TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 261/2024/DS-PT
Ngày: 20/5/2024
V/v “Tranh chấp dân sự về tiền chuyển nhượng QSD đất và tài sản gắn liền với đất (nhà)”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Huỳnh Thị Hương Thủy.
- Các Thẩm phán: Ông Sỹ Danh Đạt
Ông Nguyễn Tấn Tặng
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngọc Hà – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Ngọc Quí - Kiểm sát viên.
Ngày 20/5/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 83/2024/TLPT-DS ngày 31 tháng 01 năm 2024, về việc “Tranh chấp dân sự về tiền chuyển nhượng QSD đất và tài sản gắn liền với đất (nhà)”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 34/2023/DS-ST ngày 28 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 154/2024/QĐ-PT ngày 04 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Ngọc Bảo T, sinh năm 1990.
Địa chỉ: Số nhà D đường H, Khóm B, Phường B, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.
- Bị đơn: Chị Đoàn Thị Thu T1, sinh năm 1998.
Địa chỉ: Số nhà A đường Đ, khóm T, phường A, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Phạm Ngọc N, sinh năm 1988. Địa chỉ: Số C rạch C, Khóm B, Phường A, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện theo ủy quyền của anh N là ông Phạm Ngọc M, sinh năm 1959, địa chỉ: tổ A, ấp B, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
- Người kháng cáo: Chị Đoàn Thị Thu T1 là nguyên đơn của vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo nội dung đơn khởi kiện, quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn - chị Nguyễn Ngọc Bảo T trình bày:
Ngày 31/10/2021, chị T và chị Đoàn Thị Thu T1 ký Hợp đồng thỏa thuận đặt cọc với nội dung: Chị T chuyển nhượng cho chị T1 quyền sử dụng đất và căn nhà trên đất (nhà chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu), diện tích 46,7m² thuộc thửa đất số 552, tờ bản đồ số 40, tọa lạc tại khóm T, phường A, thành phố S; giá chuyển nhượng là 860.000.000đ, trong đó: giá đất là 160.000.000đ, giá nhà là 700.000.000đ. Theo thỏa thuận, chị T1 đã đặt cọc cho chị T số tiền 40.000.000₫.
Đến ngày 23/11/2021, chị T và chị T1 ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được Phòng C, tỉnh Đồng Tháp công chứng. Theo Hợp đồng thể hiện: Chị T chuyển nhượng cho chị T1 quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 552, tờ bản đồ số 40, diện tích 46,7m², tọa lạc tại khóm T, phường A, thành phố S; giá chuyển nhượng ghi 123.000.000đ (đây là giá đất vì căn nhà chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà nên không thể hiện trong Hợp đồng) nhưng thực tế hai bên thỏa thuận giá chuyển nhượng đất và căn nhà trên đất tổng cộng là 860.000.000đ theo Hợp đồng thỏa thuận đặt cọc ngày 31/10/2021.
Từ các Hợp đồng ký kết, chị T1 đã thanh toán cho chị T tổng số tiền chuyển nhượng đất, nhà là 790.000.000đ, cụ thể:
| Ngày trả | Số tiền | Hình thức |
|---|---|---|
| 08/11/2021 (tiền xe) | 37.000.000₫ | Trừ tiền bán xe (chị Trang bán cho chị Trân chiếc xe cũ). |
| 31/10/2021 (đặt cọc) | 40.000.000₫ | Tiền mặt |
| 02/11/2021 | 50.000.000₫ | Chuyển khoản |
| 02/11/2021 | 70.000.000₫ | Tiền mặt |
| 10/11/2021 | 20.000.000₫ | Chuyển khoản |
| 11/11/2021 | 20.000.000₫ | Chuyển khoản |
| 25/11/2021 | 500.000.000₫ | Ngân hàng VIB chuyển khoản do giải ngân khoản vay của chị Trang |
| 08/01/2022 | 23.000.000₫ | Chuyển khoản |
| 07/02/2022 | 30.000.000₫ | Chuyển khoản |
| TỔNG CỘNG | 790.000.000₫ |
Chị T đã bàn giao đất và nhà cho chị T1 quản lý, sử dụng; chị T1 cũng đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Hiện nay, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đang thế chấp cho Ngân hàng TMCP Q - Chi nhánh S để vay số tiền 500.000.000₫ mà chị T1 đã thanh toán cho chị T vào ngày 25/11/2021.
Hiện tại, chị T1 còn nợ chị T số tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất (nhà) là 70.000.000đ.
Nay, chị T yêu cầu: Chị Đoàn Thị Thu T1 trả số tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất (nhà) còn nợ là 70.000.000đ và tiền lãi phát sinh tính từ ngày 08/02/2022 đến ngày 08/4/2023 (14 tháng) theo mức lãi suất 0,83%/tháng, thành tiền là 8.134.000đ; tổng cộng là 78.134.000đ.
Việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất là sự thỏa thuận và ký Hợp đồng giữa chị T và chị T1 không liên quan đến anh N. Vì vậy, chị T không có yêu cầu gì đối với anh N trong vụ án này.
Ngoài ra, chị T không có yêu cầu gì khác.
Quá trình tham gia tố tụng cũng như tại phiên tòa, chị Đoàn Thị Thu T1 và người đại diện theo ủy quyền của chị là bà Võ Thị H trình bày:
Chị T1 thừa nhận có ký Hợp đồng thỏa thuận đặt cọc ngày 31/10/2021 và Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 23/11/2021 để nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất (căn nhà chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu), diện tích 46,7m² thuộc thửa đất số 552, tờ bản đồ số 40, tọa lạc tại khóm T, phường A, thành phố S; giá chuyển nhượng là 860.000.000đ, trong đó: giá đất là 160.000.000đ, giá nhà là 700.000.000₫.
Chị T1 thống nhất đã thanh toán cho chị T tổng số tiền 790.000.000đ theo như lời chị T trình bày cũng như các văn bản ý kiến, tài liệu mà chị T1 đã giao nộp cho Tòa án. Chị T1 thừa nhận còn nợ chị T số tiền 70.000.000đ.
Sở dĩ, chị T1 không tiếp tục thanh toán số tiền 70.000.000đ là vì căn nhà chị T bàn giao cho chị T1 quản lý, sử dụng không đúng như thỏa thuận ban đầu giữa hai bên.
Sau khi nhận nhà, chị T1 phải tiến hành sửa chữa lại nhà nên phát sinh thêm nhiều chi phí gây thiệt hại cho chị T1. Đồng thời hiện nay, chị T1 không còn khả năng để tiếp tục thanh toán tiền chuyển nhượng cho chị T.
Vì vậy, chị T1 không đồng ý trả cho chị T số tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất (nhà) còn nợ là 70.000.000đ và tiền lãi phát sinh là 8.134.000đ; tổng cộng là 78.134.000đ.
Quá trình giải quyết vụ án, chị T1 có 02 lần nộp đơn khởi kiện phản tố để yêu cầu chị T bồi thường thiệt hại Hợp đồng. Tuy nhiên cả 02 lần, sau khi nhận được Thông báo về việc nộp tạm ứng phí của Tòa án, chị T1 không nộp biên lai thu tiền tạm ứng án phí nên Tòa án đã 02 lần ra Thông báo trả lại đơn khởi kiện phản tố cho chị T1 theo quy định của pháp luật.
Đối với anh N (là chồng của chị T1, hiện nay đã ly hôn) có vài lần được chị T1 nhờ chuyển tiền cho T chứ anh N không liên quan đến việc chuyển nhượng giữa hai bên.
Vì vậy, chị T1 không có yêu cầu gì đối với anh N.
Ngoài ra, chị T1 không có yêu cầu gì khác.
Quá trình tham gia tố tụng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - anh Phạm Ngọc N không có văn bản ý kiến và cũng không giao nộp tài liệu, chứng cứ gì. Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và triệu tập lần thứ hai nhưng anh N vẫn cố tình vắng mặt, không có lý do.
* Tại quyết định của bản án sơ thẩm số: 34/2023/DS-ST ngày 28 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc đã tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Ngọc Bảo T.
Buộc chị Đoàn Thị Thu T1 trả cho chị Nguyễn Ngọc Bảo T số tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất (nhà) còn nợ là 70.000.000₫ và 8.134.000đ tiền lãi; tổng cộng là 78.134.000₫ (Bằng chữ: Bảy mươi tám triệu một trăm ba mươi bốn nghìn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Chị Đoàn Thị Thu T1 chịu 3.907.000đ án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả lại cho chị Nguyễn Ngọc Bảo T số tiền tạm ứng án phí đã nộp 1.750.000đ theo biên lai số 0000797 ngày 11/5/2022 và 300.000đ theo biên lai số 0015116 ngày 11/4/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Sa Đéc.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên quyền và thời hạn kháng cáo của các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 10/8/2023, Chị Đoàn Thị Thu T1 kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm. Chị không đồng ý trả cho chị Nguyễn Ngọc Bảo T số tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất (nhà) còn nợ 70.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh là 8.134.000 đồng, tổng cộng là 78. 134.000 đồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm;
+ Chị Đoàn Thị Thu T1 vẫn giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo.
+ Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu ý kiến: Xét kháng cáo của chị Đoàn Thị Thu T1 là có căn cứ; nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của chị T1, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu chứng cứ và kết quả tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm; sau khi nghe ý kiến của các đương sự và quan điểm của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Xét kháng cáo của chị Đoàn Thị Thu T1, Hội đồng xét xử xét thấy:
Căn cứ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày thống nhất của nguyên, bị đơn, thì ngày 31/10/2021, chị Nguyễn Ngọc Bảo T có thỏa thuận chuyển nhượng cho chị Đoàn Thị Thu T1 quyền sử dụng đất và căn nhà trên đất (nhà chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu), diện tích 46,7m² thuộc thửa đất số 552, tờ bản đồ số 40, tọa lạc tại khóm T, phường A, thành phố S; giá chuyển nhượng là 860.000.000đ (trong đó: giá đất là 160.000.000đ, giá nhà là 700.000.000₫) và chị T1 đã đặt cọc cho chị T số tiền 40.000.000đ theo hợp đồng đặt cọc lập cùng ngày. Đến ngày 23/11/2021, hai bên tiến hành ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được Phòng C, tỉnh Đồng Tháp công chứng.
Theo Hợp đồng thể hiện: Chị T chuyển nhượng cho chị T1 quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 552, tờ bản đồ số 40, diện tích 46,7m², tọa lạc tại khóm T, phường A, thành phố S; giá chuyển nhượng ghi 123.000.000đ (đây chỉ là giá đất vì căn nhà chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà nên không thể hiện trong Hợp đồng) nhưng thực tế hai bên thỏa thuận giá chuyển nhượng đất và căn nhà trên đất tổng cộng là 860.000.000đ theo Hợp đồng thỏa thuận đặt cọc ngày 31/10/2021.
Quá trình thực hiện Hợp đồng, chị T1 đã thanh toán cho chị T nhận tổng số tiền 790.000.000đ (bao gồm 40.000.000đ tiền đặt cọc). Chị T cũng đã bàn giao đất và nhà cho chị T1 quản lý, sử dụng. Và chị T1 cũng đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật. Chị T1 cũng thừa nhận còn lại số tiền 70.000.000đ chưa thanh toán cho chị T.
Xét việc chị T1 nêu lý do không đồng ý thanh toán số tiền chuyển nhượng còn lại 70.000.000đ cho chị T là do căn nhà chị T bàn giao không đúng như thỏa thuận ban đầu giữa hai bên, do đó, chị đã phải tiến hành sửa chữa nhà phát sinh thêm nhiều chi phí và hiện không còn đủ khả năng thanh toán khoản tiền còn lại cho chị T. Hội đồng xét xử xét lời trình bày trên của chị T1 là không có cơ sở để chấp nhận, bởi vì: nội dung Hợp đồng đặc cọc ngày 31/10/2021 cũng như Hợp đồng chuyển nhượng ngày 23/11/2021 giữa hai bên, không có thể hiện nội dung ghi nhận kết cấu cụ thể của căn nhà mà chị T chuyển nhượng cho chị T1 như thế nào, tức giữa hai bên không có thỏa thuận kết cấu căn nhà như thế nào; khi nhận chuyển nhượng, chị T1 cũng có đến xem xét hiện trạng căn nhà và đồng ý nhận chuyển nhượng mà không phát sinh tranh chấp gì với chị T, nên việc sau khi nhận nhà, chị T1 tự ý sửa chữa lại căn nhà là theo ý muốn của mình; nay phía chị T cũng không đồng ý đối với lời trình bày này của chị T1. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử chấp nhận yêu cầu chị T, buộc chị T1 phải thanh toán số tiền chuyển nhượng còn lại 70.000.000₫ và 8.134.000đ tiền lãi là có căn cứ, đúng pháp luật.
[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, chị T1 cũng không xuất trình được tài liệu, chứng cứ nào khác để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của chị T1, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[3] Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu về việc tuân thủ pháp luật từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và các đương sự đều thực hiện đúng quy định của pháp luật và không có kiến nghị.
Về nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp đề xuất hướng giải quyết là không chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của chị T1, sửa một phần bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự. Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị trên là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên chấp nhận.
[4] Về án phí phúc thẩm: Do sửa sơ thẩm nên chị T1 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
[5] Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 148, khoản 2 Điều 308 và Điều 300 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 357, 440 và Điều 500 Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần kháng cáo của chị Đoàn Thị Thu T1.
2. Sửa một phần bản án sơ thẩm số 34/2023/DS-ST ngày 28/7/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc.
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Ngọc Bảo T.
Công nhận sự thỏa thuận của chị Nguyễn Ngọc B và chị Đoàn Thị Thu T1. Buộc chị Đoàn Thị Thu T1 trả cho chị Nguyễn Ngọc Bảo T số tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất (nhà) còn nợ là 70.000.000 đồng (Bảy mươi triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
+ Chị Đoàn Thị Thu T1 phải chịu 3.500.000đ án phí dân sự sơ thẩm.
+ Hoàn trả lại cho chị Nguyễn Ngọc Bảo T số tiền tạm ứng án phí đã nộp 1.750.000đ theo biên lai số 0000797 ngày 11/5/2022 và 300.000đ theo biên lai số 0015116 ngày 11/4/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Sa Đéc.
- Về án phí phúc thẩm: Chị Đoàn Thị Thu T1 phải chịu 300.000đ án phí phúc thẩm, nhưng được khấu trừ vào 300.000đ tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai số 0003124 ngày 11/8/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sa Đéc (đã nộp xong)
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7,7a,7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Huỳnh Thị Hương Thủy |
Bản án số 261/2024/DS-PT ngày 20/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp dân sự về tiền chuyển nhượng qsd đất và tài sản gắn liền với đất (nhà)
- Số bản án: 261/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp dân sự về tiền chuyển nhượng QSD đất và tài sản gắn liền với đất (nhà)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 20/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: - Nguyên đơn: Chị Nguyễn Ngọc Bảo T, sinh năm 1990. Địa chỉ: Số nhà D đường H, Khóm B, Phường B, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp. - Bị đơn: Chị Đoàn Thị Thu T1, sinh năm 1998. Địa chỉ: Số nhà A đường Đ, khóm T, phường A, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp