Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 261/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 16-9-2024

V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Thông

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lý Đình Đạt

Ông Đặng Thiên Hùng

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Khôi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Việt Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 161/2024/TLST- HNGĐ ngày 19 tháng 6 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 215/2024/QĐ-ST ngày 05/8/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 161/2024/QĐST-HNGĐ ngày 23/8/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Phan Thị H, sinh năm 1988 (vắng mặt)

Nơi thường trú: thôn M, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.

Hiện đang lao động tại nước ngoài.

Chị H ủy quyền cho bà Lại Thị H1, sinh năm 1970; Địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang giao và nhận các tài liệu, chứng cứ với Tòa án.

2. Bị đơn: Anh Vũ Văn Đ, sinh năm 1983 (vắng mặt)

Nơi thường trú: thôn M, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ông Vũ Văn T, sinh năm 1948 (vắng mặt)

- Bà Trần Thị B, sinh năm 1949 (vắng mặt)

Nơi thường trú: thôn M, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.

- Bà Lại Thị H1, sinh năm 1970 (vắng mặt)

Nơi thường trú: thôn T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai ngày 14/6/2024, nguyên đơn chị Phan Thị H trình bày:

Về hôn nhân: Trước khi kết hôn chị, anh Đ được tự do tìm hiểu rồi đi đến hôn nhân. Khi cưới được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục của địa phương, có đăng ký kết hôn ngày 07/11/2007 tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn chị và anh Đ chung sống hòa thuận, hạnh phúc và có 02 con chung. Năm 2017 do điều kiện kinh tế khó khăn nên chị đi xuất khẩu lao động tại Cộng hòa Síp. Một thời gian sau thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng sống xa nhau nên có những bất đồng trong quan điểm sống và trong làm ăn kinh tế. Khoảng 03 năm gần đây chị và anh Đ không còn liên hệ gì với nhau, không ai còn quan tâm đến nhau, ai có cuộc sống riêng của người đó. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Vũ Văn Đ.

Về con chung: Chị và anh Đ có 02 con chung là cháu Vũ Ngọc T1, sinh ngày 12/8/2012 và cháu Vũ Thị Thu T2, sinh ngày 19/10/2010. Hiện nay 02 con chung đang ở cùng bố mẹ anh Đ ở thôn M, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Tuy nhiên anh Đ thường xuyên đi làm xa, không có mặt ở nhà, các cháu ở với ông bà nội nhưng đều có nguyện vọng muốn về ở cùng với chị và bà ngoại. Do vậy khi ly hôn chị đề nghị Tòa án giao cả 02 con chung cho chị chăm sóc, nuôi dưỡng, nhưng tạm giao cho mẹ đẻ chị là bà Lại Thị H1 chăm sóc, nuôi dưỡng thay chị đến khi chị về Việt Nam sinh sống.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị và anh Đình t thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản, công nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra, do điều kiện công việc bận chị không thể đến làm việc với Tòa án được nên chị đề nghị được vắng mặt tại tất cả các buổi làm việc Tòa án triệu tập, vắng mặt tại tất cả các phiên tòa xét xử do Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang mở ra, vắng mặt tại tất cả các phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.

Anh Vũ Văn Đ là bị đơn không có mặt tại địa phương, không gửi văn bản giấy tờ, tài liệu về cho Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

Tại biên bản làm việc ngày 05/7/2024 và ngày 16/7/2024 ông Vũ Văn T và bà Trần Thị B là bố mẹ đẻ của anh Đ trình bày:

Về hôn nhân của anh Đ, chị H ông, bà cho biết: Trước khi kết hôn anh, chị được tự do tìm hiểu rồi đi đến hôn nhân. Khi cưới được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục của địa phương, có đăng ký kết hôn năm 2007 tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn chị H về chung sống hòa thuận với gia đình nhà chồng. Năm 2017 do điều kiện kinh tế khó khăn nên chị đi xuất khẩu lao động tại Cộng hòa Síp. Một thời gian sau thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn theo chị H là do anh Đ đi lao động nhiều năm nhưng không hề gửi tiền về để nuôi dưỡng, chăm sóc con cái. Chính vì vậy nên chị H mới làm đơn xin ly hôn với anh Đ. Ông, bà có khuyên bảo anh chị về chung sống để cùng nhau chăm sóc con cái nhưng do mâu thuẫn quá lớn nên anh, chị không trở về đoàn tụ với nhau được.

Về con chung: Chị H và anh Đ có 02 con chung là cháu Vũ Ngọc T1, sinh ngày 12/8/2012 và cháu Vũ Thị Thu T2, sinh ngày 19/10/2010. Hiện nay các cháu đang ở cùng ông, bà ở thôn M, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Tuy nhiên từ khi chị H đi nước ngoài lao động đến nay anh Đ vẫn thường xuyên đi làm xa, không có mặt ở nhà. Các cháu hiện tại vẫn đang sống cùng ông, bà nhưng do ông bà tuổi đã cao, việc chăm sóc nuôi dưỡng chăm sóc các cháu cũng gặp nhiều khó khăn. Mặt khác các cháu đều có nguyện vọng về ở cùng chị H và bà ngoại, nên gia đình ông bà cũng nhất trí và đề nghị Tòa giao cả hai con chung là cháu T1 và cháu T2 cho chị H chăm sóc, nuôi dưỡng, nhưng tạm giao cho mẹ đẻ chị là bà Lại Thị H1 chăm sóc, nuôi dưỡng thay chị đến khi chị H về Việt Nam sinh sống. Về tài sản, công nợ chung của anh, chị thì ông bà không rõ.

Ngoài ra ông, bà cho biết: Anh Đ vẫn chung sống cùng nhà với ông bà tại thôn M, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Nhưng hiện anh đang làm ăn ở Hà Nam, thi thoảng anh mới về qua nhà và liên lạc qua điện thoại về cho ông bà. Ông, bà đã thông báo cho anh Đ biết về việc Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đang thụ lý giải quyết vụ án “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” giữa chị H và anh Đ thì được anh Đ cho biết: Do công việc rất bận nên anh không thể sắp xếp công việc đến Tòa án làm việc được. Anh Đ đề nghị Tòa án giải quyết việc ly hôn giữa chị H và anh theo quy định của pháp luật. Về con chung, nếu cả hai cháu đều có nguyện vọng muốn được ở với mẹ và bà ngoại thì anh Đ nhất trí và đề nghị Tòa án giao cả 02 con chung là cháu Vũ Ngọc T1 và cháu Vũ Thị Thu T2 cho chị H chăm sóc, nuôi dưỡng, nhưng tạm giao cho mẹ đẻ chị là bà Lại Thị H1 chăm sóc, nuôi dưỡng thay chị đến khi chị H về Việt Nam sinh sống.

Hơn nữa, do điều kiện công việc bận ông bà không thể đến làm việc với Tòa án được nên ông bà đề nghị được vắng mặt tại tất cả các buổi làm việc Tòa án triệu tập, vắng mặt tại tất cả các phiên tòa xét xử do Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang mở ra, vắng mặt tại tất cả các phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.

Tại Biên bản lấy lời khai ngày 28/6/2024, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lại Thị H1 trình bày:

Về quan hệ hôn nhân của anh Đ, chị H: Quá trình tìm hiểu, tiến tới hôn nhân, quá trình chung sống và nguyên nhân mâu thuẫn của vợ chồng anh chị giống như chị Phan Thị H đã trình bày.

Về con chung: Chị H và anh Đ có 02 con chung là cháu Vũ Ngọc T1, sinh ngày 12/8/2012 và cháu Vũ Thị Thu T2, sinh ngày 19/10/2010. Hiện nay hai cháu đang sinh sống cùng anh Đ và ông bà nội. Thực tế tuy anh Đ sinh sống ở trong nước nhưng anh thường xuyên đi làm xa nhà, ít khi về nhà và không chăm sóc hai cháu chu đáo. Hằng tháng chị H vẫn gửi tiền về cho ông bà nội chăm sóc và cho cho các cháu ăn uống, học tập, sinh hoạt. Trường hợp Tòa án giải quyết cho chị H, anh Đ ly hôn, nếu Tòa án giao con chung cho chị H chăm sóc, nuôi dưỡng thì bà đồng ý thay chị H chăm sóc, nuôi dưỡng cháu T1, cháu T2 cho đến khi chị H về nước sinh sống. Bà không yêu cầu anh Đ, chị H phải trích trả công sức chăm sóc, nuôi dưỡng cháu T1, cháu T2 vì bà xác định đây là quyền cũng như nghĩa vụ của bà đối với cháu.

Tại Biên bản ghi lời khai ngày 14/6/2024, cháu Vũ Ngọc T1 và Vũ Thị Thu T2 trình bày: Các cháu hiện sinh sống cùng bố và ông bà nội tại thôn M, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Mẹ các cháu đi lao động tại Cộng hòa Síp nhưng vẫn thường xuyên gọi điện về nhà hỏi thăm tình hình sức khỏe và học tập của các cháu, chỉ bảo chị em cháu học hành. Bố cháu tuy ở trong nước nhưng thường xuyên đi làm xa nhà, ít khi về nhà và không chăm sóc chị em cháu chu đáo. Hằng tháng mẹ các cháu vẫn gửi tiền về cho chị em cháu học tập, ăn uống và sinh hoạt. Vì vậy nếu bố mẹ các cháu ly hôn, các cháu muốn được ở cùng mẹ cháu và bà ngoại.

Tại phiên tòa, chị Phan Thị H, ông Vũ Văn T, bà Trần Thị B, bà Lại Thị H1 vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Anh Vũ Văn Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 02 nhưng vẫn vắng mặt.

Hội đồng xét xử tóm tắt nội dung vụ án, công bố đơn khởi kiện, bản tự khai của chị Phan Thị H; biên bản làm việc với ông Vũ Văn T, bà Trần Thị B; biên bản ghi lời khai của cháu Vũ Ngọc T1 và cháu Vũ Thị Thu T2; biên bản ghi lời khai của bà Lại Thị H1 và thông qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu về việc tuân theo pháp luật về tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký Tòa án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án.

Về việc chấp hành pháp luật của đương sự: Nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn xin xét xử vắng mặt nên thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không có mặt tại địa phương, Tòa án đã niêm yết đầy đủ các văn bản tố tụng đối với bị đơn. Căn cứ các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là đúng theo quy định của pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83, 104, khoản 2 Điều 123 và Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 228, Điều 238, Điều 271; Điều 273, khoản 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTBVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phan Thị H. Xử cho chị Phan Thị H được ly hôn anh Vũ Văn Đ.

Về con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu T1, T2 cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, nhưng tạm giao cho bà H1 chăm sóc, nuôi dưỡng các cháu cho đến khi chị H về Việt Nam.

Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản, công nợ chung: Do các đương sự không yêu cầu nên không đề nghị xem xét, giải quyết.

Chị Phan Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị H khởi kiện xin ly hôn anh Đ và đề nghị giải quyết nuôi con chung. Vì vậy, đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]. Về thẩm quyền giải quyết: Tại Công văn số 14321/QLXNC-P3 ngày 04/7/2024 của Cục Q - Bộ C cung cấp, chị H xuất cảnh gần nhất ngày15/6/2024, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Do đó, chị H được xác định là đang ở nước ngoài. Mặt khác, anh Đ là bị đơn có hộ khẩu thường trú tại tỉnh Bắc Giang. Vì vậy, đây là vụ án có một bên đương sự ở nước ngoài nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3]. Về sự vắng mặt của đương sự:

Đối với nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt nguyên đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

Đối với bị đơn: Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt đối với bị đơn.

[4]. Về hôn nhân: Chị Phan Thị H và anh Vũ Văn Đ kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 07/11/2007 tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Do đó, đây là hôn nhân hợp pháp cần được pháp luật bảo vệ. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn, chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án xử cho chị được ly hôn anh Vũ Văn Đ.

Xét yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Phan Thị H với anh Vũ Văn Đ. Hội đồng xét xử thấy: Sau khi kết hôn chị H và anh Đ chung sống với nhau hòa thuận. Tuy nhiên, sau một thời gian thì vợ chồng bắt đầu nảy sinh mâu thuẫn. Kể từ năm 2021 đến nay chị H và anh Đ không ai còn quan tâm đến nhau, ai có cuộc sống riêng của người đó. Nay chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị H được ly hôn anh Đ. Anh Đ đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng không có ý kiến, không đến Tòa án làm việc và cũng không đến phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử xác định anh Đ đã từ bỏ quyền và lợi ích hợp pháp và nghĩa vụ của mình trong vụ án. Ngoài ra, Tòa án cũng xác minh tình trạng hôn nhân của anh Đ, chị H thông qua gia đình anh Đ thì được cung cấp anh Đ, chị H có mâu thuẫn từ lâu, hiện nay không còn liên lạc với nhau. Do đó, Hội đồng xét xử xác định vợ chồng anh Đ, chị H không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H với anh Đ, xử cho chị H được ly hôn anh Đ là hoàn toàn phù hợp với Điều 51, Điều 53 và Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình cũng như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa.

[5]. Về nuôi con chung: Chị H, anh Đ có 02 con chung là cháu Vũ Ngọc T1, sinh ngày 12/8/2012 và cháu Vũ Thị Thu T2, sinh ngày 19/10/2010. Hiện nay 02 con chung đang ở cùng bố mẹ anh Đ ở thôn M, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Sau ly hôn chị H đề nghị Tòa án giao cả 02 con chung cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, nhưng tạm giao cho bà Lại Thị H1 chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi chị H về Việt Nam sinh sống.

Xét yêu cầu nuôi con chung của chị H: Hội đồng xét xử xét thấy, sau khi ly hôn chị H, anh Đ, ông T, bà B, bà H1 đều thống nhất giao cháu Vũ Ngọc T1 và cháu Vũ Thị Thu T2 cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, nhưng tạm giao cho bà Lại Thị H1 chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi chị H về Việt Nam sinh sống. Mặt khác, cháu T1, cháu T2 trên 07 tuổi đều có nguyện vọng ở với mẹ và bà ngoại nếu bố mẹ ly hôn. Ngoài ra, từ khi chị H đi lao động tại nước ngoài cho đến nay, anh Đ thường xuyên đi làm ăn xa, rất ít khi về nhà, không dành thời gian chăm sóc, giáo dục con cái. Bố mẹ đẻ anh Đ là ông T và bà B hiện nay tuổi đã cao nên việc chăm sóc các cháu cũng gặp nhiều khó khăn. Mặc dù chị H đi nước ngoài lao động, chị vẫn thường xuyên gọi về hỏi thăm tình hình sức khỏe và học tập của các cháu, hàng tháng chị vẫn gửi tiền về cho ông bà nội chăm sóc và cho các cháu học tập, ăn uống, sinh hoạt. Các con chung phát triển bình thường về thể chất và tinh thần. Do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận yêu cầu giao cháu T1, T2 cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, nhưng tạm giao cho bà Lại Thị H1 chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi chị H về Việt Nam sinh sống là phù hợp với tình hình thực tế, phù hợp Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình cũng như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa.

Sau khi ly hôn anh Vũ Văn Đ có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở anh Đ thực hiện quyền này.

Trường hợp anh Vũ Văn Đ có nguyện vọng nuôi con chung hoặc vì quyền lợi chính đáng của con chung, các đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn bằng vụ án khác theo quy định tại Điều 84 Luật hôn nhân gia đình.

[6] Về cấp dưỡng nuôi con chung: Do chị H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7]. Về tài sản, công nợ chung: Chị H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[8]. Về án phí: Chị Phan Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ Luật Tố tụng dân sự; và khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.

[9]. Về quyền kháng cáo:

Chị Phan Thị H vắng mặt tại phiên tòa nhưng đang ở nước ngoài nên có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn là 01 tháng kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ hoặc Bản án được niêm yết theo quy định tại Điều 271 và khoản 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự.

Anh Vũ Văn Đ, ông Vũ Văn T, bà Trần Thị B, bà Lại Thị H1 vắng mặt tại phiên tòa nhưng đang ở trong nước nên có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết theo quy định tại Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 104, khoản 2 Điều 123, Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, khoản 2 Điều 479 Bộ Luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án; xử:

  1. 1. Về hôn nhân: Chị Phan Thị H được ly hôn anh Vũ Văn Đ.
  2. 2. Về con chung: Giao cháu cháu Vũ Ngọc T1, sinh ngày 12/8/2012 và cháu Vũ Thị Thu T2, sinh ngày 19/10/2010 cho chị Phan Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật, nhưng tạm giao cho bà Lại Thị H1 chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi chị H về nước sinh sống.

    Anh Vũ Văn Đ không phải cấp dưỡng nuôi con.

    Sau khi ly hôn, anh Vũ Văn Đ không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở chị H, anh Đ thực hiện quyền này.

  3. 3. Về án phí: Chị Phan Thị H phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0001316 ngày 19/6/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang. Xác nhận chị Phan Thị H đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
  4. 4. Về quyền kháng cáo bản án: Chị Phan Thị H có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được tống đạt Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định.

    Anh Vũ Văn Đ, ông Vũ Văn T, bà Trần Thị B, bà Lại Thị H1 có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định.

Nơi nhận:

-VKSND tỉnh Bắc Giang;

-Cục THADS tỉnh Bắc Giang;

-UBND xã Đ, huyện Y;

-Cổng thông tin điện tử;

-Các đương sự;

-Lưu hồ sơ vụ án;

-Lưu Tổ HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Trung Thông

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 261/2024/HNGĐ-ST ngày 16/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 261/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị H, anh Đ ly hôn tranh chấp nuôi con
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger