìn bảy trăm chín mươi sáu đồng)
Tổng cộng: 1.857.538.613₫
(Một tỷ tám trăm năm mươi bảy triệu năm trăm ba mươi tám nghìn sáu trăm mười ba đồng).
Ngoài ra, Ngân hàng Thương mại cổ phần S còn ký với bà Nguyễn Thị Ánh H1 Hợp đồng phát hành thẻ tín dụng số 23110601 ngày 06/11/2023. Sau khi được cấp thẻ tín dụng, phiếu cấp mã QR xem Biểu phí, Điều khoản, Điều kiện phát hành và hướng dẫn sử dụng thẻ tín dụng, từ ngày 05/12/2023 đến 05/3/2024 bà Nguyễn Thụy Ánh H đã thực hiện các giao dịch rút tiền với tổng số tiền là 156.000.000đ( Một trăm năm mươi sáu triệu đồng). Bà H đã thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền là: 11.238.141đ ( Mười một triệu hai trăm ba mươi tám nghìn một trăm bốn mươi mốt đồng). (Kể từ ngày 30/3/2024 cho đến nay bà H đã không thanh toán số tiền đã sử dụng dù đã làm việc, đôn đốc nhắc nhở. Ngân hàng Thương mại cổ phần S đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ của bà H và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn nhóm 2.
Tính đến ngày 26/11/2024, bà Nguyễn Thụy Ánh H còn nợ tổng số tiền 196.152.271₫( Một trăm chín mươi sáu triệu một trăm năm mươi hai nghìn hai trăm bảy mươi mốt đồng), cụ thể như sau:
Nợ gốc: 144.761.859₫( Một trăm bốn mươi bốn triệu bảy trăm sáu mươi mốt nghìn tám trăm năm mươi đồng)
Lãi+ phí: 51.390.412đ( Năm mươi mốt triệu ba trăm chín mươi nghìn bốn trăm mười hai đồng)
Nay Ngân hàng Thương mại cổ phần S yêu cầu Toà án giải quyết buộc bà Nguyễn Thụy Ánh H phải có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S với tổng số tiền của 02 khoản nợ vay tạm tính đến ngày 26/11/2024 là :
+ 1.857.538.613đ (Một tỷ tám trăm năm mươi bảy triệu năm trăm ba mươi tám nghìn sáu trăm mười ba đồng) đối với hợp đồng tín dụng số LD2007001031 ngày 12/03/2020
+ 196.152.271đ( Một trăm chín mươi sáu triệu một trăm năm mươi hai nghìn hai trăm bảy mươi mốt đồng) đối với khoản vay Hợp đồng phát hành thẻ tín dụng số 23110601 ngày 06/11/2023
Buộc bà Nguyễn Thụy Ánh H phải tiếp tục trả nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền nợ lãi, tiền lãi phạt phát sinh, chi phí khác kể từ ngày 27/11/2024 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ nghĩa vụ trả nợ theo thoả thuận tại Hợp đồng tín dụng số LD2007001031 ký ngày 12/3/2020 và Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng số 23110601 ký ngày 06/11/2023.
Buộc bà Nguyễn Thụy Ánh H phải chịu toàn bộ án phí và các chi phí phát sinh có liên quan.
Xử lý tài sản thế chấp, nếu bà H không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán các khoản tiền nêu trên, cụ thể là:
Quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 391, tờ bản đồ số 27, với diện tích đất là 1455,4m², toạ lạc tại xã S, huyện T, tỉnh Đồng Nai theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DO 340186 do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ cấp ngày 01/3/2024 cho bà Nguyễn Thụy Ánh H.
Trong trường hợp số tiền phát mãi/thu hồi từ tài sản bảo đảm vẫn không đủ trả nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S thì bà Nguyễn Thụy Ánh H phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho đến khi thanh toán hết toàn bộ khoản vay.
Bị đơn bà Nguyễn Thụy Ánh H vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ kiện.
* Ý kiến của vị đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên Tòa:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên Tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đảm bảo đúng quy định pháp luật, Đối với người tham gia tố tụng thì bị đơn không chấp hành đúng quy định pháp luật.
Về việc giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bà Nguyễn Thụy Ánh H có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền nợ còn thiếu theo hợp đồng tín dụng số LD2007001031 ngày 12/03/2020 và Hợp đồng phát hành thẻ tín dụng số 23110601 ngày 06/11/2023.
Xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất của thửa đất số 391 tờ bản đồ số 27 xã S huyện T, tỉnh Đồng Nai theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DO 340186 do văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ cấp ngày 01/3/2024 cho Chủ sở hữu/chủ sử dụng: bà Nguyễn Thụy Ánh H.
Về án phí DSST: Bà Nguyễn Thụy Ánh H phải nộp án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Về thủ tục tố tụng: Bà Nguyễn Thụy Ánh H đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 BLTTDS năm 2015, Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử là đúng quy định pháp luật.
[2] Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Căn cứ Điều 26, 35 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án có thẩm quyền xét xử là Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.
[3] Về tư cách đương sự: Căn cứ khoản 2, khoản 3, khoản 4 Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, xác định Ngân hàng Thương mại cổ phần S là nguyên đơn, bà Nguyễn Thụy Ánh H là bị đơn trong vụ kiện.
[4] Về nội dung vụ án:
Ngân hàng Thương mại cổ phần S khởi kiện bà Nguyễn Thụy Ánh H yêu cầu thanh toán số tiền nợ còn thiếu theo hợp đồng tín dụng số LD2007001031 ngày 12/03/2020 và Hợp đồng phát hành thẻ tín dụng số 23110601 ngày 06/11/2023 tính đến ngày 26/11/2024 với tổng số tiền là 2.053.690.884đ( Hai tỷ không trăm năm mươi ba triệu sáu trăm chín mươi nghìn tám trăm tám mươi bốn đồng) . Đồng thời xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 391 tờ bản đồ số 27 xã S huyện T, tỉnh Đồng Nai theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DO 340186 do văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ cấp ngày 01/3/2024 cho Chủ sở hữu/chủ sử dụng: bà Nguyễn Thụy Ánh H.
Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình, Ngân hàng Thương mại cổ phần S đã cung cấp cho Tòa án hợp đồng tín dụng số LD2007001031 ngày 12/03/2020 và Hợp đồng phát hành thẻ tín dụng số 23110601 ngày 06/11/2023; Hợp đồng thế chấp tài sản số 320/TC ngày 08/03/2024 có công chứng của Văn phòng C ; Phiếu yêu cầu đăng ký biện pháp bảo đảm bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất ngày 08/03/2024; Giấy nhận nợ có chữ ký của bà Nguyễn Thụy Ánh H ( Tấc cả là bản sao có công chứng)
Quá trình Tòa án thụ lý vụ kiện, Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, Quyết định xem xét thẩm định tại chổ; thông báo hòa giải và công khai chứng cứ, thông báo hoãn phiên Hòa giải, quyết định xét xử, quyết định hoãn phiên Tòa cho bà Nguyễn Thụy Ánh H nhưng bà H vẫn vắng mặt không có lý do.
Căn cứ khoản 1 Điều 91, khoản 1 Điều 95 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 4, Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần S về việc yêu cầu bà Nguyễn Thụy Ánh H có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền nợ vay còn thiếu theo hợp đồng tín dụng số LD2007001031 ngày 12/03/2020 và Hợp đồng phát hành thẻ tín dụng số 23110601 ngày 06/11/2023 tính đến ngày 26/11/2024 với tổng số tiền là 2.053.690.884đ( Hai tỷ không trăm năm mươi ba triệu sáu trăm chín mươi nghìn tám trăm tám mươi bốn đồng)
Về xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 391 tờ bản đồ số 27 xã S huyện T, tỉnh Đồng Nai theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DO 340186 do văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ cấp ngày 01/3/2024 cho Chủ sở hữu/chủ sử dụng: bà Nguyễn Thụy Ánh H. Qua xem xét thẩm định tại chổ ngày 05/09/2024 thì là quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 391 tờ bản đồ số 27 xã S huyện T, tỉnh Đồng Nai theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DO 340186 do văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ cấp ngày 01/3/2024 cho Chủ sở hữu/chủ sử dụng: bà Nguyễn Thụy Ánh H là thửa đất trống không có nhà cửa và không có nhân khẩu nào sống trên đất. Việc thế chấp là đúng theo quy định pháp luật nên chấp nhận yêu cầu xử lý tài sản thế chấp của Ngân hàng Thương mại cổ phần S đối với quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 391 tờ bản đồ số 27 xã S huyện T, tỉnh Đồng Nai theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DO 340186 do văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ cấp ngày 01/3/2024 cho Chủ sở hữu/chủ sử dụng: bà Nguyễn Thụy Ánh H để đảm bảo cho khoản vay của Hợp đồng tín dụng số LD2007001031 ngày 12/03/2020
[6] Về chi phí tố tụng:
Chi phí xem xét thẩm định tại chổ: 5.000.000đ( Năm triệu đồng)
Tiền sao lục hồ sơ: 1.100.000đ( Một triệu một trăm nghìn đồng)
Tổng cộng 6.100.000đ( Sáu triệu một trăm nghìn đồng)
Số tiền này Ngân hàng Thương mại cổ phần S đã nộp tạm ứng. Căn cứ khoản 1 điều 156, khoản 1 điều 158 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2016 bà H có trách nhiệm trả lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền này.
[6] Về án phí DS-ST: Bà H phải nộp theo quy định pháp luật.
[7] Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên Tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 26, Điều 35, khoản 2, 3, 4 Điều 68; Khoản 1 điều 91, khoản 1 điều 95; khoản 1 điều 156, khoản 1 điều 158; điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Áp dụng Điều 4; Điều 463, Điều 466, 468, 470 Bộ luật dân sự năm 2015.
- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần S .
Buộc bà Nguyễn Thụy Ánh H có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền nợ còn thiếu theo hợp đồng tín dụng số LD2007001031 ngày 12/03/2020 và Hợp đồng phát hành thẻ tín dụng số 23110601 ngày 06/11/2023 tính đến ngày 26/11/2024 với tổng số tiền là 2.053.690.884đ( Hai tỷ không trăm năm mươi ba triệu sáu trăm chín mươi nghìn tám trăm tám mươi bốn đồng) và 6.100.000₫ ( Sáu triệu một trăm nghìn đồng) chi phí tố tụng
Tài sản bảo đảm thi hành án:
Quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 391 tờ bản đồ số 27 xã S huyện T, tỉnh Đồng Nai theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DO 340186 do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ cấp ngày 01/3/2024 cho Chủ sở hữu/chủ sử dụng: bà Nguyễn Thụy Ánh H
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử bà H còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ vay chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ vay này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên thỏa thuận về việc điều chính lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Về án phí DS-ST: bà H phải nộp 73.073.817đ( Bảy mươi ba triệu không trăm bảy mươi ba nghìn tám trăm mười bảy đồng). Hoàn trả Ngân hàng Thương mại cổ phần S 33.926.091₫ ( Ba mươi ba triệu chín trăm hai mươi sáu nghìn không trăm chín mươi mốt đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0003937 ngày 24/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai.
- Ngân hàng Thương mại cổ phần S, bà H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận: - Tòa án tỉnh Đồng Nai (01); - VKSND TP.Biên Hòa (02); - THADS TP.Biên Hòa (01); - Các đương sự (02); - Lưu (03). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà Trần Thị Mộng Hà |
Bản án số 261/2024/DS-ST ngày 26/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAΙ về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 261/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/11/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAΙ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TMCP S kiện bà H
