|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG Bản án số: 261/2024/HS-ST Ngày 08-11-2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hương.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Hà Thị Nga
Bà Nguyễn Thị Bích Lý
- Thư ký phiên toà: Ông Phùng Hoàng Phú - Thư ký Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Quỳnh Anh Thư - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 247/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 960/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 10 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Anh V, sinh ngày 18 tháng 06 năm 1994 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Số A Đ, phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do, trình độ văn hóa: Lớp 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Tiến M và bà Nguyễn Thị Mai H (đã chết), chưa có vợ con; tiền án: Tại Bản án số 59/2016/HSST ngày 26/7/2016, Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xử phạt 24 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; tại Bản án số 21/2016/HSST ngày 28/7/2016, Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng xử phạt 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, tại Quyết định tổng hợp hình phạt tù số 01/2016/QĐTHHP-TA ngày 31/8/2016 của Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng bị cáo phải chấp hành tổng hình phạt của hai bản án 39 tháng tù; Bản án số 92/2020/HSST ngày 04/9/2020, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xử phạt 30 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (đều chưa được xoá án tích); tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ ngày 11/06/2024, tạm giam ngày 19/06/2024; có mặt.
2. Đinh Xuân T sinh ngày 02 tháng 06 năm 1991 tại Hải Phòng. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số I A, phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng; chỗ ở: Không có nơi ở cố định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Xuân T1 (đã chết) và bà Phạm Thị N; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tại Bản án số 175/2006/HSST ngày 31/8/2006, Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xử phạt 36 tháng tù về tội Cướp tài sản; Bản án số 141/2010/HSST ngày 31/12/2010, Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xử phạt 09 năm tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy; Bản án số 92/2020/HSST ngày 04/9/2020, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xử 30 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (đều đã xóa án tích); bị bắt tạm giữ ngày 11/06/2024, tạm giam ngày 19/06/2024; có mặt.
Bị hại:
1. Chị Nguyễn Thị Hoàng A, sinh năm 2000; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Xóm C, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định; chỗ ở: Số A T, phường K, quận L, thành phố Hải Phòng; vắng mặt
2. Anh Vũ T2, sinh năm 2002; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn C, xã Q, huyện T, thành phố Hải Phòng; chỗ ở: Số A T, phường K, quận L, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
3. Anh Lê Văn Đ, sinh năm 1993; nơi cư trú: Số F L, phường K, quận L, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tối ngày 02/06/2024 Nguyễn Anh V liên lạc qua mạng xã hội rủ Đinh Xuân T đi trộm cắp tài sản, T đồng ý. Từ ngày 03/6/2024 đến ngày 10/6/2024 V và T cùng nhau thực hiện hành vi trộm cắp như sau:
Vụ thứ nhất: Khoảng 02 giờ 00 phút ngày 03/6/2024, T điều khiển xe máy Airblade màu đen, biển kiểm soát 15AP-013.13 đến ngõ A Đ, quận N, thành phố Hải Phòng để đón V. T chở V đi lòng vòng các tuyến đường tìm sơ hở để trộm cắp tài sản. Khi đi đến dãy trọ ở số A T, phường K, quận L, thành phố Hải Phòng thì V phát hiện thấy có 04 chiếc xe máy dựng ở sân chung, không có ai trông coi, V bảo T dừng xe lại đứng ngoài cảnh giới, còn V xuống xe đi vào thì thấy cổng không khóa, V mở cổng đi vào sân dắt chiếc máy Wave Alpha màu trắng, biển kiểm soát 18K1-443.00 của chị Nguyễn Thị Hoàng A đang dựng ở cửa phòng trọ số 7 mang ra ngoài ngõ rồi dùng tay giật đứt 02 dây điện dưới ổ khóa điện và nối lại với nhau để khởi động xe. Khi nổ được máy, V điều khiển đi đi trước, còn T điều khiển xe đi phía sau, cả hai đi đến khu vực ngõ B Đà Nẵng, phường C, quận N, thành phố Hải Phòng thì thấy Trường mầm non H2 -3 vẫn mở cửa nên dừng xe lại, T bảo để T đem xe vào gửi. Tại đây, T gặp và gửi xe vừa trộm cắp được cho bảo vệ là ông Phạm Văn C, sinh năm 1950; nơi cư trú: Khu M, phường C, quận N, thành phố Hải Phòng và lấy vé gửi xe số 40. Sau khi gửi xe xong, T chở V quay trở lại dãy trọ số 16/38/31 Trại Lẻ để tiếp tục trộm cắp xe. Đến nơi, V đi vào sân dắt chiếc xe máy Wave Alpha màu trắng, đen bạc biển kiểm soát 15H1-259.32 của anh Vũ T2 đang dựng trước cửa phòng trọ số 2 mang ra ngoài ngõ, Việt đấu nối dây ổ khóa điện, khởi động nổ máy rồi mang gửi xe ở Bệnh viện đa khoa quận N tại địa chỉ số B L, phường M, quận N, thành phố Hải Phòng. Sau đó, T chở V về nhà.
Vụ thứ hai: Khoảng 03h ngày 10/6/2024, Nguyễn Anh V tiếp tục rủ Đinh Xuân T đi trộm cắp tài sản. T đồng ý và đi xe máy Airblade màu đen, biển kiểm soát 15AP-013.13 đến đón V, T chở V đi lòng vòng tìm sơ hở để trộm cắp tài sản. T và V phát hiện thấy chiếc xe máy Sirius biển kiểm soát 15H1-373.85 của anh Lê Văn Đ dựng ở trong sân nhà số F đường L, phường K, quận L, thành phố Hải Phòng, không có ai trông coi. T đứng cảnh giới, còn V đi vào sân dắt xe ra ngõ, dùng tay giật đứt dây điện ở ổ khóa điện và đấu lại rồi khởi động nổ máy xe đi đến Trường mầm non H3 tại địa chỉ số B Đà Nẵng, phường C, quận N, thành phố Hải Phòng. T vào gửi xe vừa trộm cắp được cho bảo vệ là ông Phạm Văn C lấy vé gửi xe số 92. Sau đó, T chở V về nhà.
Do chưa tìm được chỗ tiêu thụ và sợ bị phát hiện nên V và T bàn nhau mang cả 03 chiếc xe trộm cắp được đi gửi ở chỗ khác. Vào khoảng 02h ngày 11/6/2024, T và V đến Bệnh viện Đa khoa quận N lấy xe máy biển kiểm soát 15H1-259.32 của anh T2, khi đi đến khu vực đầu ngõ A Đ, T đã dùng tô vít tháo biển kiểm soát vất ở bãi rác gần đó rồi cùng V mang xe đến quán nước ở chân C gửi chị Nguyễn Thị Hải H1, sinh năm 1972; nơi thường trú: Tổ dân phố số B, phường N, quận L, thành phố Hải Phòng. Sau đó, T chở V đến Trường mầm non H3 để lấy xe, khi vừa lấy được chiếc xe máy Wave Alpha màu trắng, biển kiểm soát 18K1-443.00 của chị Nguyễn Thị Hoàng A ra ngoài thì bị bắt và thu giữ vật chứng.
Ngày 04/6/2024, chị Nguyễn Thị Hoàng A giao nộp 01 usb ghi lại hình ảnh vụ việc.
Ngày 11/6/2024 và ngày 01/8/2024, chị Nguyễn Thị Hải H1 và ông Phạm Văn C đã tự nguyện giao nộp 01 xe máy Wave Alpha màu trắng đen bạc số máy: JA39E0035082; số khung: RLHJA3906HY035029 (xe khôngcó biển kiểm soát) và 01 xe môtô Sirius biển kiểm soát 15H1-373.85 cho Cơ quan điều tra.
Tại Kết luận định giá tài sản số 57 ngày 11/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận L kết luận: Giá trị của chiếc xe máy Honda Wave Alpha màu trắng biển kiểm soát 18K1-443.00 là 12.000.000đồng;
Tại Kết luận định giá tài sản số 57 ngày 11/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận L kết luận: Giá trị của chiếc xe máy Honda Wave Alpha màu trắng đen bạc, số máy: JA39E0035082; số khung: RLHJA3906HY035029 là 10.700.000đồng.
Tại Kết luận định giá tài sản số 96 ngày 06/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận L kết luận: Giá trị của chiếc xe máy Yamaha Sirius biển kiểm soát 15H1-373.85 màu đen xám là 7.500.000 đồng.
Đối với ông Phạm Văn C, chị Nguyễn Thị Hải H1 đã nhận trông hộ xe, do ông C và chị H1 không biết là tài sản cho V và T phạm tội mà có nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận L xử lý.
Đối với 02 vé xe số 40 và 92 Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho Phạm Văn C.
Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Anh V và Đinh Xuân T khai nhận: Để có tiền ăn tiêu nên V đã rủ T đi trộm cắp tài sản. Vào khoảng 02 giờ 00 phút ngày 03/6/2024, T và V đã trộm cắp chiếc máy Wave Alpha màu trắng, biển kiểm soát 18K1-443.00 và chiếc xe máy Wave Alpha màu trắng, đen bạc biển kiểm soát 15H1-259.32 tại sân nhà trọ số dãy trọ số 16/38/31 Trại Lẻ. Đến khoảng 03h ngày 10/6/2024, T và V tiếp tục trộm cắp chiếc xe máy Sirius biển kiểm soát 15H1-373.85 dựng ở sân nhà số F L sau đó mang đi gửi để tránh sự phát hiện và tìm cơ hội tiêu thụ.
Bị hại là chị Nguyễn Thị Hoàng A khai: Vào khoảng 18 giờ 00 phút ngày 02/06/2024, khi chị đi làm về chị có dựng chiếc xe máy Honda Wave Alpha màu trắng biển kiểm soát 18K1-443.00 cạnh cửa sổ phòng trọ số 4 của nhà trọ địa chỉ số A T, đầu xe hướng về cuối dãy nhà trọ, đuôi xe hướng ra ngoài, xe chỉ khóa điện chứ không khóa cổ, giấy tờ liên quan đến xe chị để ở trong cốp rồi đóng cửa vào phòng nghỉ ngơi; đến khoảng 07 giờ 30 phút 03/6/2024 chị chuẩn bị đi làm thì phát hiện xe của mình bị mất. Hiện chị đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, chị không yêu cầu gì.
Bị hại là anh Vũ T2 khai: Vào khoảng 22 giờ 30 phút ngày 02/06/2024, khi anh đi làm về anh có dựng chiếc xe máy Honda Wave Alpha màu trắng đen bạc biển kiểm soát 15H1 -259.32 cạnh cửa sổ phòng trọ số 7 của sân chung dãy nhà trọ địa chỉ số A T, đầu xe hướng về cuối dãy nhà trọ, đuôi xe hướng ra ngoài cổng, xe chỉ khóa điện chứ không khóa cổ rồi vào phòng nghỉ ngơi; đến khoảng 07 giờ 30 phút ngày 03/6/2024 anh nghe tiếng chị Hoàng A đứng ở sân nói chuyện bị mất xe máy thì anh mở cửa ra xem sự việc thế nào thì anh phát hiện xe của mình cũng bị mất. Hiện anh đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, anh không không yêu cầu gì.
Bị hại anh Lê Văn Đ khai: Vào khoảng 20 giờ 00 phút ngày 09/06/2024, anh có dựng chiếc xe máy nhãn hiệu Sirius biển kiểm soát 15H1-373.85 ở trong sân nhà số F đường L, phường K, quận L, thành phố Hải Phòng, đầu xe hướng vào trong nhà, đuôi xe hướng ra cổng, xe không khóa cổ rồi vào nhà nghỉ ngơi. Đến khoảng 05 giờ 00 phút ngày 10/6/2024 thì anh phát hiện xe của mình bị mất. Hiện anh đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, anh không không yêu cầu gì.
Tại Cáo Trạng số 259/CT-VKSLC ngày 07 tháng 10 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân đã truy tố: Bị cáo Nguyễn Anh V về tội Trộm cắp tài sản, vi phạm điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự; bị cáo Đinh Xuân T về tội Trộm cắp tài sản, vi phạm khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung vụ án đã nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất của vụ án, mức độ, tính nguy hiểm và hậu quả của hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo đã giữ nguyên quyết định như đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173, điểm g khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38; Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Anh V mức án từ 42 đến 48 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.
Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm g khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38; Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Đinh Xuân T mức án từ 24 đến 30 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.
Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Các bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì nên không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước chiếc xe máy nhãn hiệu Airblade màu đen biển kiểm soát 15AP-013.13 đã thu giữ của bị cáo T.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về hành vi Trộm cắp tài sản:
[2] Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của các bị hại, nội dung bản cáo trạng, vật chứng thu giữ, kết luận định giá tài sản cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Vào khoảng 02 giờ 00 phút ngày 03/6/2024, Nguyễn Anh V và Đinh Xuân T đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave Alpha màu trắng biển kiểm soát 18K1-443.00 trị giá 12.000.000đồng của chị Nguyễn Thị Hoàng A và chiếm đoạt chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave Alpha màu sơn trắng đen bạc, số máy: JA39E0035082; số khung: RLHJA3906HY035029 trị giá 10.700.000đồng của anh Vũ T2 tại khu vực sân nhà số A đường T, phường K, quận L, thành phố Hải Phòng và đến khoảng 03 giờ 00 phút ngày 10/6/2024, V và T lại tiếp tục thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha Sirius biển kiểm soát 15H1-373.85 trị giá 7.500.000đồng của anh Lê Văn Đ tại khu vực sân nhà số F đường L, phường K, quận L, thành phố Hải Phòng; tổng trị giá tài sản các bị cáo chiếm đoạt là 30.200.000đồng (Ba mươi triệu, hai trăm nghìn đồng). Do vậy, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Anh V và bị cáo Đinh Xuân T đồng phạm tội Trộm cắp tài sản vi phạm Điều 173 Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết định khung:
[3] Bị cáo Nguyễn Anh V có 03 tiền án chưa được xóa án tích nên phải chịu tình tiết định khung là “tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo Đinh Xuân T có 03 tiền án, trong đó: 01 tiền án tại bản án số 175/2006/HSST ngày 31/8/2006 của Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền xử phạt 36 tháng tù về tội Cướp tài sản, do tại thời điểm phạm tội bị cáo mới 14 tuổi 08 tháng 22 ngày nên được coi là không có án tích; 02 tiền án tại bản án số 141/2010/HSST ngày 31/12/2010 của Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền xử phạt 09 năm tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và tại bản án số 92/2020/HSST ngày 04/9/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xử phạt 30 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản đều đã được xóa án tích. Do vậy, bị cáo Đinh Xuân T chịu tình tiết định khung quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự;
[4] Đánh giá về vai trò phạm tội của các bị cáo trong vụ án: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản, gây mất trật tự trị an xã hội; tội phạm các bị cáo thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, đã lợi dụng sơ hở, mất cảnh giác của chủ sở hữu, dùng thủ đoạn lén lút để chiếm đoạt tài sản. Bị cáo V là người khởi xướng và trực tiếp thực hiện việc chiếm đoạt tài sản; bị cáo T tiếp nhận ý chí của bị cáo V, cảnh giới cho bị cáo V thực hiện việc chiếm đoạt, đã sử dụng phương tiện của mình để chở bị cáo V đi tìm tài sản để chiếm đoạt, để tránh sự phát hiện thì các bị cáo đã cũng nhau đi tìm nơi cất giấu và thay đổi địa điểm cất giấu tài sản đã chiếm đoạt được nên vai trò phạm tội của bị cáo V cao hơn vai trò phạm tội của bị cáo T. Vì vậy, cần căn cứ vào Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự để quyết định hình phạt đối với các bị cáo.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
[5] Các bị cáo đã 02 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, mỗi lần đều đủ cấu thành tội phạm nên các bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[6] Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà các bị cáo đã khai báo thành khẩn hành vi phạm tội của mình nên các bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[7] Về hình phạt áp dụng đối với các bị cáo: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đặc điểm nhân thân của các bị cáo như đã phân tích ở trên, Hội đồng xét xử thấy cần có hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo, xử phạt bị cáo T mức hình phạt tù trên mức khởi điểm của khung hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo V mức hình phạt tù trên mức khởi điểm của khung hình phạt quy định tại khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.
- Về trách nhiệm bồi thường dân sự:
[6] Tài sản các bị cáo chiếm đoạt đã được thu hồi trả lại cho các bị hại, các bị hại không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
-Về xử lý vật chứng:
[7] Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Airblade màu đen biển kiểm soát 15AP-013.13 thu giữ của bị cáo T; xét là phương tiện dùng vào việc phạm tội nên căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, cần tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước.
- Về các vấn đề khác:
[8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[9] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, các bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173; điểm g khoản 1 điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự;
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Anh V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh V 48 (Bốn mươi tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11 tháng 06 năm 2024.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự;
Tuyên bố bị cáo Đinh Xuân T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Đinh Xuân T 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11 tháng 06 năm 2024.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự;
Tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước chiếc xe máy nhãn hiệu Airblade màu đen biển kiểm soát 15AP-013.13 thu giữ của bị cáo T.
(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 08 tháng 10 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân).
Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc các bị cáo V, T mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án;
Các bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Hương |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Hương |
Bản án số 261/2024/HS-ST ngày 08/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 261/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Anh Việt , Đinh Xuân Thắng - Trộm cắp tài sản
