Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN NGÔ QUYỀN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 261/2024/HS-ST

Ngày 30-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Hồng Phương

Các Hội thẩm nhân dân.

Bà Nguyễn Thị Tư

Bà Lê Bích Thủy

Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Thu Trang – Thư ký Toà án nhân dân Quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Trần Thành Đạt - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận Ngô Quyền, Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 225/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 566/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 9 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 630/2024/HSST-QĐ ngày 19 tháng 9 năm 2024, đối với bị cáo:

Dương Ngọc A, sinh ngày 08 tháng 10 năm 1997 tại Quảng Ninh; nơi cư trú: Thôn X, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con bà Dương Thị T (không có bố); có chồng là anh Phùng Văn Q và 01 con; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ, tạm giam: Không; bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 25/3/2024; có mặt.

Bị hại: Chị Đặng Thị T1, sinh năm 2003; nơi thường trú: Thôn K, T, phường U, tỉnh Quảng Ninh; nơi ở: Số F T, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

Người làm chứng: Chị Nguyễn Ngô Hải Y; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19h00 ngày 21/3/2024, Dương Ngọc A đến làm việc tại cửa hàng bán trà Lorry địa chỉ 207 V, Đ, Ngô Q1, Hải Phòng thì phát hiện trên đường đi làm rơi điện thoại. Khi đến quán đã mượn điện thoại của chị chị Đặng Thị T1 để liên lạc xin chuộc lại chiếc điện thoại bị rơi. Chị T1 cho Ngọc A mượn để liên lạc. Trong quá trình sử dụng điện thoại của chị T1, Ngọc A nảy sinh ý định trộm cắp tiền trong tài khoản ngân hàng của chị T1. Lúc này Ngọc A vào ứng dụng "Ghi chú" trong điện thoại thì thấy có lưu: “Mk tk nghèo: Th123098" là mật khẩu để đăng nhập tài khoản ngân hàng của chị T1. Khi đã đăng nhập được vào tài khoản, Ngọc A phát hiện số dư trong tài khoản có 49.940.187 đồng. Ngọc A thao tác trên điện thoại của chị T1 để đặt lại mã chuyển tiền. Sau khi đã đổi được mã, Ngọc A sử dụng tài khoản ngân hàng của chị T1 chuyển khoản vào số tài khoản 19033882158027 ngân hàng T3 của Nguyễn Ngô Hải Y (sinh năm: 1997, trú tại. X, thị trấn T, huyện A, Hải Phòng) là bạn của Ngọc A số tiền 27.000.000 đồng và nói với Y số tiền đó là có người trả nợ cho Ngọc A. Tiếp đó Ngọc A nói với Y chuyển khoản 2.700.000 đồng nhưng chuyển nhầm thành 27.000.000 đồng nên Ngọc A trả nợ Y 2.500.000 đồng và bảo Y chuyển khoản lại vào số tài khoản 0706717666 ngân hàng M1 của Ngọc A số tiền 24.500.000 đồng. Y đồng ý và chuyển khoản lại cho Ngọc A. Sau đó, Ngọc A trả lại điện thoại cho chị T1.

Khoảng 21h00 ngày 22/3/2024, chị T1 vào điện thoại để sử dụng tài khoản ngân hàng thì thấy đã bị mất số tiền 27.000.000 đồng trong tài khoản nên đã đến Cơ quan Công an trình báo. Ngày 22/3/2024, Dương Ngọc A đến Công an quận N đầu thú về việc trộm cắp tài sản của chị T1. Ngọc A khai nhận: Sau khi trộm cắp được số tiền trên, ngoài việc chuyển trả cho Y 2.500.000 đồng đã thực hiện việc chuyển tiền vào các tài khoản của bạn bè và người thân, cụ thể:

- Hồi 21 giờ 05 phút ngày 21/3/2024 chuyển vào số tài khoản mang tên HOANG THỊ MAI TUOI ngân hàng V số tiền 1.300.000 đồng là tiền Ngọc A nợ chị T2.

- Hồi 21 giờ 07 phút ngày 21/3/2024 chuyển vào số tài khoản mang tên NGUYEN THỊ DUYEN ngân hàng M1 số tiền 5.000.000 đồng để Ngọc A nhận tiền mặt, sau khi đi làm về Ngọc A đã lấy số tiền mặt trên.

- Hồi 21 giờ 12 phút ngày 21/3/2024 chuyển vào số tài khoản mang tên DINH NGỌC QUY ngân hàng V1 số tiền 10.000.000 đồng, sau khi đi làm về Ngọc A đã lấy số tiền trên.

- Hồi 21 giờ 20 phút ngày 21/3/2024 chuyển vào số tài khoản mang tên DUONG THỊ THANH tại ngân hàng M1 số tiền 1.200.000 đồng là tiền Ngọc A cho bà T (bà T là mẹ Ngọc A).

- Hồi 22 giờ 20 phút ngày 21/3/2024 chuyển vào tài khoản mang tên NGUYEN NGOC DUYEN bằng cách quét mã ngân hàng V số tiền 3.000.000 đồng là tiền Ngọc A nợ chị D.

- Hồi 15 giờ 43 phút ngày 22/3/2024 chuyển vào tài khoản mang tên DUONG QUOC NHUT số tiền 3.000.000 để mua chứng khoán.

- Số tiền còn khoảng 1.000.000 đồng trong tài khoản Ngọc A và số tiền 15.000.000 đồng tiền mặt Ngọc A dùng để chi tiêu cá nhân.

Thực hiện việc khám xét khẩn cấp chỗ ở của Dương Ngọc A tại thôn X, A, A, Hải Phòng, kết quả không thu giữ được đồ vật, tài liệu liên quan đến vụ án.

Tại Cáo trạng số 224/CT-VKSNQ ngày 23 tháng 8 năm 2024, Viện Kiểm sát nhân dân Quận Ngô Quyền truy tố bị cáo Dương Ngọc A về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận Ngô Quyền luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 65; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội Trộm cắp tài sản. Thời gian thử thách từ 30 tháng đến 36 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Dương Ngọc A đã bồi thường 27.000.000 đồng cho chị T1. Chị T1 không yêu cầu gì khác nên không xem xét giải quyết.

- Bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi như nội dung nêu trên và bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận N, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân Quận Ngô Quyền, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, bị hại, người làm chứng đều vắng mặt, trước đó đã có lời khai ở cơ quan điều tra và việc vắng mặt không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ Điều 292, Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử.

- Về tội danh:

[3] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa và tại cơ quan điều tra phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xét có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 20 giờ ngày 21/3/2024, tại cửa hàng bán trà L, địa chỉ: B V, phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng, bị cáo Dương Ngọc A đã có hành vi lén lút chiếm đoạt số tiền 27.000.000 đồng của chị Đặng Thị T1 bằng việc mượn điện thoại của chị T1 rồi đăng nhập tài khoản của chị T1 để chuyển khoản số tiền này sang tài khoản ngân hàng của chị Nguyễn Ngô Hải Y. Hành vi của bị cáo Dương Ngọc A là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác, đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

- Về hình phạt:

[4] Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình giải quyết vụ án, bị cáo đã thành khẩn khai báo; bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho bị hại nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ “phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo đã ra đầu thú nên bị cáo Dương Ngọc A được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6] Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, bị cáo đã lợi dụng lòng tốt của người khác để chiếm đoạt số tiền 27.000.000 đồng nên cần phải xử lý nghiêm để răn đe, giáo dục bị cáo. Tuy nhiên, căn cứ tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân và bị cáo đang nuôi con là cháu Phùng Gia M, sinh ngày 22/12/2023. Để đảm bảo tính nhân văn, nhân đạo pháp luật nên Hội đồng xét xử cho bị cáo tự cải tạo ngoài xã hội để chăm sóc, nuôi dưỡng con nhỏ.

[7] Theo khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự, ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

- Về trách nhiệm dân sự:

[8] Bị cáo đã bồi thường 27.000.000 đồng cho chị T1. Chị T1 không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

- Về án phí:

[9] Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

- Về những vấn đề khác:

[10] Những người được bị cáo chuyển tiền vào tài khoản không biết số tiền trên do bị cáo phạm tội mà có nên không có căn cứ để xử lý.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm khoản 1 Điều 173; Điều 65, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự,

Tuyên bố bị cáo Dương Ngọc A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Dương Ngọc A 18 (mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách là 36 (ba mươi sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Dương Ngọc A cho Ủy ban nhân dân xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Dương Ngọc A có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định tại Điều 87 của Luật Thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự như sau:

  1. Người được hưởng án treo có thể vắng mặt tại nơi cư trú nếu có lý do chính đáng và phải xin phép theo quy định tại khoản 2 Điều này, phải thực hiện khai báo tạm vắng theo quy định của pháp luật về cư trú. Thời gian vắng mặt tại nơi cư trú mỗi lần không quá 60 ngày và tổng số thời gian vắng mặt tại nơi cư trú không được vượt quá một phần ba thời gian thử thách, trừ trường hợp bị bệnh phải điều trị tại cơ sở y tế theo chỉ định của bác sỹ và phải có xác nhận điều trị của cơ sở y tế đó.
  2. Người được hưởng án treo khi vắng mặt tại nơi cư trú phải có đơn xin phép và được sự đồng ý của Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục; trường hợp không đồng ý thì Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Người được hưởng án treo khi đến nơi cư trú mới phải trình báo với Công an cấp xã nơi mình đến tạm trú, lưu trú; hết thời hạn tạm trú, lưu trú phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an cấp xã nơi tạm trú, lưu trú. Trường hợp người được hưởng án treo vi phạm pháp luật, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đến tạm trú, lưu trú phải thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục kèm theo tài liệu có liên quan.
  3. Việc giải quyết trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thực hiện theo quy định tại Điều 68 của Luật này.
  4. Người được hưởng án treo không được xuất cảnh trong thời gian thử thách."

Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự: Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Dương Ngọc A kể từ ngày tuyên án.

Về án phí:

Căn cứ các điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội, bị cáo Dương Ngọc A phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo:

Căn cứ các điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - VKSND Quận Ngô Quyền;
  • - VKSND TP. Hải Phòng;
  • - TAND TP. Hải Phòng;
  • - CQCSĐT- Công an Quận Ngô Quyền;
  • - CQTHAHS- Công an Quận Ngô Quyền;
  • - Công an quận Ngô Quyền;
  • - Sở Tư pháp TP. Hải Phòng;
  • - Chi cục THA DS Quận Ngô Quyền;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đào Thị Hồng Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 261/2024/HS-ST ngày 30/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 261/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: thụ lý 225
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger