|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Số: 261/2024/HS-ST |
Ngày: 06/6/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Nga.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Bùi Thị Phụng – Cán bộ hưu trí.
- Ông Huỳnh Tiến Dũng – Nguyên giáo viên.
Thư ký phiên tòa: Bà Lưu Thị Ngọc Hương – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Ông Phạm Quốc Đạt – Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 227/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 271/2024/QĐXXST–HS ngày 20 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo:
Ngô Đức T, sinh ngày: 12/9/2007 tại tỉnh Nghệ An; tính đến ngày phạm tội bị cáo 16 tuổi 02 tháng; thường trú: Thôn H, xã H, huyện A, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: không có; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Ngô Đức T1 và bà Lê Thị T2; tiền án: không có; tiền sự: không có; bị bắt, tạm giam ngày: 17/11/2023 (có mặt).
- Bị hại: Bà Nguyễn Thị K, sinh năm: 1990.
Địa chỉ: A chung cư Đ, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
- Đại diện hợp pháp của bị cáo:
Bà Lê Thị T2, sinh năm: 1987.
Thường trú: Thôn H, xã H, huyện A, tỉnh Nghệ An.
Tạm trú: G khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương.
Là mẹ của bị cáo Ngô Đức T. (có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Trần Thị N, sinh năm: 1993.
- Bà Nguyễn Thị Kim O, sinh năm: 1974.
- Ông Nguyễn Bằng L.
Địa chỉ: E Bình Đ, phường A, thị xã D, tỉnh Bình Dương. (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn C, xã L, huyện A, tỉnh Nghệ An. (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn T, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng. (vắng mặt)
- Người bào chữa:
Ông Trần Minh H là Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước Thành phố H bào chữa cho bị cáo Ngô Đức T. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
[1]. Do cần tiền tiêu xài cá nhân, khoảng 16 giờ 20 phút, ngày 12/11/2023, Ngô Đức T nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản. T sử dụng xe mô tô hiệu Sirius màu đen đăng ký biển số 49H1-542.18 nhưng T thay biển số 37M1-220.07 vào xe (biển số do T nhặt được) và chạy lòng vòng khu vực phường T, thành phố T, tìm người có tài sản sở hở để cướp giật. Khi đến ngã tư đèn xanh đèn đỏ đường G và đường T, khu phố C, phường T, thành phố T, T phát hiện bà Nguyễn Thị K điều khiển xe mô tô hiệu Honda Click biển số 65K2-6110 đang dừng chờ đèn đỏ phía trước cùng chiều, có đặt 01 ba lô màu đen trước ba ga của xe. Lúc này, T chạy xe lên áp sát bên phải bà K, dùng tay trái chụp giật lấy ba lô rồi tăng ga chạy về hướng đường G, rẽ ra hướng Quốc lộ A về khu vực phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương.
Sau khi lấy được ba lô, T kiểm tra bên trong có 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A32 màu xanh có gắn ốp lưng, 01 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng, 20 thẻ sim V (sim trắng chưa có số), 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Thị Kiều. T lên mạng tìm cách đặt lại mật khẩu rồi mang điện thoại di động Sangsung A32 cướp giật được đến cửa hàng cầm đồ, mua bán điện thoại Hoàng Hiệp I tại số E Bình Đ, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương bán cho bà Trần Thị N là chủ cửa hàng. Khi bán điện thoại, T nhập mật khẩu màn hình điện thoại là bốn số 1 cho bà N xem, bà N đồng ý mua với giá 2.000.000 đồng. Tiếp đó, T mang túi ba lô vứt bãi rác trên đường P, gần bệnh viện Đ thuộc thành phố T, T lấy tờ tiền 200.000 đồng để tiêu xài và giữ lại 20 thẻ sim V. Qua trích xuất camera và truy xét, đến ngày 15/11/2023, T bị Công an phát hiện, bắt giữ.
Tại Cơ quan điều tra, Ngô Đức T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.
Bản kết luận định giá tài sản số 164-KV3/KLĐG-HĐĐGTS ngày 26/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự, thành phố T, kết luận:
- - 01 điện thoại di động hiệu S1 A32 màu xanh dung lượng 64Gb, trị giá 2.933.000 đồng.
- - 01 ốp lưng màu trong ốp điện thoại hiệu S1 A32, trị giá 21.300 đồng.
- - 20 thẻ sim V trắng không có số, trị giá 466.000 đồng.
Hội đồng định giá từ chối định giá 01 ba lô bằng vải và da. Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 3.420.300 đồng.
* Vật chứng vụ án:
- - 01 điện thoại di động hiệu S1 galaxy A32 màu xanh; 01 ốp lưng điện thoại; 20 sim trắng mạng Viettel chưa có số; Căn cước công dân; 01 túi ba lô đã qua sử dụng. Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà Nguyễn Thị Kiều.
- - 01 nón bảo hiểm màu đen.
- - 01 áo thun màu đen.
- - 01 quần Jean màu đen.
- - 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu đen số Imei 1: 866876062494196, số Imei 2: 866876062494188, số thuê bao: 0372.937.961.
- - 01 biển số xe 49H1-542.18 và 01 xe mô tô hiệu Sirius màu đen, gắn biển số 37M1 – 220.07: Qua xác minh, biển số 37M1-220.07 là biển số của xe hiệu Honda Air Blade màu đen bạc, do bà Nguyễn Thị Kim O, sinh năm: 1974, trú tại: Thôn C, xã L, huyện A, tỉnh Nghệ An đứng tên, hiện bà O không có mặt tại địa phương. Xe mô tô hiệu Sirius màu đen có biển số 49H1-542.18 do ông Nguyễn Bằng L, trú tại: Thôn T, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng đứng tên sở hữu, hiện ông L không có mặt tại địa phương. T khai mua xe Sirius của một cửa hàng xe gắn máy, không làm thủ tục sang tên và gắn biển số 37M1-220.07 vào xe mô tô Sirius, sử dụng đi cướp giật.
- - Số tiền 640.000 đồng.
- - 02 USB ghi nhận hình ảnh liên quan đến vụ án.
* Về trách nhiệm dân sự:
- - Bà Nguyễn Thị K sau khi nhận lại tài sản và được Ngô Đức T bồi thường, không yêu cầu bồi thường.
- - Bà Trần Thị N sau khi nhận 2.000.000 đồng của Ngô Đức T trả, không yêu cầu bồi thường.
Tại Bản Cáo trạng số 224/CT-VKSTPTĐ ngày 23/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức truy tố bị cáo Ngô Đức T về tội "Cướp giật tài sản" theo điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự.
[2]. Tại phiên tòa, bị cáo Ngô Đức T khai nhận hành vi như nội dung Cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người đại diện hợp pháp của bị cáo, bà Lê Thị T2 trình bày: Bị cáo phạm tội khi còn nhỏ tuổi, bồng bột, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người bào chữa cho bị cáo, ông Trần Minh H trình bày: Không có ý kiến, tội danh điều luật áp dụng truy tố đối với bị cáo. Bị cáo phạm tội nhất thời, bồng bột, chưa đủ 18 tuổi nên nhận thức pháp luật còn hạn chế; đã bồi thường, khắc phục hậu quả và được bị hại bãi nại. Bị cáo có ông ngoại tham gia kháng chiến, được tặng thưởng huân chương. Ngoài ra, bị cáo có nhân thân tốt, hoàn cảnh gia đình khó khăn, cha mẹ ly hôn, cha bỏ đi, không có sự quan tâm, chăm sóc của gia đình, bị cáo phải nghỉ học, tự mưu sinh, đi làm phụ hồ. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức phát biểu: Giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Ngô Đức T về tội "Cướp giật tài sản" theo điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù. Về vật chứng thì xử lý theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Xét lời khai nhận tội của bị cáo Ngô Đức T phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và vụ án còn được chứng minh qua các tài liệu, chứng cứ khác như biên bản xác định địa điểm, bản thu giữ vật chứng, bản kết luận định giá và các biên bản hoạt động điều tra khác... Từ đó có đủ căn cứ xác định: Vào khoảng 16 giờ 20 phút ngày 12/11/2023, tại ngã tư Đ đường G giao với đường T, thuộc khu phố C, phường T, thành phố T, bị cáo Ngô Đức T điều khiển xe mô tô hiệu Sirius gắn biển số 37M1-220.07 áp sát bên phải xe mô tô hiệu Click biển số 65K2-6110 do bà Nguyễn Thị K điều khiển đang chờ dừng đèn đỏ, bị cáo dùng tay trái giật ba lô của bà K, bên trong có 01 điện thoại di động hiệu Samsung A32 màu đen, 01 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng, 20 thẻ sim V và căn cước công dân. Sau khi lấy được tài sản, bị cáo nhanh chóng tăng ga tẩu thoát và mang bán điện thoại cho bà Trần Thị N được 2.000.000 đồng. Bị cáo tiêu xài số tiền 200.000 đồng, giữ lại 20 thẻ sim, và đem ba lô đi vứt bỏ. Qua truy xét, đến ngày 17/11/2023, bị cáo bị bắt giữ, đúng như nội dung bản cáo trạng đã nêu.
Với các tình tiết của vụ án đã được chứng minh tại phiên tòa, xét có đủ cơ sở kết luận bị cáo Ngô Đức T phạm tội "Cướp giật tài sản" theo Điều 171 Bộ luật hình sự như Viện kiểm sát nhân dân thành phố T truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vì động cơ vụ lợi, bị cáo đã cố ý xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng đến an ninh trật tự xã hội, thể hiện bị cáo rất liều lĩnh và xem thường pháp luật. Theo kết quả định giá tài sản thì bị cáo chiếm đoạt của bị hại 01 điện thoại di động kèm ốp lưng trị giá 2.954.300 đồng, 20 thẻ sim V trắng không số trị giá 466.000 đồng; tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt là 3.620.300 đồng. Bị cáo sử dụng phương tiện là xe mô tô để thực hiện hành vi cướp giật tài sản của bị hại, cũng đang ngồi trên xe mô tô, là thuộc trường hợp dùng thủ đoạn nguy hiểm, có thể gây hại đến sức khỏe, tính mạng của bị hại và nhiều người đi đường khác. Do đó, cần áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự để xét xử đối với hành vi phạm tội của bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thường, khắc phục hậu quả, là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo phạm tội chưa đủ 18 tuổi, thuộc trường hợp người dưới 18 tuổi phạm tội được quy định tại Điều 91 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, tài sản đã thu hồi trả cho bị hại, bị cáo đã bồi thường cho bị hại và trả tiền cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, được bãi nại; gia đình có ông ngoại là người có công với cách mạng, được tặng thưởng huân chương kháng chiến. Từ những nhận định như trên, Hội đồng xét xử xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo để áp dụng mức hình phạt tương xứng, phù hợp nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.
[3]. Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:
- - Bị hại bà Nguyễn Thị K đã nhận lại tài sản và được bồi thường, không yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- - Bị cáo đã trả lại cho bà Trần Thị N số tiền 2.000.000 đồng, bà N không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- - 01 nón bảo hiểm màu đen.
- - 01 áo thun màu đen.
- - 01 quần Jean màu đen.
- - 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu đen số Imei 1: 866876062494196, số Imei 2: 866876062494188, số thuê bao: 0372.937.961.
- - Số tiền 640.000 đồng.
- - 01 biển số xe 49H1-542.18 và 01 xe mô tô hiệu Sirius màu đen, gắn biển số 37M1–220.07:
- + Đối với biển số 37M1–220.07: Qua xác minh, biển số 37M1-220.07 là xe hiệu Honda Air Blade màu đen bạc, do bà Nguyễn Thị Kim O, sinh năm: 1974, trú tại: Thôn C, xã L, huyện A, tỉnh Nghệ An đứng tên, hiện bà O không có mặt tại địa phương. Bị cáo khai nhặt được biển số này và đem về thay thế biển số 49H1-542.18 của xe mô tô hiệu Sirius màu đen để đi cướp giật. Như vậy biển số 37M1-220.07 không phải của xe mô tô hiệu Sirius màu đen nên tịch thu tiêu hủy.
- + Đối với xe mô tô hiệu Sirius màu đen và biển số 49H1-542.18: Qua xác minh, xe mô tô hiệu Sirius màu đen có biển số 49H1-542.18, do ông Nguyễn Bằng L, trú tại: Thôn T, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng đứng tên sở hữu, hiện ông L không có mặt tại địa phương. Bị cáo khai mua xe của một cửa hàng xe gắn máy, không làm thủ tục sang tên, bị cáo tháo biển số xe ra và gắn biển số 37M1-220.07 vào và sử dụng xe đi cướp giật. Hội đồng xét xử xét thấy chiếc xe trên chưa xác định được chủ sở hữu hợp pháp hoặc người quản lý hợp pháp nên giao Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức đăng thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng tìm chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp xe mô tô hiệu Sirius màu đen, biển số 49H1-542.18 trong thời hạn 06 tháng, nếu không ai đến nhận thì tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
- - 02 USB ghi nhận hình ảnh liên quan đến vụ án, lưu trong hồ sơ vụ án.
Không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
Thu giữ của bị cáo nên trả lại cho bị cáo.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Ngô Đức T phạm tội “Cướp giật tài sản”.
- Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Ngô Đức T 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/11/2023.
- Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy:
- + 01 nón bảo hiểm màu đen.
- + 01 áo thun màu đen.
- + 01 quần Jean màu đen.
- + Biển số 37M1-220.07.
Trả lại cho bị cáo Ngô Đức T:
- + 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu đen số Imei 1: 866876062494196, số Imei 2: 866876062494188, số thuê bao: 0372.937.961.
- + Số tiền 640.000 (Sáu trăm bốn mươi nghìn) đồng.
Giao Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức cho đăng tải thông tin trên phương tiện thông tin đại chúng trong thời hạn 06 tháng để tìm chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp chiếc xe mô tô hiệu Sirius màu đen có biển số 49H1-542.18. Hết thời hạn nêu trên, nếu không xác định được chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp thì tịch thu xe sung vào ngân sách nhà nước.
(Theo Phiếu nhập kho số NK24/254C ngày 09/5/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức; Biên lai thu tiền số 0005647 ngày 09/5/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức).
Bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa cho bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa, thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hồng Nga |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hồng Nga |
Bản án số 261/2024/HS-ST ngày 06/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về cướp giật tài sản
- Số bản án: 261/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm tội Cướp giật tài sản
