Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 261/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 30/7/2024

“V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Từ
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hồ Bá Võ
Bà Bùi Thị Hoa

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ– Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An: Không tham gia phiên toà.

Ngày 30/7/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 183/2024/TLST-HNGĐ ngày 09/5/2024 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 339/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 15/7/2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Đậu Thị C, sinh năm 1996.

    Nơi đăng ký HKTT: Xóm T, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Địa chỉ cư trú hiện nay: P, 37-7, H - G, P-gu, S-si, G-do, Hàn Quốc. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

  2. Bị đơn: Anh Lê Sỹ C1, sinh năm 1992.

    Nơi đăng ký HKTT: Xóm T, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Địa chỉ cư trú hiện nay: 1, 58 M-ro, Mohyeon-eup, C-gu, Y-si (B01) (150 Dongnim-ri, D), Hàn Quốc; Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

  3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Phùng Thị S1, sinh năm 1970; địa chỉ: Xóm T, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Đậu Thị C trình bày: Chị và anh Lê Sỹ C1 kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn vào ngày 13/01/2016, tại Ủy ban nhân dân xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Thời gian đầu sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng về sau vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Tháng 11/2018, anh C1 đi Hàn Quốc làm việc, tháng 11/2022 chị C cũng sang Hàn Quốc làm việc. Kể từ khi sang Hàn Quốc, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, anh chị không còn quan tâm và liên lạc với nhau nữa. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống. Mặc dù hai bên đã cố gắng hòa giải nhưng không cứu vãn được. Nay chị thấy tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lê Sỹ C1.

Về con chung: Chị Đậu Thị C và anh Lê Sỹ C1 có 02 con chung là Lê Sĩ Bảo L, sinh ngày 05/10/2016 và Lê Thảo V, sinh ngày 20/5/2019. Hiện các cháu đang ở cùng với bà nội là bà Phùng Thị S1, sinh năm 1970; địa chỉ: Xóm T, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Nay vợ chồng ly hôn, chị C đề nghị giao con chung cho anh C1 chăm sóc, nuôi dưỡng. Nay anh C1 đang ở nước ngoài, chị C đề nghị giao con chung cho bà Phùng Thị S1 chăm sóc nuôi dưỡng cho đến khi anh C1 về Việt Nam. Về cấp dưỡng nuôi con, chị C và anh C1 tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị C không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về án phí: Chị C xin chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Hiện tại, chị Đậu Thị C đang ở Hàn Quốc nên chị không thể tham gia phiên tòa. Do đó, chị đề nghị Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt chị. Đồng thời, chị C đề nghị Tòa án gửi các văn bản cho chị thông qua ông Đậu Xuân H, địa chỉ: Xóm A, xã D, huyện D, Nghệ An. Ông H sẽ có trách nhiệm nhận và thông báo lại cho chị C.

Bị đơn anh Lê Sỹ C1 trình bày: Anh C1 thừa nhận về thời gian, địa điểm đăng ký kết hôn, quá trình chung sống và nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng đúng như chị Đậu Thị C trình bày. Hiện nay, nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh C1 đồng ý ly hôn với chị Đậu Thị C.

Về con chung: Anh C1 thừa nhận vợ chồng có 2 con chung hiện đang ở với bà nội là bà Phùng Thị S1 như chị Đậu Thị C trình bày. Nay vợ chồng ly hôn, anh C1 đề nghị giao con chung cho anh C1 chăm sóc, nuôi dưỡng, tuy nhiên hiện nay anh đang ở nước ngoài nên đề nghị giao con chung của vợ chồng cho bà Phùng Thị S1 chăm sóc nuôi dưỡng cho đến khi anh C1 về Việt Nam. Về cấp dưỡng nuôi con, chị C và anh C1 tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh C1 không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Anh C1 xin chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Hiện nay, anh C1 đang sinh sống và làm việc tại Hàn Quốc đi lại khó khăn, không có điều kiện về Việt Nam. Do đó, anh đề nghị Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh. Đồng thời, anh đề nghị Tòa án gửi các văn bản cho anh thông qua ông Nguyễn Ngọc T, địa chỉ: A, đường N, phường C, thành phố H, tỉnh Hải Dương. Ông T sẽ có trách nhiệm nhận và thông báo lại cho anh.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Phùng Thị S1 trình bày: Bà Phùng Thị S1 là mẹ đẻ của anh Lê Sỹ C1. Vợ chồng anh C1, chị C kết hôn với nhau và đã có 02 con chung là Lê Sĩ Bảo L, sinh ngày 05/10/2016 và Lê Thảo V, sinh ngày 20/5/2019. Do hiện nay, anh C1 và chị C đang ở nước ngoài làm ăn nên cháu Bảo L và cháu Thảo V đang được bà S1 chăm sóc, nuôi dưỡng. Nếu vợ chồng anh C1, chị C ly hôn, bà thống nhất, cam kết sẽ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các cháu cho đến khi anh Lê Sỹ C1 về Việt Nam. Bà không yêu cầu anh C1, chị C thanh toán chi phí nuôi dưỡng các cháu và đề nghị được vắng mặt trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án.

Tại bản trình bày ý kiến ngày 08/7/2024, cháu Lê Sĩ Bảo L trình bày: cháu là con bố Lê Sỹ C1 và mẹ Đậu Thị C. Nếu bố mẹ ly hôn, nguyện vọng của cháu là được ở với bố C1 và bà nội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Vụ án ly hôn không có tranh chấp con chung, tài sản chung và Tòa án không phải tiến hành thu thập chứng cứ nên thuộc trường hợp Viện kiểm sát không phải tham gia phiên tòa theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[1.2] Về thẩm quyền giải quyết: Chị Đậu Thị C khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lê Sỹ C1, hiện cư trú tại Hàn Quốc; trước khi xuất cảnh, anh C1 có địa chỉ tại xóm T, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại Điều 37, Điều 40, Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 122, Điều 123, Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình.

[1.3] Về sự vắng mặt của đương sự: Chị Đậu Thị C và anh Lê Sỹ C1 đang cư trú tại nước Hàn Quốc vắng mặt tại phiên tòa nhưng có gửi các tài liệu, bản tự khai đến Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An và đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Văn bản của chị C và anh C1 gửi về có chứng thực của Đ tại Hàn Quốc. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phùng Thị S1 có đơn xin xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Đậu Thị C và anh Lê Sỹ C1 kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Năm 2018, anh C1 đi làm việc tại Hàn Quốc. Năm 2022, chị C cũng đi làm việc tại Hàn Quốc. Do bất đồng quan điểm sống nên mẫu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng hơn, vợ chồng không còn tình cảm với nhau, chị C làm đơn xin ly hôn, anh C1 cũng đồng ý ly hôn. Xét thấy, hôn nhân giữa chị Đậu Thị C và anh Lê Sỹ C1 đã lâm vào tình trạng trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình giải quyết cho chị Đậu Thị C và anh Lê Sỹ C1 được ly hôn.

[2.2] Về con chung: Chị Đậu Thị C và anh Lê Sỹ C1 có 02 con chung là Lê Sĩ Bảo L, sinh ngày 05/10/2016 và Lê Thảo V, sinh ngày 20/5/2019. Do chị C và anh C1 đang ở nước ngoài, con chung Lê Sĩ Bảo L và Lê Thảo V đang ở cùng với bà nội là bà Phùng Thị S1. Nay vợ chồng ly hôn, chị C và anh C1 thống nhất thỏa thuận giao con chung cho anh C1 chăm sóc, nuôi dưỡng, trong thời gian anh C1 ở nước ngoài thống nhất giao con chung cho bà Phùng Thị S1 quản lý, chăm sóc cho đến khi anh C1 về nước; cháu Bảo L cũng có nguyện vọng được ở với bố và bà nội. Bà Phùng Thị S1 tự nguyện cam kết tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung của chị C, anh C1 cho đến khi anh C1 về Việt Nam. Xét thấy, sự thỏa thuận của chị C, anh C1, bà S1 là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội, phù hợp với nguyện vọng của cháu Bảo L nên được chấp nhận. Chị Đậu Thị C có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

Về cấp dưỡng, thanh toán chi phí nuôi dưỡng con: Chị C và anh C1 tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết; bà Phùng Thị S1 không yêu cầu anh C1, chị C phải thanh toán chi phí nuôi dưỡng cháu Lê Sĩ Bảo L và cháu Lê Thảo V nên Toà án không xem xét.

[4] Về tài sản chung, nợ chung: Chị C và anh C1 không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét.

[6] Về án phí: Chị Đậu Thị C và anh Lê Sỹ C1 phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH:

Vì các lẽ trên,

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, điểm a khoản 5 Điều 477, khoản 1, 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ vào Điều 56, 81, 82, 83, 122, 123, 127 Luật hôn nhân và gia đình 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đậu Thị C.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Đậu Thị C và anh Lê Sỹ C1 được ly hôn.
  2. Về con chung: Ghi nhận sự thỏa thuận của chị Đậu thị C và anh Lê Sỹ C1: Giao 02 con chung là Lê Sĩ Bảo L, sinh ngày 05/10/2016 và Lê Thảo V, sinh ngày 20/5/2019 cho anh Lê Sỹ C1 trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi, trưởng thành.

    Ghi nhận sự tự nguyện của bà Phùng Thị S1 nhận trách nhiệm quản lý, chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Lê Sỹ Bảo L1 và cháu Lê Thảo V trong thời gian anh Lê Sỹ C1 đang ở nước ngoài.

    Chị Đậu Thị C có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

    Về cấp dưỡng và công sức chăm sóc, nuôi dưỡng con: Chị Đậu Thị C, anh Lê Sỹ C1 và bà Phùng Thị S1 không yêu cầu nên Toà án không xem xét.

  3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Đậu Thị C và anh Lê Sỹ C1 không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét.
  4. Về án phí: Chị Đậu Thị C phải chịu 75.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0012829 ngày 08/5/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An. Hoàn trả cho chị C 225.000 đồng án phí đã nộp. Anh Lê Sỹ C1 phải chịu 75.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
  5. Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
  6. Chị Đậu Thị C và anh Lê Sỹ C1 có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật. Bà Phùng Thị S1 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Cục THADS tỉnh Nghệ An;
  • - UBND xã Diễn Ngọc, H. Diễn Châu;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
Nguyễn Thị Thu Từ
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
CÁC HỘI THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Hồ Bá Võ Bùi Thị H1 Nguyễn Thị Thu T1

6

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 261/2024/HNGĐ-ST ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 261/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp HNGĐ Đậu Thị C- Lê Sỹ C1
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger