Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LONG AN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 261/2024/HC-ST
Ngày 30-9-2024
V/v “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực thuế

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thúy Lành

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Thanh Nhật
  2. Ông Võ Minh Quốc

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Mai – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Long An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Thoa - Kiểm sát viên

Ngày 30 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân tỉnh Long An họp phiên toà để xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 188/2024/TLST-HC ngày 08 tháng 7 năm 2024 về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực thuế”.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 249/2024/QĐXXST-HC ngày 21 tháng 8 năm 2024, giữa:

Người khởi kiện:

- Bà Phạm Thị H năm 1947. Địa chỉ: Ấp G, xã N, huyện T, tỉnh Long An

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Quốc V năm 1991; địa chỉ 538, Quốc lộ F, phường F, TP T, tỉnh Long An(Có mặt)

Người bị kiện:

Chi cục thuế khu vực T - T, tỉnh Long AnĐịa chỉ: Số B, đường N, Phường A, thành phố T, tỉnh Long An

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Phú Q cục trưởng

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Võ Hoàng B Chi cục trưởng Chi cục thuế khu vực T1. (Có mặt)

Người có quyền nghĩa vụ liên quan: Văn phòng Đ

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn L giám đốc Chi nhánh Văn phòng đất đai tại huyện T(Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ghi ngày 03/6/2024 và tại phiên tòa,ông Nguyễn Quốc V1, người đại diện theo ủy quyền của bà Phạm Thị H1 trình bày:

Nguồn gốc thửa đất số 137, tờ bản đồ số 03, đất tọa lạc tại xã N, huyện T, tỉnh Long Ando cha của bà là ông Phạm Văn K năm 1918 (đã chết), mẹ ông là bà Đặng Thị T năm 1921 cùng địa chỉ Ấp G, N, T, Long Antặng cho bà ngày 24/5/1999 được UBND xã Nxác nhận. Cha mẹ bà là người sử dụng đất từ năm 1957.

Tại bản án số 48/2023/DS-PT, ngày 16/2/2023 về việc tranh chấp ranh đất giữa bà H2 bà Lê CTòa án nhân dân tỉnh Long An tuyên giữ nguyên bản án sơ thẩm số 91/2022/DS-ST, ngày 20/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An theo nội dung các bản án bà được quyền liên hệ tới cơ quan nhà nước có thẩm quyền để kê khai, đăng ký biến động theo quy định của pháp luật đối với thửa số 137, tờ bản đồ số 03 nói trên.

Bà đã hoàn thiện thủ tục hồ sơ, nộp tới trung tâm dịch vụ hành chính công huyện T và được xác nhận hồ sơ đầy đủ, hợp lệ và đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngày 18/10/2023 chi cục thuế khu vực T2– T, tỉnh Long Anban hành thông báo nộp lệ phí trước bạ nhà, đất số tiền 10.723.050 đồng và thông báo nộp tiền sử dụng đất số tiền 623.610.000 đồng. Thời hạn hoàn thành thành nghĩa vụ nộp chậm nhất 30 ngày kể từ ngày ban hành thông báo.

Tại Quyết định của ủy ban nhân dân tỉnh L 3691/QĐ-UB, ngày 3/12/1999, do chủ tịch UBND tỉnh N T1ký tại điều 1 xác định Công nhận quyền sử dụng đất cho ông Phạm Văn K1 hiện trạng hàng dừa vào phía trong nhà ông Phạm Văn K2 2: Giao cho Chủ tịch UBND huyện T thực hiện Quyết định này và báo cáo cho UBND tỉnh biết.

Tại phiên tòa, đại diện người khởi kiện cho rằng, bà Phạm Thị H3 nộp hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhiều lần. Ông Phạm Văn K3 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 1996, theo mẫu của UBND tỉnh (giấy trắng). Hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà H4 phải cấp giấy lần đầu.

Như vậy việc Chi cục thuế khu vực T4Txác định bà phải có nghĩa vụ nộp lệ phí trước bạ nhà, đất số tiền 10.723.050 đồng và nghĩa vụ nộp tiền sử dụng đất số tiền 623.610.000 đồng là không đúng quy định pháp luật. Vì vậy, bà khởi kiện tại TAND tỉnh Long An, đề nghị tòa án xem xét hủy các văn bản:

  • Hủy Thông báo nộp tiền về lệ phí trước bạ nhà, đất LTB2380119-TK0007928/TB-CCT, ngày 18/10/2023 của chỉ cục thuế khu vực T - T, tỉnh Long An
  • Hủy Thông báo nộp tiền sử dụng đất số LTB2380119-TK0007930/TB-CCT, ngày 18/10/2023 của chỉ cục thuế khu vực T - T, tỉnh Long An

* Người bị kiện – Chi cục thuế khu vực T3 - Ttrình bày ý kiến về việc khởi kiện của bà Phạm Thị H5 Công văn số 33/CCTKV-TTTBTK ngày 23/7/2024:

Ngày 18/10/2023, Chi cục Thuế khu vực T2– Thủ Thừa có tiếp nhận hồ sơ xác định nghĩa vụ tài chính do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện T đến theo Phiếu chuyển thông tin địa chính số H39.33-23092 0036/PCTTĐC ngày 13/10/2023 về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với Bà Phạm Thị H1

Căn cứ Tờ trình số 932 ngày 05/9/2023 của phòng Tài nguyên - Môi trường về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sử dụng nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất;

Quyết định cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 6009/QĐ-UB ngày 11/10/2023 của UBND huyện T việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sử dụng nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

Căn cứ Tờ trình số 847 ngày 20/9/2023 của UBND xã N cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ban đầu;

Căn cứ vào công văn số 40/CNVPĐKĐĐ ngày 04/01/2024 của Chi nhánh VPĐKĐĐ tại huyện Tvề việc phúc đáp công văn số 1601/TN-MT ngày 27/12/2023 của Phòng T4

Căn cứ vào công văn số 273/CNVPĐKĐĐ ngày 29/01/2024 của Chi nhánh VPĐKĐĐ tại huyện Tvề việc cung cấp thông tin của bà Phạm Thị H5 xã N, huyện T

Căn cứ các thông tin có trên Phiếu chuyển thông tin địa chính

Căn cứ quy định tại Điều 6 Nghị định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15/05/2014 quy định về thu tiền sử dụng đất

“Điều 6. T2tiền sử dụng đất khi công nhận quyền sử dụng đất (cấp Giấy chứng nhận) cho hộ gia đình, cá nhân đối với đất đã sử dụng ổn định từ trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 mà không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Khoản 1 Điều 100 Luật Đất đai

1. Hộ gia đình, cả nhân đang sử dụng đất có nhà ở, công trình xây dựng khác từ trước ngày 15 tháng 10 năm 1993, tại thời điểm bắt đầu sử dụng đất không có một trong các hành vi vi phạm theo quy định tại Điều 22 Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai, nếu được cấp Giấy chứng nhận thì thu tiền sử dụng đất như sau:

a) Trường hợp đất có nhà ở thì người sử dụng đất không phải nộp tiền sử dụng đất đối với diện tích đất ở đang sử dụng trong hạn mức công nhận đất ở cho mỗi hộ gia đình, cá nhân; đối với diện tích đất ở vượt hạn mức công nhận đất ở (nếu có) thì phải nộp tiền sử dụng đất bằng 50% tiền sử dụng đất theo giá đất quy định tại Điểm b, Điểm c Khoản 3 Điều 3 Nghị định này tại thời điểm có quyết định công nhận quyền sử dụng đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền....”

Căn cứ quyết định số 13/2023/QĐ-UBND về việc triển khai thực hiện Nghị Quyết số 01/2023/NQ-HĐND ngày 28/02/2023 của Hội đồng nhân dân tỉnh về quy định hệ số điều chỉnh giá đất trên địa bàn tỉnh năm 2023.

Chi cục T4xác định và đã ban hành các thông báo sau:

  • Lệ phí trước bạ theo thông báo số LTB2380119-TK0007928/TB-CCT với số tiền 10.723.050 đồng (423m² x 5.070.000 đồng/m² x 0.5%);
  • Tiền sử dụng đất theo thông báo số LTB2380119-TK0007930/TB-CCT với số tiền 623.610.000 đồng:
    • + Diện tích trong hạn mức: 300m²: không thu
    • + Diện tích ngoài hạn mức: 123m² x 5.070.000 đ/m² x 50% x 2 - 623.610.000 đồng.

Người có quyền nghĩa vụ liên quan Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh L ý kiến: Đất của bà H7 nguồn gốc đất là của ông K4 của ông K5 tên trong sổ mục kê vào các năm 1996, 2003, 2014. Thuộc trường hợp đất sử dụng ổn định, không có tranh chấp, không có các giấy tờ theo điều 100 Luật đất đai nên không phải nộp thuế đối với phần đất trong hạn mức. Phần ngoài hạn mức phải nộp thuế. Về phương thức tính thuế thì căn cứ quy định về thuế, không thuộc trách nhiệm của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện T

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An phát biểu:

Về trình tự thủ tục đảm bảo theo quy định của tố tụng. Việc thu thập chứng cứ, xác minh, công khai chứng cứ đảm bảo. Tại phiên tòa Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử thực hiện đúng chức năng nhiệm vụ và quyền hạn. Các bên đương sự thực hiện đúng tố tụng về quyền và nghĩa vụ theo quy định của Luật Tố tụng hành chính.

Về yêu cầu của người khởi kiện: Xét thấy, bà Phạm Thị Hsử D đất trên cơ sở đất do ông Phạm Văn K6 bà Hsử dụng trước đó. Tuy nhiên, ông K7 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trước đó, không có các giấy tờ theo điều 100 Luật đất đai nên bà H14 trường hợp cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu.

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính, đề nghị không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị H6 việc:

  • Hủy Thông báo nộp tiền về lệ phí trước bạ nhà, đất LTB2380119-TK0007928/TB-CCT, ngày 18/10/2023 của chỉ cục thuế khu vực T - T, tỉnh Long An
  • Hủy Thông báo nộp tiền sử dụng đất số LTB2380119-TK0007930/TB-CCT, ngày 18/10/2023 của chỉ cục thuế khu vực T - T, tỉnh Long An

Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bà Phạm Thị H7 nghĩa vụ nộp án phí hành chính theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về đối tượng khởi kiện, thẩm quyền.

Bà Phạm Thị H8 kiện về việc: Hủy Thông báo nộp tiền về lệ phí trước bạ nhà, đất LTB2380119- TK0007928/TB-CCT, ngày 18/10/2023 của chi cục thuế khu vực T5; Hủy Thông báo nộp tiền sử dụng đất số LTB2380119-TK0007930/TB-CCT, ngày 18/10/2023 của chi cục thuế khu vực T1, tỉnh Long AnĐây là yêu cầu hủy quyết định hành chính trong lĩnh vực thuế. Người bị kiện là Chi cục thuế khu vực T3 - T, tỉnh Long An. Do đó, thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân tỉnh Long An theo khoản 8, Điều 32 Luật Tố tụng hành chính.

[2] Về thời hiệu khởi kiện: Ngày 18/10/2023, Chi cục thuế khu vực T3 – Thủ Thừa ra hai thông báo về việc nộp tiền lệ phí trước bạ nhà đất và tiền sử dụng đất đối với bà H9 Ngày 17/6/2024, bà H10 đơn khởi kiện trực tiếp tại TAND tỉnh Long An yêu cầu TAND tỉnh Long An hủy hai thông báo nêu trên của Chi cục Thuế khu vực T2– Tlà còn thời hiệu khởi kiện theo quy định tại điểm a, khoản 2, Điều 116, Luật tố tụng hành chính (01 năm).

Căn cứ theo quy định tại Khoản 2 Điều 116 của Luật tố tụng hành chính, yêu cầu khởi kiện của bà H còn thời hiệu khởi kiện.

[3] Về tư cách tố tụng

Việc ủy quyền của các bên đương sự thực hiện đúng thủ tục và đối tượng được chấp nhận.

[4] Việc đối thoại và công khai chứng cứ.

Tòa án đã tiến hành đối thoại theo tố tụng hành chính nhưng đối thoại không thành nên căn cứ Điều 135 Luật tố tụng Hành chính năm 2015 Tòa án lập biên bản đối thoại không thành;

Tòa án công khai chứng cứ theo quy định tại Điều 138 Luật tố tụng Hành chính năm 2015 và đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung.

[4] Về yêu cầu của người khởi kiện:

Người khởi kiện yêu cầu hủy thông báo nộp tiền lệ phí trước bạ nhà, đất số LTB2380119- TK0007928/TB-CCT ngày 18/10/2023; thông báo số LTB2380119-TK0007930/TB-CCT ngày 18/10/2023 của Chi cục thuế khu vực T2 - Tvề việc nộp tiền sử dụng đất.

[5] Xét thấy, bà H11 rằng thửa đất số 137, tờ bản đồ số 03, đất tọa lạc tại xã N, huyện T, tỉnh Long An trước đây đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cha bà là ông Phạm Văn K8 Hcho rằng, việc bà yêu cầu cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất trên không phải thuộc trường hợp cấp lần đầu mà thuộc trường hợp cha tặng cho con. Tuy nhiên, bà H4 cung cấp được chứng cứ về việc ông K9 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, không cung cấp được các giấy tờ thay thế giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do đó, trường hợp xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà H14 trường hợp cấp giấy lần đầu.

[6] Đối với thông báo nộp tiền lệ phí trước bạ nhà, đất số LTB2380119-TK0007928/TB-CCT ngày 18/10/2023: Xét thấy, Thông báo nộp thuế trước bạ đối với bà H17 phù hợp với quy định tại Điều 3, Điều 4 Nghị định số 10/2022/NĐ-CP ngày 15/01/2022 . Hồ sơ vụ án thể hiện bà H4 thuộc trường hợp được miễn lệ phí trước bạ theo quy định tại Điều 10 Nghị định 10/2022/NĐ-CP nên khi bà H12 hiện đăng ký quyền sử dụng đất thì bà phải vụ nộp lệ phí trước bạ theo quy định.

[7] Ngày 18/10/2023, Chi cục Thuế khu vực T2– Thủ Thừa ra thông báo số LTB2380119- TK0007928/TB-CCT để thông báo cho bà về việc nộp tiền lệ phí trước bạ nhà đất là đúng đối tượng theo quy định.

[8] Về số tiền lệ phí trước bạ phải nộp: Tại Chương 2 Nghị định 10/2022/NĐ-CP quy định về căn cứ tính lệ phí trước bạ thì mức thu lệ phí trước bạ phải nộp đối với nhà đất khi đăng ký quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở là 0,5% giá tính lệ phí trước bạ. Cụ thể: Lệ phí trước bạ phải nộp = 0,5% x (Giá 1m² đất trong Bảng giá đất x Diện tích được cấp sổ) = 0,5% x (5.070.000 đồng x 423m²) = 10.723.050 đồng

Như vậy, nội dung thông báo số LTB2380119- TK0007928/TB-CCT của Chi cục Thuế khu vực T2– Thủ Thừa xác định số tiền lệ phí trước bạ mà bà H13 nộp 10.723.050 đồng là đúng quy định pháp luật về đối tượng nộp và mức thu lệ phí trước bạ nhà đất.

[9] Đối với thông báo số LTB2380119-TK0007930/TB-CCT ngày 18/10/2023 của Chi cục thuế khu vực T6 Thừa về việc nộp tiền sử dụng đất: Như đã phân tích ở trên, hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Phạm Thị H14 trường hợp cấp giấy lần đầu.Tại Điều 18 Nghị định 43/2014/NĐ-CP quy định các loại giấy tờ khác về quyền sử dụng đất quy định tại điểm g khoản 1 Điều 100 của Luật Đất đai năm 2013 gồm Sổ mục kê đất lập trước ngày 18/12/1980. Nhưng hồ sơ vụ án thể hiện sổ mục kê của bà Phạm Thị H15 lập ngày 08/101997 nên sổ mục kê này không được xem là giấy tờ khác về quyền sử dụng đất để làm cơ sở cấp giấy CNQSDĐ theo Điều 100 Luật đất đai năm 2013. Ngoài ra, bà H4 cung cấp được loại giấy tờ nào khác về quyền sử dụng đất theo quy định tại Điếu 100 Luật đất đai năm 2013 nên Chi cục Thuế khu vực T2– Thủ Thừa xác định trường hợp của bà là đất đã sử dụng ổn định từ trước ngày 15/10/1993 mà không có một trong các loại giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều 100 Luật Đất đai để làm cơ sở xác định nghĩa vụ về thuế đối với bà H17 phù hợp.

Hồ sơ vụ án thể hiện vị trí đất mà bà H16 cấp giấy CNQSDĐ tọa lạc tại xã N, huyện T quy định Tại khoản 1 Điều 6 Nghị định 45/2014/NĐ-CP quy định về thu tiền sử dụng đất khi công nhận quyền sử dụng đất (cấp Giấy chứng nhận) cho hộ gia đình, cá nhân đối với đất đã sử dụng ổn định từ trước ngày 15/10/1993 mà không có một trong các loại giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều 100 Luật Đất đai và Điều 3, 4 của Quy định hạn mức giao đất, công nhận quyền sử dụng đất đối với một số loại đất trên địa bàn tỉnh Long An được ban hành kèm Quyết định số 46/2014/QĐ-UBND ngày 30/9/2014 của UBND tỉnh L hạn mức giao đất ở đối với bà H17 300m², đối với diện tích vượt hạn mức thì bà H13 nộp tiền sử dụng đất bằng 50% tiền sử dụng đất theo giá đất cụ thể được xác định theo phương pháp hệ số điều chỉnh giá đất. Cụ thể: bà H16 cấp giấy CNQSDĐ đối với diện tích 423m², phần diện tích vượt hạn mức là 123 m². Số tiền sử dụng đất phải nộp là: 123 m² x 5.070.000 đồng x 50% x 2 = 623.610.000 đồng.

Như vậy, Chi cục thuế khu vực T - Tra thông báo số LTB2380119-TK0007930/TB-CCT ngày 18/10/2023 đối với bà H17 có cơ sở theo quy định pháp luật.

Từ những phân tích trên, yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị H17 không có cơ sở để chấp nhận.

[10] Phát biểu của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An là có căn cứ.

[11] Về án phí: Điều 348 Luật Tố tụng Hành chính năm 2015 và Điều 32 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội hướng dẫn về án phí, lệ phí Tòa án, bà Phạm Thị H1 phải chịu án phí hành chính sơ thẩm nhưng thuộc trường hợp miễn nộp tạm ứng án phí. Chi cục T3không phải chịu án phí hành chính sơ thẩm.

Vì các lẽ trên.

Điều 3, Điều 4 Nghị định số 10/2022/NĐ-CP ngày 15/01/2022; khoản 1 Điều 6 Nghị định 45/2014/NĐ-CP

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 3, Điều 30, Điều 32 Luật tố tụng Hành chính 2015;

Áp dụng Khoản 1, Khoản 2 Điều 193, Điều 358 và Điều 348 Luật Tố tụng Hành chính năm 2015;

Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Không chấp nhậ yêu cầu của bà phạm Thị H6 việc yêu cầu

  1. Hủy Thông báo nộp tiền về lệ phí trước bạ nhà, đất LTB2380119-TK0007928/TB-CCT, ngày 18/10/2023 của chỉ cục thuế khu vực T - T, tỉnh Long An
  2. Hủy Thông báo nộp tiền sử dụng đất số LTB2380119-TK0007930/TB-CCT, ngày 18/10/2023 của chỉ cục thuế khu vực T - T, tỉnh Long An

4. Về án phí:

5. Về quyền kháng cáo:

Các đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • -VKS tỉnh Long An
  • -UBND tỉnh Long An
  • -Cục THA Dân sự Long An
  • -Các đương sự
  • -Lưu

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Hoàng Thị Thúy Lành

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 261/2024/HC-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN về khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực thuế

  • Số bản án: 261/2024/HC-ST
  • Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực thuế
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hành chính
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: KHiếu kiện thuế
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger