Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 261/2025/HS-PT

Ngày: 18/12/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Dư Thành Trung
Các Thẩm phán:Ông Hoàng Rung K' Nhơn
Bà Nguyễn Thị Hải Âu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Ngọc Thuỳ Dung- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Chu Thị Dịu- Kiểm sát viên.

Ngày 18/12/2025; tại Trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 233/2025/TLPT-HS ngày 22-10-2025 đối với bị cáo Nguyễn Bá Đ; do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 53/2025/HS-ST ngày 10/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4- Lâm Đồng.

* Bị cáo kháng cáo:

Họ và tên: Nguyễn Bá Đ; giới tính: Nam; tên gọi khác: Không ; sinh năm 1960 tại Nghệ An; Nơi thường trú: tổ B, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng nay là tổ B, phường B, tỉnh Lâm Đồng; Nơi tạm trú và chỗ ở: số A, Phạm Ngọc T, phường A B, tỉnh Lâm Đồng. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 10/10; Nghề nghiệp: Công chức nghỉ hưu; Chức vụ, cấp bậc: Nguyên Trưởng phòng Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện B, tỉnh Lâm Đồng. Là đảng viên Đ1, đã bị khai trừ ra khỏi Đảng.

Con ông Nguyễn Bá L, sinh năm 1924 (đã chết); con bà Giản Thị V, sinh năm 1930 hiện sinh sống tại xã K, huyện T, tỉnh Nghệ An nay là xã T, tỉnh Nghệ An; Gia đình bị cáo có 08 anh em, bị cáo là con thứ 4 trong gia đình; Vợ: Đào Thị H, sinh năm 1960, hiện cư trú tại số A, Phạm Ngọc T, phường A B, tỉnh Lâm Đồng; Con: có 04 người con, lớn nhất sinh năm 1986, nhỏ nhất sinh năm 1993.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giam tại tại trại tạm giam Công an tỉnh L phân trại Bảo L1 kể từ ngày 14/09/2024 đến ngày 10/01/2025 được thay thế biện pháp ngăn chặn cho bảo lĩnh. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 11/6/2025 cho đến nay; có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Dương Đình N, Luật sư Nguyễn Bá Thị T1- Văn phòng Luật sư Dương Đình N- Đoàn Luật sư tỉnh L; địa chỉ: Số C, Quốc lộ B, thị trấn L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng nay là số C, Quốc lộ B, xã Đ, tỉnh Lâm Đồng; Luật sư N vắng mặt, Luật sư T1 có mặt.

Trong vụ án này, còn có những người tham gia tố tụng khác không kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo, vụ án không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 04/01/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã tiếp nhận tố giác về tội phạm của ông Phan Văn M và ông Thái Văn M1 với nội dung: “tố cáo hành vi tham nhũng về chính sách đất đai, làm thất thoát tài sản của Nhà nước xảy ra tại Công ty Cổ phần C...” với hình thức lập hợp đồng giao khoán ma, thanh lý hoá giá vườn cây, đề nghị UBND tỉnh thu hồi đất, chuyển về địa phương để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp cho người dân nhận chuyển nhượng đất”.

Quá trình điều tra xác định được: Công ty C là doanh nghiệp có 100% vốn tư nhân, được cổ phần hóa từ Nhà máy C1 (trước đây là đơn vị có vốn nhà nước) theo Quyết định số 1604/QĐ-UB ngày 28/06/2005 của UBND tỉnh L, có mã số thuế: 5800468371. Tổng diện tích đất Công ty C được Nhà nước cho thuê đất trả tiền hàng năm tại thị trấn L, huyện B nay là xã B, tỉnh Lâm Đồng là 360,82 ha.

Theo quy định, Công ty C là doanh nghiệp tư nhân, nên việc chuyển nhượng giá trị vườn cây giữa công ty và các hộ dân chỉ là giao dịch dân sự, không thuộc diện phải xin ý kiến chấp thuận của UBND tỉnh. Tuy nhiên, trên thực tế, Công ty vẫn gửi văn bản xin ý kiến UBND tỉnh L và sau đó Sở T4 ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện giao đất theo danh sách do công ty cung cấp. Việc này đã dẫn đến sự hiểu nhầm rằng việc chuyển nhượng giá trị vườn cây đồng nghĩa với việc phải cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, từ đó tạo cơ sở cho các sai phạm trong việc giao đất không đúng quy định pháp luật.

Trong giai đoạn từ năm 2013 đến năm 2020, Công ty C đã lập các tờ trình đề nghị chuyển nhượng giá trị vườn cây cho 401 trường hợp nhận khoán, căn cứ theo hợp đồng nhận khoán và biên bản thanh lý hợp đồng với các hộ dân, trên tổng diện tích 168,812 ha. Trong đó, vào năm 2018, UBND tỉnh L đã ban hành Quyết định số 1542/QĐ-UBND ngày 07/8/2018 về việc thu hồi diện tích đất do Công ty cổ phần C đang quản lý tại thị trấn L trên cơ sở Công ty tự nguyện trả lại đất, và giao cho UBND huyện B quản lý theo quy định của pháp luật về đất đai.

Diễn biến quá trình hình thành Quyết định 1542/QĐ-UBND ngày 07/08/2018:

Ngày 22/11/2016, ông Nguyễn Văn D có đơn đại diện cho 23 hộ dân gửi UBND tỉnh L, đề nghị thu hồi 22 ha đất trồng chè của Công ty C và cho phép các hộ dân được nộp tiền sử dụng đất để được sử dụng đất lâu dài.

Ngày 23/02/2017, Giám đốc Sở T4 ông Nguyễn Ngọc P ban hành Báo cáo số 47/BC-STNMT, trong đó nêu rõ: “Việc các hộ dân có đơn đề nghị UBND tỉnh thu hồi đất của Công ty cổ phần C để giao cho các hộ sử dụng là không có cơ sở giải quyết vì không phải là các hộ nhận khoán”.

Ngày 21/04/2017, ông Nguyễn Văn D tiếp tục có tờ trình đại diện cho 80 hộ dân, gửi UBND tỉnh và Thanh tra Sở TNMT, đề nghị: “...cho phép được chuyển nhượng giá trị đầu tư trên đất của Công ty C, với diện tích khoảng 60 ha/80 hộ dân nhận khoản.”

Ngày 15/09/2017, Sở T4 (TNMT) chủ trì kiểm tra hiện trạng khu đất, với sự tham gia của Nguyễn Bá Đ – Trưởng Phòng TNMT huyện Bảo Lâm và Lê Đình T2 – Giám đốc Công ty C. Tại buổi làm việc, ông Đ khẳng định: “Việc chuyển nhượng giá trị vườn cây có liên quan đến việc sử dụng đất, phải quan tâm đến quy hoạch chung xây dựng thị trấn L, huyện B đến năm 2025 đã được UBND tỉnh L phê duyệt tại Quyết định số 265/QĐ-UBND ngày 19/02/2013”. Tuy nhiên đến ngày 18/10/2017, trên cơ sở tham mưu của Sở TNMT, UBND tỉnh L vẫn ban hành Văn bản số 6978/UBND-TD, với nội dung như sau:

  1. Thống nhất cho Công ty cổ phần C được chuyển nhượng giá trị vườn cây cho các hộ dân nhận khoán đối với diện tích 60ha tại thị trấn L, huyện B.
  2. Đề nghị Công ty cổ phần C:
    • - Triển khai đo đạc chi tiết, xác định cụ thể phạm vi ranh giới, diện tích của từng thửa đất có cây trồng để làm cơ sở chuyển nhượng giá trị vườn cây; báo cáo Ủy ban nhân dân huyện B về quỹ đất chuyển nhượng vườn cây trước khi lập thủ tục chuyển nhượng.
    • - Thực hiện các thủ tục chuyển nhượng giá trị vườn cây với người nhận khoán (không bao gồm giá trị quyền sử dụng đất); có văn bản báo cáo Sở T4 xem xét, đề xuất Uỷ ban nhân dân tỉnh, sau khi thực hiện xong việc chuyển nhượng...”

Lợi dụng chủ trương tại Văn bản số 6978/UBND-TD ngày 18/10/2017, Công ty C, sau khi có sự thống nhất của Hội đồng quản trị, Ban Giám đốc Công ty C đã hợp thức hóa hồ sơ chuyển nhượng giá trị vườn cây đối với diện tích 24,5 ha đất không trồng chè, đưa lồng ghép vào tổng diện tích 60,18 ha được UBND tỉnh chấp thuận chủ trương chuyển nhượng, nhằm hợp pháp hóa việc giao đất trái quy định.

Tiếp theo, hầu hết các hộ dân đã liên hệ với Công ty trách nhiệm hữu hạn B (gọi tắt là Công ty B) để thỏa thuận và ký kết hợp đồng khoán, nhằm thực hiện việc thanh lý, hoá giá vườn cây và tiến hành các thủ tục pháp lý xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau khi hoàn tất hồ sơ “thanh lý, hoá giá” vườn cây, Công ty C đã gửi báo cáo đề nghị Sở T4 trình UBND tỉnh L thu hồi đất, giao cho UBND huyện B quản lý và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ nhận khoán theo quy định.

Ngày 07/06/2018, sau khi nhận được báo cáo, Sở TNMT chủ trì buổi kiểm tra thực địa khu đất do Công ty C đề nghị thu hồi. Thành phần tham gia gồm bị cáo Nguyễn Bá Đ và bị cáo Lê Đình T2. Tại buổi kiểm tra, ông Nguyễn Bá Đ tiếp tục có ý kiến: “Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện B đề nghị khi trình hồ sơ thu hồi đất giao cho UBND huyện B quản lý để xem xét giao đất cho các hộ dân nhận khoán thì đối chiếu với quy hoạch chung xây dựng thị trấn Lộc Thắng theo Quyết định số 265/QĐ-UBND ngày 19/02/2013 của UBND tỉnh.

Sau khi kiểm tra, ghi nhận báo cáo và các ý kiến, Sở TNMT đã tham mưu cho UBND tỉnh L ban hành Quyết định số 1542/QĐ-UBND ngày 07/08/2018, Quyết định về việc thu hồi đất do Công ty cổ phần C quản lý và giao cho UBND huyện B quản lý tại thị trấn L, trong đó có nội dung: “Điều 2.

  1. Giao Ủy ban nhân dân huyện B:
    • Quản lý diện tích đất nêu trên, tổng hợp việc sử dụng đất này vào kế hoạch sử dụng đất hàng năm của địa phương, trình thẩm định, phê duyệt theo quy định hiện hành.
    • Xem xét giải quyết đề nghị giao đất, cho thuê đất, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của các hộ gia đình, cá nhân thuộc diện tích đất nêu trên theo quy định.”.

Quy định của pháp luật có liên quan đến việc quản lý diện tích đất thu hồi và quy định về việc thực hiện giao đất, cho thuê đất:

Việc quản lý diện tích đất thu hồi:

Công ty cổ phần C không thuộc đối tượng áp dụng Nghị định 170/2004/NĐ-CP hoặc 118/2014/NĐ-CP (tức không phải là công ty nông, lâm nghiệp 100% vốn nhà nước); Việc thu hồi đất được thực hiện trên cơ sở người sử dụng đất tự nguyện trả lại đất, căn cứ theo:

  • + Điểm c Khoản 1 Điều 65 Luật Đất đai 2013: Thu hồi đất do tự nguyện trả lại đất
  • + Điểm b Khoản 2 Điều 68 Luật Đất đai 2013: b) Đất đã thu hồi theo quy định tại khoản 1 Điều 64 và các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều 65 của Luật này thì giao cho tổ chức dịch vụ công về đất đai để quản lý, đấu giá quyền sử dụng đất.
  • + Khoản 1 Điều 65 Nghị định 43/2014/NĐ-CP: “Trình tự, thủ tục thu hồi đất do chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp luật, tự nguyện trả lại đất được quy định”.

Việc thực hiện giao đất hoặc cho thuê đất:

Căn cứ khoản 3, 4 và 5 Điều 8 Thông tư số 07/2015/TT-BTNMT ngày 26/02/2015 của Bộ trưởng Bộ T5 quy định việc lập phương án sử dụng đất; lập hồ sơ ranh giới sử dụng đất; đo đạc, lập bản đồ địa chính; xác định giá thuê đất; giao đất, cho thuê đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với công ty N1, lâm nghiệp quy định:

“Điều 8. Các bước xử lý quỹ đất bàn giao cho địa phương

  1. Ủy ban nhân dân cấp huyện có trách nhiệm giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong việc xây dựng phương án sử dụng đất đối với quỹ đất bàn giao cho địa phương thuộc địa giới hành chính mình quản lý và gửi Sở T4.
  2. Cơ quan tài nguyên và môi trường lập hồ sơ trình Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền quyết định giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất cho người đang sử dụng theo phương án sử dụng đất đã được phê duyệt; ký hợp đồng cho thuê đất đối với trường hợp thuê đất; chỉnh lý bản đồ địa chính (nếu có) để cấp Giấy chứng nhận, bàn giao đất trên thực địa và cập nhật hồ sơ địa chính, cơ sở dữ liệu đất đai.
  3. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt nội dung phương án sử dụng đối với quỹ đất bàn giao cho địa phương phù hợp với thực tế quản lý, sử dụng đất của địa phương và đảm bảo các nguyên tắc sau:
    • Phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt;
    • Phù hợp với quy định của pháp luật đất đai về phân loại đất, đối tượng sử dụng đất, hình thức sử dụng đất, thời hạn sử dụng đất, hạn mức sử dụng đất, điều kiện để công nhận quyền sử dụng đất;
    • Giải quyết nhu cầu sử dụng đất cho các đối tượng ưu tiên theo quy định tại Điều 46 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai và Nghị định số 118/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định về sắp xếp, đổi mới và phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty nông, lâm nghiệp;
    • Việc giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất được thực hiện công khai, dân chủ, khách quan, trung thực, bình đẳng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người liên quan.”

Như vậy, việc giao đất hoặc cho thuê đất mới phải dựa trên kế hoạch sử dụng đất hằng năm đã được phê duyệt, đúng quy hoạch, đúng đối tượng ưu tiên. Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sau khi thu hồi và giao lại đất phải: Phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; Thực hiện công khai, minh bạch, khách quan (Điều 46 NĐ 43/2014/NĐ-CP và Điều 8 Thông tư 07/2015/TT-BTNMT); Có phương án sử dụng đất được UBND tỉnh phê duyệt. Không có quy định nào cho phép sử dụng hợp đồng giao khoán, hồ sơ thanh lý vườn cây giữa công ty C và hộ dân làm căn cứ để giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đây chỉ là quan hệ dân sự, không thay thế cho thủ tục hành chính đất đai.

UBND huyện B quản lý diện tích đất được giao và thực hiện giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:

Ngày 15/08/2018, Nguyễn Trung T3 – Phó Chủ tịch UBND huyện B ban hành Văn bản số 1942/UBND về việc thực hiện Quyết định số 1542/QĐ-UBND ngày 07/08/2018, trong đó chỉ đạo: “Giao Phòng Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với UBND thị trấn L tham mưu cho UBND huyện trong việc quản lý diện tích đất thu hồi từ Công ty cổ phần C trên địa bàn thị trấn L; đồng thời tổng hợp diện tích đất thu hồi này vào kế hoạch sử dụng đất hằng năm của huyện, trình thẩm định và phê duyệt theo quy định hiện hành.”

Ngày 22/08/2018, Nguyễn Bá Đ – Trưởng Phòng TNMT đã ký văn bản chuyển chỉ đạo số 1942/UBND của UBND huyện cho Nguyễn Thị H1, cán bộ Phòng TNMT, để triển khai thực hiện theo sự phân công.

Sau khi Quyết định 1542/QĐ-UBND được ban hành, Ban Giám đốc Công ty C gồm Lê Đình T2 và Nguyễn Hữu G đã tiến hành hoàn tất thoả thuận chuyển nhượng giá trị vườn cây, xuất hoá đơn giá trị gia tăng và chuyển toàn bộ hồ sơ, tài liệu cho người dân đưa đến Công ty B để tiếp tục thực hiện thủ tục xin giao đất cho các hộ dân nhận khoán.

Công ty B sau đó đã tiến hành bổ sung các tài liệu bao gồm: đơn xin giao đất, đơn cam kết hạn mức sử dụng đất, đơn xác nhận hộ gia đình trực tiếp sản xuất nông nghiệp, biên bản làm việc về kiểm tra hiện trạng sử dụng đất, biên bản bàn giao đất trên thực địa và thực hiện nộp hồ sơ xin giao đất tại bộ phận một cửa của UBND huyện B.

Bị cáo Nguyễn Thị H1 (cán bộ Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện B) là người được giao nhiệm vụ tiếp nhận, kiểm tra, xác minh và hoàn thiện hồ sơ xin giao đất, Nguyễn Thị H1 có trách nhiệm thực hiện đúng quy trình kiểm tra thực địa, xác minh hiện trạng và đề xuất hợp pháp. Theo quy định, đối với đất đã thu hồi, việc giao lại đất phải dựa trên phương án sử dụng đất được phê duyệt, đúng quy hoạch, và không được sử dụng hồ sơ dân sự (như hợp đồng giao khoán hoặc biên bản thanh lý vườn cây) làm căn cứ giao đất hoặc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Bị cáo Nguyễn Thị H1 không thực hiện việc kiểm tra thực địa mà xác nhận khống hiện trạng cây trồng ngay tại phòng làm việc, sử dụng các biên bản để trống nội dung nhưng có sẵn chữ ký của người dân, sau đó điền thông tin, ký xác nhận, hợp thức hóa hồ sơ.

Bị cáo H1 biết rõ khu đất thuộc quy hoạch đất phi nông nghiệp, không đủ điều kiện giao đất trồng cây lâu năm, nhưng vẫn tham mưu, lập tờ trình, ký nháy và soạn thảo quyết định giao đất trình lãnh đạo Phòng TNMT, vi phạm nghiêm trọng các quy định tại Điều 52 Luật Đất đai 2013 và thủ tục hành chính đất đai.

Bị cáo Nguyễn Bá Đ, với vai trò là Trưởng Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện B, là người đứng đầu cơ quan chuyên môn tham mưu trong lĩnh vực đất đai, bị cáo Nguyễn Bá Đ có trách nhiệm thẩm định hồ sơ, đối chiếu với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, và tham mưu cho UBND huyện trong việc quản lý quỹ đất sau thu hồi. Bị cáo Nguyễn Bá Đ biết rõ Công ty C là doanh nghiệp tư nhân, không thuộc diện áp dụng Nghị định 170/2004/NĐ-CP hay 118/2014/NĐ-CP; biết rõ đất đã thu hồi phải quản lý theo phương án sử dụng đất đã được phê duyệt, không được tự ý giao đất theo hồ sơ do doanh nghiệp lập, càng không được sử dụng hợp đồng khoán và thanh lý vườn cây làm căn cứ. Mặc dù đã tham gia cùng Sở TNMT kiểm tra thực địa và xác định rõ 24,5 ha không phù hợp quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp, bị cáo Đ vẫn lập tờ trình, ký nháy, tham mưu giao đất không thu tiền sử dụng đất, sử dụng các hồ sơ do Công ty C cung cấp mà không đối chiếu với kế hoạch sử dụng đất hằng năm và không đề xuất phương án sử dụng đất theo đúng quy định tại Điều 68 Luật Đất đai 2013.

Bị cáo Nguyễn Trung T3 sau khi nhận hồ sơ từ Phòng TNMT, mặc dù biết rõ khu vực 24,5 ha nằm ngoài quy hoạch đất nông nghiệp, và việc giao đất không được thực hiện nếu không có phương án sử dụng đất được phê duyệt, nhưng bị cáo T3 vẫn cố ý ký ban hành 112 quyết định giao đất không thu tiền sử dụng đất cho 136 thửa đất, với tổng diện tích 60,18 ha – trong đó có 35 thửa đất sai quy hoạch. Bị cáo T3 đã không thực hiện đúng các trình tự thủ tục được quy định tại Điều 68 Luật Đất đai 2013, không tổ chức đấu giá, không lập phương án sử dụng đất, mà dựa trên hồ sơ thanh lý, giao khoán nội bộ giữa doanh nghiệp và người dân, vốn không có giá trị pháp lý để làm căn cứ giao đất hoặc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Về mức độ hậu quả, thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra:

Trong vụ án này, UBND huyện B sau khi được UBND tỉnh L giao quản lý đã không xây dựng phương án sử dụng đất theo quy định pháp luật mà tự ý lập hồ sơ giao đất dẫn đến giao đất sử dụng vào mục đích trồng cây lâu năm tại 35 thửa đất, với tổng diện tích 223.765,90 m², trong khi các vị trí này không được quy hoạch là đất nông nghiệp theo quy định của pháp luật. Việc giao đất như trên là trái với Điều 52 Luật Đất đai năm 2013, vì không đúng với quy hoạch sử dụng đất đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

Hành vi này không chỉ trái pháp luật, mà còn gây thất thoát tài sản nhà nước, phá vỡ quy hoạch sử dụng đất của địa phương, ảnh hưởng đến trật tự quản lý đất đai và tạo dư luận tiêu cực trong xã hội. Tổng giá trị diện tích đất bị giao sai quy định là 25.450.261.947 đồng (hai mươi lăm tỷ, bốn trăm năm mươi triệu, hai trăm sáu mươi mốt nghìn, chín trăm bốn mươi bảy đồng). Trong đó: 28 thửa đất đã được chuyển nhượng quyền sử dụng, với tổng giá trị 18.942.250.752 đồng; 08 thửa đất còn lại chưa chuyển nhượng, có tổng giá trị 6.508.011.195 đồng.

Thông qua việc lập hồ sơ khống để chuyển nhượng giá trị vườn cây của Lê Đình T2 và Nguyễn Hữu G, Công ty C đã thu lợi số tiền 15.029.922.000 đồng (mười lăm tỷ, không trăm hai mươi chín triệu, chín trăm hai mươi hai nghìn đồng) trái với quy định pháp luật. Trong diện tích 24,5 ha nêu trên, bị cáo Lê Đình T2 cũng tự lập hồ sơ, đóng tiền và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với thửa đất số 237, tờ bản đồ số 01 tại thị trấn L, huyện B, với diện tích 5.112,9 m², trị giá 325.691.730 đồng.

Kết quả trưng cầu giám định:

Ngày 02/07/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B nay là công an tỉnh L đã ban hành Quyết định trưng cầu giám định số 1352/QĐ-ĐCSKT để xác minh tính pháp lý liên quan đến diện tích đất được giao. Đến ngày 12/08/2024, Sở TNMT tỉnh L ban hành Kết luận giám định tư pháp, trong đó nêu rõ kết luận như sau:

  • + Trong số 36 thửa đất tại diện tích 24,5ha thì có 30 thửa đất được xác định quy hoạch là đất ở tại đô thị, đất phát triển hạ tầng, đất giao thông (thửa đất số 203, 204, 205, 206, 208, 209, 212, 214, 215, 216, 217, 218, 219, 220, 221, 223, 226, 230, 231, 232, 237, 238, 242, 243, 244, 245, 247, 248, 249 và 250); có 05 thửa đất được xác định quy hoạch là đất ở tại đô thị, đất phát triển hạ tầng, đất giao thông và đất trồng cây lâu năm (thửa đất số 207, 224, 227, 234 và 241); có 01 thửa đất được xác định quy hoạch là đất trồng cây lâu năm (thửa đất số 228).
  • + Căn cứ Điều 11 của Luật Đất đai năm 2013, Điều 3 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ (được sửa đổi, bổ sung tại khoản 1 Điều 2 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ) quy định về xác định loại đất: “...Trường hợp Nhà nước giao đất...thì việc xác định loại đất được căn cứ vào quy hoạch sử dụng đất...đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt...”
  • + Căn cứ để giao đất là quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và Kế hoạch sử dụng đất năm 2018 huyện B đã được UBND tỉnh L phê duyệt tại Quyết định số 840/QĐ-UBND ngày 29/4/2014 và Quyết định số 418/QĐ-UBND ngày 01/3/2018, nhu cầu sử dụng đất được thể hiện tại Đơn xin giao đất do các hộ lập (quy định tại Điều 52 của Luật Đất đai năm 2013).

Như vậy, 36 thửa đất UBND huyện B ban hành quyết định giao đất để sử dụng vào mục đích nông nghiệp (trồng cây lâu năm) thì có 01 thửa đất được giao đất đúng quy hoạch sử dụng đất (Quyết định số 2066/QĐ-UBND ngày 24/9/2018), 35 thửa đất còn lại được giao đất không đúng với quy hoạch sử dụng đất (trái với quy định tại Điều 52 của Luật Đất đai năm 2013).

Căn cứ Kết luận định giá tài sản số 69/KH-HĐĐGTS ngày 22/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện B xác định tổng giá trị của 36 thửa đất là 25.487.795947 đồng.

Căn cứ Văn bản số 1895/PCCTT-CN.BLA ngày 22/07/2024 của Văn phòng Đăng ký đất đai huyện B xác định: trong số 35 thửa đất thì có 27 thửa đất đã chuyển nhượng quyền sử dụng đất gồm thửa đất số 203, 205, 208, 209, 212, 214, 215, 216, 217, 220, 221, 226, 227, 230, 231, 232, 234, 237, 238, 241, 242, 243, 244, 245, 247, 249, 250. Còn lại 08 thửa gồm 204, 206, 207, 218, 219, 223, 224, 228, 248 hiện chưa chuyển nhượng.

Bản án hình sự sơ thẩm số số 53/2025/HS-ST ngày 10/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4- Lâm Đồng đã xét xử:

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trung T3, Nguyễn Bá Đ, Nguyễn Thị H1, Lê Đình T2, Nguyễn Hữu G phạm tội “Vi phạm các quy định về quản lý đất đai”.

Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 229 Bộ luật hình sự; điểm s, v khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung T3 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 24/10/2024.

Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 229 Bộ luật hình sự; điểm s, v khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Bá Đ 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án, bị cáo được trừ thời giam tạm giam từ ngày 14/09/2024 đến ngày 10/01/2025.

Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 229 Bộ luật hình sự; điểm s, v khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 65, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H1 24 (hai mươi bốn) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 tháng tính từ ngày tuyên án 10/9/2025

Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 229 Bộ luật hình sự; điểm s, v khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Lê Đình T2 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 20/11/2024.

Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 229 Bộ luật hình sự; điểm s, v khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 65, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu G 30 (ba mươi) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm tính từ ngày tuyên án 10/9/2025.

Giao bị cáo Nguyễn Thị H1 cho UBND xã B, tỉnh Lâm Đồng, giao bị cáo Nguyễn Hữu G cho UBND phường B, tỉnh Lâm Đồng để giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục người bị kết án. Trường hợp người bị kết án thay đổi nơi cư trú thì việc thi hành án thực hiện theo qui định của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Ngoài ra bản án còn tuyên về xử lý vật chứng, tuyên án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 22/9/2025, bị cáo Nguyễn Bá Đ kháng cáo một phần Bản án sơ thẩm số 53/BA-HSST ngày 10/9/2025 về mức hình phạt. Kháng cáo xin được áp dụng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Bá Đ không thắc mắc, khiếu nại nội dung bản án sơ thẩm, khai nhận hành vi như bản án sơ thẩm đã xét xử; bị cáo thay đổi kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự; không chấp nhận kháng cáo của bị cáo; giữ nguyên hình phạt như bản án sơ thẩm.

Luật sư bào chữa cho bị cáo thống nhất về tội danh như bản án sơ thẩm đã xét xử. Tuy nhiên, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS, đã ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, kính mong Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Trong phần lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để sớm được trở về đoàn tụ cùng gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo nộp trong hạn luật định. Người kháng cáo, thủ tục kháng cáo và thời hạn kháng cáo theo đúng quy định tại các Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự nên đủ điều kiện để Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Đối chiếu lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập có trong hồ sơ vụ án nên có căn cứ xác định: Nhằm mục đích để được Nhà nước thu hồi đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được giao trước đó cho Công ty cổ phần C, trong năm 2018 Công ty cổ phần C mà trực tiếp là bị cáo Lê Đình T2, Nguyễn Hữu G đã làm các thủ tục, hồ sơ chuyển nhượng giá trị vườn cây đối với diện tích 24,5 ha đất không trồng chè, đưa lồng ghép vào tổng diện tích 60,18 ha được UBND tỉnh chấp thuận chủ trương chuyển nhượng. Công ty cổ phần C đã hưởng lợi từ việc thanh lý giá trị vườn cây với số tiền 15.029.922.000 đồng. Tiếp đó, người dân (người được làm hồ sơ thanh lý giá trị vườn cây) ký hợp đồng ủy quyền với Công ty TNHH B để tiếp tục hoàn thiện khống hồ sơ, giấy tờ nộp đến Phòng Tài nguyên môi trường huyện B. Sau đó, bị cáo Nguyễn Trung T3, Nguyễn Bá Đ, Nguyễn Thị H1 đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn được phân công để tham mưu, ra quyết định giao đất trái quy định của pháp luật đối với tổng diện tích 223.765,9m² đất, gây thiệt hại tổng số tiền 25.450.261.947đồng. Hành vi của các bị cáo Nguyễn Trung T3, Nguyễn Bá Đ, Nguyễn Thị H1, Lê Đình T2, Nguyễn Hữu G có đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm các quy định về quản lý đất đai” quy định tại điểm a khoản 3 Điều 229 Bộ luật Hình sự.

Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo Nguyễn Trung T3, Nguyễn Bá Đ, Nguyễn Thị H1, Lê Đình T2, Nguyễn Hữu G về tội “Vi phạm các quy định về quản lý đất đai” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 229 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét kháng cáo của bị cáo, thấy rằng:

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức, làm mất uy tín, mất lòng tin của nhân dân trong hoạt động quản lý Nhà nước, xâm phạm quỹ đất công, phá vỡ quy hoạch đã được phê duyệt, suy giảm hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về đất đai. Khi xét xử Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất hành vi phạm tội, đã phân hóa đúng vai trò của từng bị cáo, đã xem xét và áp dụng đúng, đầy đủ tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cụ thể: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đều có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có thành tích xuất sắc trong công tác được Ban chấp hành đảng bộ tỉnh Lâm Đồng tặng Bằng khen năm 2013, được Tập đoàn T6 tặng bằng khen năm 2016, được Bộ trưởng bộ N2 tặng Kỷ niệm chương năm 2008 nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, v khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo tự nguyện nộp số tiền 600.000.000đ nên bị cáo được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự nên bị cáo được áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự để xử dưới mức thấp nhất của khung hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo cung cấp thêm các tài liệu mới về gia đình bị cáo có công với cách mạng: Bố bị cáo là ông Nguyễn Bá L là thương binh loại CP, có bằng khen của Chủ tịch UBND tỉnh N khen thưởng đã có thành tích tham gia trong cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược. Mẹ bị cáo là bà Giản Thị V được Hội đồng Bộ trưởng Nước CHXHCN Việt Nam tặng Huy chương kháng chiến hạng nhất trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, được Ban Đ1 tặng huy hiệu 75 năm tuổi Đảng.

Qua xem xét, Hội đồng xét xử thấy rằng, cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, vai trò của bị cáo trong vụ án để xử phạt bị cáo 30 tháng tù là phù hợp nên không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị cáo như ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng là phù hợp; cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[4] Về án phí hình sự phúc thẩm: Do bị cáo là người cao tuổi nên được miễn án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên đã có hiệu lực pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Bá Đ.

Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số số 53/2025/HS-ST ngày 10/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4- Lâm Đồng.

Xử:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Bá Đ phạm tội “Vi phạm các quy định về quản lý đất đai”.
  2. Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 229 Bộ luật hình sự; điểm s, v khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Bá Đ 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án, bị cáo được trừ thời gian tạm giam từ ngày 14/09/2024 đến ngày 10/01/2025.
  3. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo được miễn án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
  4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Lâm Đồng (01);
  • - Vụ GĐKT I- TANDTC (01);
  • - TAND khu vực 4- Lâm Đồng (02);
  • - VKSND khu vực 4- Lâm Đồng (01);
  • - Cơ quan CSĐT CA tỉnh Lâm Đồng (01);
  • - Cơ quan THAHS CA tỉnh Lâm Đồng (01);
  • - Phòng PV 06- Công an tỉnh Lâm Đồng (01);
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Văn phòng TAND tỉnh Lâm Đồng (01);
  • - Lưu hồ sơ; Án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

đã ký

Dư Thành Trung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 261/2025/HS-PT ngày 18/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG về hình sự phúc thẩm (vi phạm các quy định về quản lý đất đai)

  • Số bản án: 261/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Vi phạm các quy định về quản lý đất đai)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 18/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vi phạm các quy định về quản lý đất đai
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger