Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 261/2025/DS-PT

Ngày: 14/4/2025

V/v: Tranh chấp hợp đồng

tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Huyền
Các Thẩm phán: Ông Vũ Toàn Giang
Ông Đinh Như Lâm
Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Phạm Phương Thảo, Thư
ký Tòa án
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội: Bà Trần Thu
Dung, Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 14 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 43/2025/TLST–DS ngày 10/02/2025 về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng”

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 165/2024/DS-ST ngày 30/09/2024 của Toà án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 50/2025/QĐ-PT ngày 28/02/2025 của Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội, giữa các đương sự sau:

Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S (S1)

Địa chỉ: Số B N, phường V, quận C, thành phố Hồ Chí Minh. Địa chỉ nhận thông báo: Số B N, phường V, Quận C, thành phố Hồ Chí Minh; Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D – Tổng giám đốc; Người đại diện theo uỷ quyền: Công ty TNHH MTV Q và khai thác tài sản ngân hàng S (Công ty S2) do ông Lê Ngọc T – Tổng giám đốc đại diện theo pháp luật (Theo giấy phép chứng nhận đăng ký doanh nghiệp số 0302847233, đăng ký thay đổi lần thứ 27 ngày 12/10/2022).

Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Dương Đức T1 – Phó tổng giám đốc Công ty S2 (Theo giấy uỷ quyền số 123/2024/GUQ-TGĐ ngày 30/09/2024); Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Nguyễn Thanh H – Cán bộ S1 (Giấy ủy quyền số 2548/2023/UQ-TGĐ ngày 16/8/2023).

Ông H có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa.

Bị đơn: Bà Đào Thị C, sinh năm 1967; Địa chỉ: B K, phường Q, quận H, thành phố Hà Nội;

Vắng mặt không có lý do.

Do có kháng cáo của nguyên đơn Ngân hàng TMCP S kháng cáo đối với Bản án dân sự sơ thẩm số 165/2024/DS-ST ngày 30/09/2024 của Toà án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo án sơ thẩm vụ án có nội dung như sau:

* Nguyên đơn S1 trình bày: Ngày 15/01/2019, S1 và bà Đào Thị C ký kết Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng, hạn mức là 15.000.000đ, mục đích tiêu dùng cá nhân. Lãi suất trong hạn thời điểm ký kết hợp đồng là 2.15%/tháng. Quá trình thực hiện hợp đồng, S1 có điều chỉnh lãi suất 1 lần (theo Quyết định số 2399 ngày 06/08/2019), lãi suất điều chỉnh là 2.6%/tháng, áp dụng từ tháng 08/2019 cho đến thời điểm khoản vay chuyển quá hạn là ngày 23/12/2019. Phí chậm trả: Phí chậm trả tính bằng 6% x số tiền chậm trả.

Thứ tự đối trừ nghĩa vụ đối với khoản tiền do bà C thanh toán như sau: Các khoản phí, lãi của kỳ trước, giao dịch mua hàng hóa của kỳ trước, các khoản phí và lãi trong kỳ, giao dịch mua hàng hóa trong kỳ.

Việc không thanh toán ít nhất số tiền tối thiểu của chủ thẻ cho đến kỳ phát hành thông báo tiếp theo sẽ tạo nên sự vi phạm theo hợp đồng. Trong trường hợp này toàn bộ tổng dư nợ sẽ trở nên đến hạn ngay lập tức và chủ thẻ phải thanh toán. Ngân hàng có quyền chấm dứt sử dụng thẻ và tiến hành thu hồi toàn bộ khoản nợ và áp dụng lãi suất nợ quá hạn là 150% của lãi suất trong hạn.

Quá trình sử dụng thẻ tín dụng, bà C thực hiện các giao dịch và thanh toán như sau:

  • Kỳ tháng 02/2019, giao dịch 14.700.000đ; không thanh toán;
  • Kỳ tháng 03/2019, giao dịch 14.994.000đ; thanh toán 15.000.000đ;
  • Kỳ tháng 04/2019, giao dịch 15.000.000đ; thanh toán 15.000.000đ;
  • Kỳ tháng 05/2019, giao dịch 15.000.000đ; thanh toán 15.000.000đ;
  • Kỳ tháng 06/2019, giao dịch 9.681.698đ; thanh toán 15.000.000đ;
  • Kỳ tháng 07/2019, giao dịch 5.000.000đ; không thanh toán;
  • Kỳ tháng 08/2019, không giao dịch; thanh toán 1.500.000đ;

Kỳ tháng 08/2019 là lần bà C thanh toán sau cùng. Từ đó đến nay, bà C không thanh toán thêm bất kỳ khoản tiền nào.

Khoản nợ của bà C chuyển nợ quá hạn từ ngày 23/12/2019, lãi suất quá hạn là 3.9%/tháng (= 150% của lãi suất trong hạn (2.6%/tháng) tại thời điểm chuyển nợ quá hạn). Tại thời điểm chuyển nợ quá hạn, nợ gốc của bà C là 16.204.541đ; nghĩa vụ trả nợ của bà C xác định là: Nợ gốc phải trả và lãi quá hạn trên số nợ gốc từ thời điểm quá hạn cho đến khi thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ.

S1 khởi kiện yêu cầu bà Đào Thị C thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 15/01/2019. Tính đến ngày 18/08/2024, bà C phải trả Ngân hàng số tiền là 52.037.807đ (trong đó, gốc là 16.204.541đ, lãi quá hạn là 35.833.266đ), và tiếp tục phải trả khoản tiền lãi quá hạn phát sinh trên số tiền nợ gốc chậm thanh toán từ ngày 19/08/2024 cho đến khi thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ theo lãi suất quá hạn là 3.9%/tháng.

Bị đơn: Quá trình Tòa án giải quyết vụ án, bị đơn là bà Đào Thị C đã được tống đạt, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng từ Thông báo thụ lý vụ án; đến Quyết định đưa vụ án ra xét xử...). Nhưng bà C vắng mặt trong các buổi làm việc tại Tòa án, không giao nộp văn bản thể hiện ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không giao nộp tài liệu, chứng cứ.

* Tài liệu chứng cứ Tòa án thu thập có trong hồ sơ vụ án:

Tại Văn bản ngày 10/04/2024, Công an phường Q, quận H, Thành phố Hà Nội cung cấp thông tin: Bà Đào Thị C, sinh ngày 25/11/1967, có hộ khẩu thường trú tại B K, phường Q, quận H. Hiện tại bà Đào Thị C đang cư trú tại địa chỉ trên.

Tại phiên Tòa sơ thẩm:

Đại diện theo ủy quyền của S1 giữ nguyên yêu cầu khởi kiện yêu cầu bà C phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 15/01/2019. Tính đến thời điểm xét xử sơ thẩm ngày 30/09/2024 bà C phải trả S1 số tiền 52.943.645đ (trong đó, nợ gốc là 16.204.541đ, lãi quá hạn là 36.739.104đ) và đề nghị tiếp tục tính lãi quá hạn trên số nợ gốc chưa trả cho đến ngày thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ.

Bà C vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 165/2024/DS-ST ngày 30/09/2024 của Toà án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội quyết định:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Ngân hàng TMCP S đối với bị đơn là bà Đào Thị C về việc yêu cầu bà C phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 15/01/2019.

Buộc bà C phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP S, tính đến thời điểm xét xử sơ thẩm ngày 30/09/2024, bà C phải trả S1 số tiền là 47.955.179đ (trong đó, nợ gốc là 14.038.555đ; nợ lãi trong hạn là 1.484.343đ, nợ lãi quá hạn là 31.828.211đ, phí trễ hạn là 504.070đ, phí vượt hạn mức là 100.000đ); và tiếp tục phải trả nợ lãi quá hạn phát sinh trên số tiền nợ gốc chậm thanh toán theo lãi suất quá hạn các bên thỏa thuận trong Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 15/01/2019, kể từ ngày 01/10/2024 cho đến khi thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Không nhất trí với quyết định của Bản án sơ thẩm, nguyên đơn Ngân hàng TMCP S kháng cáo đối với Bản án dân sự sơ thẩm số 165/2024/DS-ST ngày 30/09/2024 của Toà án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa, vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu kháng cáo; Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa phúc thẩm lần thứ 2 không có lý do.

Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội:

Về tố tụng:

Hội đồng xét xử và các đương sự tuân thủ đầy đủ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Sau khi phân tích nội dung vụ kiện, đại diện VKS nhân dân Thành phố H đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng Khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự tuyên giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 165/2024/DS-ST ngày 30/9/2024 của Toà án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

1. Về hình thức: Đơn kháng cáo của nguyên đơn - S1 nộp trong hạn luật định, đã nộp dự phí kháng cáo, về hình thức là hợp lệ.

2. Về tố tụng: Nguyên đơn – do ông Nguyễn Thanh H đại diện theo ủy quyền có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa; Bị đơn – bà Đào Thị C đã được tống đạt hợp lệ đến phiên tòa phúc thẩm lần thứ 2 nhưng vắng mặt không có lý do. Do đó, căn cứ Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

3. Về nội dung: Xét yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn – S1 yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận toàn bộ nội dung yêu cầu

khởi kiện của nguyên đơn. Hội đồng xét xử nhận thấy:

Giữa S1 và bà Đào Thị C có ký Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 15/01/2019 kèm điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, sau đó S1 cấp thẻ tín dụng số 486265-0967 hạn mức tín dụng 15.000.000 đồng cho bà C. Hợp đồng được các bên xác lập tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật và đạo đức xã hội. Về hình thức và nội dung của hợp đồng phù hợp với quy định tại Điều 117, 119 Bộ luật dân sự và Điều 54 Luật các tổ chức tín dụng. Vì vậy có hiệu lực kể từ thời điểm giao kết và là căn cứ phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên theo quy định tại Điều 401 Bộ luật dân sự.

3.1. Về yêu cầu đòi nợ gốc: Quá trình thực hiện hợp đồng, S1 đã cấp thẻ tín dụng cho bà C với mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất theo quy định tại Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của S1, S1 xác định dư nợ thẻ là tổng số nợ của tài khoản bao gồm tất cả số tiền giao dịch, phí và tiền lãi liên quan đến việc sử dụng thẻ. Dư nợ cuối kỳ trên tài khoản được xác định là dư nợ đầu kỳ của kỳ sao kê tiếp theo để tính tiền lãi, và các loại phí phải trả. Như vậy, xuất hiện tình trạng lặp đi lặp lại của việc tính lãi trên lãi và lãi trên phí, không phù hợp với quy định của pháp luật.

Do đó, bản án sơ thẩm xác định dư nợ gốc của bà C tại S1 là dư nợ của kỳ trả nợ mà bà C vi phạm nghĩa vụ trả nợ vào ngày 22/8/2019 tương ứng với số tiền 14.038.555đ là chính xác, phù hợp với bản tóm tắt sao kê của bà Đào Thị C tại S1.

3.2. Về yêu cầu đòi nợ lãi: Căn cứ thỏa thuận của các bên trong hợp đồng tín dụng; Quy định về mức lãi suất trong hạn của S1 đối với thẻ tín dụng và Thông tư số 19/2016/TT-NHNN ngày 30/6/2016 của ngân hàng N quy định về hoạt động thẻ ngân hàng thì việc S1 yêu cầu bị đơn – bà Đào Thị C phải thanh toán nợ lãi trong hạn, lãi quá hạn (với mức lãi suất quá hạn bằng 150% của lãi suất trong hạn), phí trễ hạn và phí vượt hạn mức là phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng và khoản 2 Điều 7 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Căn cứ dư nợ gốc của bà C tại S1 như phân tích ở trên thì số tiền bà C phải trả cho S1 bao gồm:

  • - Lãi trong hạn: Lãi suất vay trong hạn chưa trả của các kỳ tháng 9, 10, 11, 12/2019 (từ ngày 23/08/2019 đến ngày 22/12/2019) theo lãi suất 2.6%/ tháng, số tiền lãi trong hạn phải trả là: 14.038.555đ x 2.6%/30 ngày x 122 ngày = 1.484.343đ.
  • - Lãi quá hạn: Khoản vay chuyển nợ quá hạn từ ngày 23/12/2019 đến thời điểm xét xử sơ thẩm ngày 30/09/2024 là 1.744 ngày, lãi suất quá hạn là 3.9%/tháng, số tiền lãi quá hạn phải trả là: 14.038.555đ x 3.9%/30 ngày x 1744 ngày = 31.828.211đ.
  • - Phí trễ hạn còn nợ các kỳ từ tháng 09/2019 đến tháng 12/2019: 80.000đ + 85.604đ + 130.480đ + 207.986đ = 504.070đ.
  • - Phí vượt hạn mức còn nợ của các kỳ tháng 11, 12/2019: 50.000đ + 50.000đ = 100.000đ.

Tính đến thời điểm xét xử sơ thẩm ngày 30/09/2024, bà C có nghĩa vụ phải trả S1 tổng số tiền là 47.955.179đ (trong đó, nợ gốc là 14.038.555đ; nợ lãi trong hạn là 1.484.343đ, nợ lãi quá hạn là 31.828.211đ, phí trễ hạn là 504.070đ, phí vượt hạn mức là 100.000đ), và tiếp tục phải trả lãi quá hạn trên số nợ gốc chưa trả cho đến khi thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ.

Cấp sơ thẩm chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Do đó, Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn S1.

Về án phí:

Án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn – bà Đào Thị C phải chịu.

Án phí dân sự phúc thẩm: Nguyên đơn - S1 phải chịu.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 165/2024/DS-ST ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội.

Căn cứ:

  • - Khoản 3 Điều 26; điểm a, khoản 1, Điều 35; điểm a, khoản 1, Điều 39; khoản 4 Điều 91, Điều 147, Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Khoản 14, 16 Điều 4, khoản 2 Điều 91, điểm d khoản 3 Điều 98 của Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010; khoản 2 Điều 8, Điều 13 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao;
  • - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;

Xử:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Ngân hàng TMCP S đối với bị đơn là bà Đào Thị C về việc yêu cầu bà C phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 15/01/2019.

Buộc bà C phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP S, tính đến thời điểm xét xử sơ thẩm ngày 30/09/2024, bà C phải trả S1 số tiền là 47.955.179đ (trong đó, nợ gốc là 14.038.555đ; nợ lãi trong hạn là 1.484.343đ, nợ lãi quá hạn là 31.828.211đ, phí trễ hạn là 504.070đ, phí vượt hạn mức là 100.000đ); và tiếp tục phải trả nợ lãi quá hạn phát sinh trên số tiền nợ gốc chậm thanh toán theo lãi suất quá hạn các bên thỏa thuận trong Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 15/01/2019, kể từ ngày 01/10/2024 cho đến khi thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ.

2. Về án phí:

  • - Án phí dân sự phúc thẩm: Nguyên đơn – S1 phải chịu 300.000đ án phí dân sự phúc thẩm, được trừ vào 300.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0024387 ngày 23/10/2024.
  • - Án phí dân sự sơ thẩm: S1 phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm, được đối trừ với số tiền 1.098.000đ tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0003375 ngày 01/03/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Hai Bà Trưng, hoàn trả S1 số tiền còn lại là 798.000đ (bảy trăm chín mươi tám nghìn đồng).

Bà Đào Thị C phải chịu 2.398.000đ (hai triệu, ba trăm chín mươi tám nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

3. Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Các Thẩm phán

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thu Huyền

Nơi nhận:

  • - VKSND Thành phố Hà Nội;
  • - TAND quận Hai Bà Trưng;
  • - Chi cục thi hành án dân sự
  • quận Hai Bà Trưng;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu văn phòng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thu Huyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 261/2025/DS-PT ngày 14/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 261/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 14/04/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger