Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 261/2024/HS-ST

Ngày 29 - 5 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Bảo

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Chánh;

Ông Trần Công Danh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Trang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Ông Mai Văn Thông - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 261/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 5 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 241/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 261/2024/QÐST-HS ngày 22 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Võ Minh T, sinh năm 1987 tại tỉnh Đồng Nai;

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 168, khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Chỗ ở hiện nay: tổ C, khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Tấn T1, sinh năm 1960 và bà Hồ Ngọc M, sinh năm 1958; bị cáo có vợ Thân Thị T2, sinh năm 1989 (đã ly hôn năm 2022) và có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2013, nhỏ nhất sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Bà Thân Thị T2, sinh năm 1988 (có mặt)

Địa chỉ: B khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

- Người làm chứng: Ông Phan Văn K, sinh năm 1994 (vắng mặt)

Địa chỉ: E tổ A, khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Võ Minh T, sinh năm 1987, ngụ tại A, khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai và chị Thân Thị T2 là vợ chồng, nhưng đã ly hôn. Khoảng 20 giờ 00 ngày 17/9/2023, T đi đến Phòng khám thú y “Verapet” tại địa chỉ số D đường N, khu phố E, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai là nơi chị T2 kinh doanh để đòi tiền chị T2 thì hai bên xảy ra mâu thuẫn, T lấy chiếc điện thoại di động Iphone 12 Promax 128Gb từ túi quần chị T2 và yêu cầu chị T2 đọc mật khẩu điện thoại cho T nhưng chị T2 không cho rồi bỏ đi, T tức giận đập chiếc điện thoại di động xuống nền nhà 03 (ba) lần làm hư hỏng hoàn toàn rồi T nhặt điện thoại đã đập hư hỏng cất vào túi quần rồi đi về, trên đường đi T làm rơi mất điện thoại của chị T2. Chị T2 đã trình báo Công an phường T lập hồ sơ chuyển Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B thụ lý theo thẩm quyền. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Võ Minh T đã đã khai nhận hành vi phạm tội như trên.

Biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm (bút lục số 14).

Biên bản đối chất (bút lục số 41).

Biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung bị can T (bút lục số 56-69). Biên bản ghỉ lời khai của bị hại chị T2 (bút lục số 29-31,36-39). Biên bản ghi lời khai người làm chứng (bút lục số 32-35, 40).

Vật chứng:

  • 01 chiếc điện thoại di động Iphone 12 Promax 128Gb (không thu hồi được).
  • 01 USB ghi nhận diễn biến vụ hủy hoại tài sản. Cơ quan Cảnh sát điều tra chuyển theo hồ sơ vụ án. (bút lục 26).

Kết luận định giá tài sản số 551/KL-HĐĐGTS ngày 17 tháng 10 năm 2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: 01 (một) điện thoại di động Iphone 12 Promax loại 128Gb, trị giá là 13.596.000 đồng (mười ba triệu năm trăm chín mươi sáu nghìn đồng). (bút lục số 48-50).

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại chị Thân Thị T2 yêu cầu bị cáo Võ Minh T bồi thường số tiền 13.596.000 đồng (mười ba triệu năm trăm chín mươi sáu nghìn đồng). (bút lục số 26).

Tại bản Cáo trạng số: 262/CT-VKSBH ngày 04/5/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa truy tố bị cáo Võ Minh T về tội “Hủy hoại tài sản” theo khoản 1 Điều 178 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Võ Minh T phạm tội “Hủy hoại tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017): Xử phạt bị cáo Võ Minh T từ 12 đến 18 tháng

2

cải tạo không giam giữ. Về trách nhiệm dân sự: do bị cáo đã bồi thường cho bị hại và bị hại không có yêu cầu gì thêm nên không xem xét; Về án phí: buộc bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Quá trình tranh tụng, bị cáo Võ Minh T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội nên không tranh luận với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Nói lời sau cùng, bị cáo ân hận về hành vi phạm tội của mình, hứa cải tạo trở thành người tốt và mong muốn được Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được ở ngoài để chăm sóc các con nhỏ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa nêu. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án. Từ đó, có đủ cơ sở kết luận: Võ Minh T và Thân Thị T2 trước đây có quan hệ vợ chồng nhưng đã ly hôn năm 2022, nhưng T vẫn còn tình cảm với T2 nên vẫn thường xuyên qua lại gặp T2. Khoảng 20 giờ 00 ngày 17/9/2023, tại phòng khám T3 “Verapet" tại địa chỉ số D đường N, khu phố E, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, do ghen tuông nên T nghĩ T2 đang nhắn tin yêu đương, Võ Minh T lấy điện thoại di động Iphone 12 Promax loại 128Gb của chị Thân Thị T2 và yêu cầu được biết mật khẩu điện thoại để mở xem tin nhắn nhưng T2 không cho mật khẩu nên T đã dùng tay cầm điện thoại đập mạnh xuống nền nhà 03 lần làm hư hỏng điện thoại trên, trị giá điện thoại di động Iphone 12 Promax loại 128Gb là 13.596.000 đồng (mười ba triệu năm trăm chín mươi sáu nghìn đồng) của chị T2.

Như vậy, có đủ căn cứ xác định hành vi của bị cáo Võ Minh T đã cấu thành tội “Hủy hoại tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 178 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Do đó, Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, làm mất an ninh trật tự, trị an xã hội tại địa phương, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Bị cáo và bị hại vốn đã có quan hệ vợ chồng, nhưng chỉ vì muốn hàn gắn tình

3

cảm với bị hại mà bị cáo đã ghen tuông nên có hành vì dùng tay cầm điện thoại đập mạnh xuống nền nhà 03 cái làm hư hỏng điện thoại của bị hại.

[4] Về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tự nguyện bồi thường khắc phục toàn bộ hậu quả cho bị hại đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo được quy định tại các điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Ngoài ra, bị cáo là người có nhân thân tốt, bản thân chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo có các con còn nhỏ. Người bị hại làm đơn xin bãi nại, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo đây là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Hội đồng xét xử cân nhắc tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng để xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật, để bị cáo có điều kiện cùng bị hại chăm sóc các con nhỏ, làm người có ích cho gia đình và xã hội như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 Điều 178 Bộ luật Hình sự thì bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng. Tuy nhiên, căn cứ vào tài liệu chứng cứ và lời khai tại phiên tòa cho thấy bị cáo có thu nhập không ổn định, phải nuôi dưỡng các con nhỏ và không có tài sản nào khác. Nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự:

Quá trình điều tra bị hại chị Thân Thị T2 yêu cầu bị cáo Võ Minh T bồi thường số tiền 13.596.000 đồng (mười ba triệu năm trăm chín mươi sáu nghìn đồng) là giá trị của điện thoại di động Iphone 12 Promax loại 128Gb. Tại phiên tòa, bị hại và bị cáo thống nhất bị cáo đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại. Bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[8] Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tại phiên tòa là phù hợp tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, phù hợp quy định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Võ Minh T phạm tội “Hủy hoại tài sản”.

4

2. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Võ Minh T 01 (một) năm 02 (hai) tháng cải tạo không giam giữ. Thời gian cải tạo không giam giữ được tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

Giao bị cáo Võ Minh T cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành án. Trong thời gian chấp hành án, người bị kết án phải thực hiện nghĩa vụ theo các quy định về cải tạo không giam giữ.

Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

Buộc bị cáo Võ Minh T phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND TP. Biên Hòa;
  • - Cơ quan CSĐT CA TP. Biên Hòa;
  • - Cơ quan THAHS CA TP. Biên Hòa;
  • - Phòng PV06 CA T. Đồng Nai;
  • - Chi cục THADS TP. Biên Hòa;
  • - UBND phường/xã nơi bị cáo cư trú;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Quốc Bảo

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 261/2024/HS-ST ngày 29/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về hủy hoại tài sản

  • Số bản án: 261/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hủy hoại tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Võ Minh T phạm tội Hủy hoại tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger