Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI HÀ NỘI
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 261/2024/HC-PT
Ngày: 26/4/2024
V/v: “Khiếu kiện Quyết định hành
chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”.

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ông Thân Thắng
Các Thẩm phán: Ông Đặng Đình Lực
Trần Thị Quỳnh.

Thư ký phiên tòa: Ông Thái Duy Khánh, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Đào Trọng Thuyết, Kiểm sát viên cao cấp.

Ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm, công khai, vụ án hành chính thụ lý số 51/2024/TLPT-HC ngày 19 tháng 01 năm 2024 do có kháng cáo của người khởi kiện đối với Bản án hành chính sơ thẩm số 06/2023/HC-ST ngày 15 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Yên Bái. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 4442/2024/QĐ-PT ngày 11 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Người khởi kiện: Ông Lê N, sinh năm 1977. Có mặt.

    Địa chỉ: Thôn N, xã G, thành phố Y, tỉnh Yên Bái.

    Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Vĩnh B. Có mặt.

    Địa chỉ: Công ty L1, phòng 301, số E Bà T, phường T, quận H, thành phố Hà Nội (theo giấy ủy quyền ngày 10/8/2023).

  2. Người bị kiện:
    1. Ủy ban nhân dân thành phố Y, tỉnh Yên Bái.
    2. Chủ tịch UBND thành phố Y, tỉnh Yên Bái.

    Người đại diện theo ủy quyền của UBND thành phố Y và Chủ tịch UBND thành phố Y: Ông Trần Việt D – Chức vụ: Phó Chủ tịch (theo Giấy ủy quyền ngày 18/10/2023). Vắng mặt.

  3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
    1. Ông Tô Văn H, sinh năm 1957 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1959. Vắng mặt.

      Cùng địa chỉ: Thôn N, xã G, thành phố Y, tỉnh Yên Bái.

    2. Ông Lai Trung K – Công chứng viên, Phòng C, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt.

      Địa chỉ: Số H, đường Đ, thành phố Y, tỉnh Yên Bái.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, đơn khởi kiện bổ sung, bản tự khai và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ của người khởi kiện và người đại diện của người khởi kiện thể hiện:

Ngày 15/11/2019, ông Lê N và ông Tô Văn H lập Giấy biên nhận mua bán - đặt cọc quyền sử dụng đất (giấy viết tay, có chữ ký người chứng kiến), theo đó ông N nhận chuyển nhượng của ông H diện tích 100m² đất ở nông thôn trong tổng số 200m² đất ở, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sau đây được viết tắt là GCNQSDĐ), quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH 01247 ngày 10/4/2017, do Ủy ban nhân dân (sau đây viết tắt là UBND) thành phố Y cấp cho ông Tô Văn H và bà Nguyễn Thị L đối với thửa đất số 277, tờ bản đồ số 22 và diện tích 279,5m² đất trồng cây lâu năm trong tổng số 389,5m² đất trồng cây lâu năm theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH 01246 ngày 10/4/2017, do UBND thành phố Y cấp cho ông Tô Văn H và bà Nguyễn Thị L đối với thửa đất số 273, tờ bản đồ số 22, cùng tại địa chỉ thôn F, xã G, thành phố Y, tỉnh Yên Bái. Khi nhận chuyển nhượng, trên đất ở có nhà xây cũ tường 110 bổ trụ, lợp mái tôn, ông N chuyển hộ khẩu đến xã G và sinh sống tại đó cho đến nay.

Ngày 01/12/2019, ông Lê N đã liên hệ với Phòng C tỉnh Yên Bái để làm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nhưng vì đất của ông H có một phần diện tích 7,1m² đất ở và 26,4 m² đất cây lâu năm đang bị thu hồi, nên ông N và ông H chưa thực hiện được hợp đồng mua bán chuyển nhượng tại văn phòng công chứng.

Ngày 20/01/2020, ông N và ông H lập Hợp đồng mua bán đất (giấy viết tay, có chữ ký người làm chứng), nội dung ông H chuyển nhượng cho ông N diện tích 100m² đất ở và 279,5m² đất trồng cây lâu năm với tổng số tiền 700.000.000 đồng, ông N đã trả cho ông H số tiền 600.000.000 đồng và nhận 02 GCNQSDĐ số CH 01247 và số CH 01246 của ông H, bà L để thực hiện thủ tục chuyển nhượng, tách thửa.

Ngày 19/5/2020, ông H bị thu hồi 7,1m² đất ở và 26,4 m² đất trồng cây lâu năm để thực hiện dự án đầu tư xây dựng công trình nối Quốc lộ C với đường C - Lào Cai. Trước đó ngày 28/4/2020, ông N nhận ủy quyền của ông Tô Văn H giải quyết các công việc ký hồ sơ giấy tờ có liên quan đến việc thu hồi đất 7,1m² đất ở và 26,4 m² đất trồng cây lâu năm, ông N đã nhận tiền bồi thường về đất còn về tài sản đã kiểm kê, có phương án bồi thường nhưng chưa được thực hiện. Sau đó, ông N đã làm thủ tục chỉnh lý GCNQSDĐ tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Y. Tại trang 04 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH01247 và số CH01246 ngày 10/4/2017 do UBND thành phố Y cấp cho ông Tô Văn H và bà Nguyễn Thị L, chỉnh lý diện tích đất ở còn lại là 192,9m², chỉnh lý diện tích đất cây lâu năm còn lại là 363,1m².

Để hoàn tất thủ tục mua bán chuyển nhượng quyền sử dụng giữa ông N và ông H, ông N đã nhiều lần liên hệ Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Y để thực hiện thủ tục chia tách thửa đất nhưng chưa thực hiện được. Ngày 07/6/2022, ông N và vợ chồng ông Tô Văn H đã ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số công chứng 1327, quyền số 02/2022TP/CC-SCC/HĐGD, nội dung ông N nhận chuyển nhượng của ông H diện tích 92,9m² đất ở nông thôn trong tổng số 200m² đất ở theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH 01247 ngày 10/4/2017, do UBND thành phố Y cấp cho ông Tô Văn H và bà Nguyễn Thị L đối với thửa đất số 277, tờ bản đồ số 22. Hợp đồng chuyển nhượng số 1327 chỉ là sự xác nhận lại việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông N và vợ chồng ông H trước đó, chứ không nhằm mục đích chia tách thửa đất.

Thực hiện Dự án: Xây dựng khu dân cư nông thôn mới (phát triển quỹ đất dọc hai bên đường Quốc lộ 32C nối đường Â, đoạn từ cầu N giao ngã tư đường Q, QL32C nối đường N - Lào Cai) thuộc xã G, thành phố Y.

Ngày 01/7/2022, UBND thành phố Y ban hành Thông báo thu hồi đất số 1047/TB-UBND thu hồi các thửa đất của ông Tô Văn H gồm: Thửa đất phi nông nghiệp số 364 (diện tích 100m²), thửa đất nông nghiệp số 365 (diện tích 253,5 m²), thửa đất nông nghiệp số 366 (diện tích 109,6m²) thuộc tờ Bản đồ Mảnh đo đạc chỉnh lý bản đồ địa chính thu hồi đất số 60 (1)-2022 tại thôn N. Ngày 26/4/2023, UBND thành phố Y ban hành Thông báo số 660/TB-UBND điều chỉnh, bổ sung Thông báo thu hồi đất số 1047/TB-UBND, theo đó thu hồi bổ sung thửa đất ở số 363 (diện tích 92,9 m²). Việc UBND thành phố Y ban hành thông báo thu hồi đất và xác định ông Tô Văn H là đối tượng được bồi thường khi thu hồi thửa đất cây lâu năm số 365 (diện tích 253,5 m²) và thửa đất ở số 363 (diện tích 92,9 m²) là không đúng, do hai thửa đất trên ông N đã nhận chuyển nhượng từ ông Tô Văn H. Mặt khác, trước đó ông H đã có đơn gửi UBND thành phố Y xác nhận đã chuyển nhượng thửa đất số 365 và thửa đất số 363 cho ông N và đề nghị UBND thành phố Y gửi thông báo thu hồi hai thửa đất trên cho ông N.

Ngày 19/6/2023, ông N đã làm đơn khiếu nại Thông báo số 660/TB-UBND ngày 26/4/2023 của UBND thành phố Y. Ngày 06/7/2023, UBND thành phố Y ban hành Thông báo số 1076/TB-UBND ngày 06/7/2023 về việc không thụ lý giải quyết khiếu nại của ông Lê N. Tuy nhiên, nội dung của Thông báo số 1076 lại thể hiện rõ nội dung giải quyết khiếu nại, theo đó, UBND thành phố Y cho rằng Thông báo số 660 là đúng theo quy định của pháp luật. Thông báo 1076 không đưa ra được căn cứ cụ thể để không thụ lý giải quyết khiếu nại mà chỉ viện dẫn chung chung theo Điều 11 Luật Khiếu nại.

Vì vậy, ông Lê N đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Yên Bái giải quyết:

  • + Hủy Thông báo số 1076/TB-UBND ngày 06/7/2023 của Chủ tịch UBND thành phố Y về việc không thụ lý giải quyết khiếu nại (Sau đây viết tắt là Thông báo số 1076); Thông báo số 660/TB-UBND ngày 26/4/2023 về điều chỉnh, bổ sung Thông báo thu hồi đất số 1047/TB-UBND ngày 01/7/2022 của UBND thành phố Y (Sau đây viết tắt là Thông báo số 660); Thông báo thu hồi đất số 1047/TB-UBND ngày 01/7/2022 của UBND thành phố Y (Sau đây viết tắt là Thông báo số 1047) và Quyết định số 4739/QĐ-UBND ngày 24/10/2023 về việc thu hồi đất của UBND thành phố Y (Sau đây viết tắt là Quyết định số 4739).
  • + Buộc UBND thành phố Y bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho ông Lê N khi thu hồi đất tại thửa đất số 363 (với diện tích 92,9 m² đất ở nông thôn) và thửa đất số 365 (với diện tích 253,5 m² đất trồng cây lâu năm) mà ông Lê N đã nhận chuyển nhượng tại thôn N, xã G, thành phố Y, tỉnh Yên Bái.

Tại các bản tự khai và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, người đại diện theo ủy quyền của người bị kiện UBND thành phố Y và Chủ tịch UBND thành phố Y thể hiện:

*) Về căn cứ, trình tự, thủ tục, thẩm quyền ban hành Thông báo số 1076 của Chủ tịch UBND thành phố Y; Thông báo số 1047, Thông báo số 660 và Quyết định số 4739 của UBND thành phố Y:

Dự án: Xây dựng khu dân cư nông thôn mới (phát triển quỹ đất dọc hai bên đường Quốc lộ 32C nối đường Â, đoạn từ cầu N giao ngã tư đường Q, QL32C nối đường C - Lào Cai), xã G, thành phố Y được Hội đồng nhân dân tỉnh Y thông qua tại Nghị quyết số 03/NQ-HĐND ngày 30/3/2022 và được UBND tỉnh Y quyết định về việc cập nhật các dự án, công trình và danh sách các hộ gia đình, cá nhân đăng ký chuyển mục đích sử dụng đất vào kế hoạch sử dụng đất năm 2022 cấp huyện tại Quyết định số 603/QĐ-UBND ngày 15/4/2022.

Quá trình thu hồi đất để thực hiện dự án, Trung tâm phát triển quỹ đất tỉnh Yên Bái đã xây dựng Kế hoạch số 16/KH-TTPTQĐ ngày 25/4/2022 về việc thu hồi đất, điều tra khảo sát, đo đạc, kiểm đếm phục vụ công tác bồi thường, hỗ trợ tái định cư. Phòng T1 thành phố thẩm định trình UBND thành phố Y phê duyệt tại Quyết định 1208/QĐ-UBND ngày 29/4/2022.

Ngày 10/5/2022, UBND thành phố Y ban hành Quyết định số 1340/QĐ-UBND về việc thành lập Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư (sau đây viết tắt là BT, HT&TĐC) thực hiện Dự án.

Ngày 10/5/2022, Hội đồng BT, HT&TĐC ban hành Quyết định số 1343/QĐ-HĐBT về việc thành lập Tổ chuyên trách giúp việc Hội đồng BT, HT&TĐC Dự án.

Ngày 17/5/2022, Hội đồng BT, HT&TĐC phối hợp với Trung tâm phát triển quỹ đất tỉnh Yên Bái, UBND xã G và Ủy ban Mặt trận Tổ quốc xã G tiến hành họp phổ biến kế hoạch thu hồi đất, điều tra, khảo sát, đo đạc kiểm đếm thực hiện Dự án. Tại cuộc họp ông Tô Xuân H1 là người được ông Tô Văn H ủy quyền có mặt tham dự (theo giấy ủy quyền ngày 16/5/2022).

Ngày 21/6/2022, Hội đồng BT, HT&TĐC có Văn bản số 340/CV-HĐBT về việc đề nghị ban hành thông báo thu hồi đất thực hiện Dự án.

Ngày 01/7/2022, UBND thành phố ban hành Thông báo số 1047/TB-UBND về việc thu hồi đất của ông Tô Văn H để thực hiện Dự án: Xây dựng khu nông thôn mới (Phát triển quỹ đất dọc hai bên đường Quốc lộ 32C nối đường Â, đoạn từ cầu N giao ngã tư đường Q, QL32C nối đường C - Lào Cai), theo đó đã dự kiến thu hồi 463,1m² tại các thửa 364; 365; 366 thuộc tờ bản đồ (Mảnh đo đạc chỉnh lý bản đồ địa chính thu hồi đất) số 60 (1)-2022, loại đất đang sử dụng là đất nông nghiệp và đất phi nông nghiệp.

Ngày 07/7/2022, UBND xã G phối hợp với Hội đồng BT, HT&TĐC; Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã G tiến hành họp phổ biến thông báo thu hồi đất đồng thời UBND xã G đã ban hành Thông báo số 559/TB-UBND ngày 07/7/2022 về việc niêm yết công khai thông báo thu hồi đất để thực hiện Dự án Xây dựng khu nông thôn mới (Phát triển quỹ đất dọc hai bên đường Quốc lộ 32C nối đường Â, đoạn từ cầu N giao ngã tư đường Q, QL32C nối đường C - Lào Cai), theo đó đã công khai thông báo thu hồi đất từ số 1025/TB-UBND đến số 1065/TB-UBND ngày 01/7/2022 của UBND thành phố Y (Trong đó có Thông báo số 1047/TB-UBND ngày 01/7/2022 của UBND thành phố về việc thu hồi đất của ông Tô Văn H).

Ngày 18/7/2022, UBND thành phố Y ban hành Quyết định số 2327/QĐ-UBND về việc bổ sung thành viên Hội đồng BT, HT&TĐC thực hiện Dự án.

Ngày 18/7/2022, Hội đồng BT, HT&TĐC ban hành Quyết định số 2328/QĐ-HĐBT về việc kiện toàn Tổ chuyên trách giúp việc Hội đồng BT, HT &TĐC thực hiện Dự án.

Ngày 20/9/2022, Trung tâm phát triển quỹ đất tỉnh Yên Bái ban hành Kế hoạch số 59/KH-TTPTQĐ về việc thu hồi đất, điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm thực hiện Dự án Xây dựng khu nông thôn mới (Phát triển quỹ đất dọc hai bên đường Quốc lộ 32C nối đường Â, đoạn từ cầu N giao ngã tư đường Q, QL32C nối đường C - Lào Cai) - bổ sung thuộc xã G, thành phố Y.

Ngày 10/10/2022, UBND thành phố Y ban hành Quyết định số 3731/QĐ-UBND về việc điều chỉnh, bổ sung Quyết định số 1208/QĐ-UBND ngày 29/4/2022 của UBND thành phố Y về việc phê duyệt kế hoạch thu hồi đất, điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm thực hiện Dự án Xây dựng khu nông thôn mới (Phát triển quỹ đất dọc hai bên đường Quốc lộ 32C nối đường Â, đoạn từ cầu N giao ngã tư đường Q, QL32C nối đường C - Lào Cai) thuộc xã G, thành phố Y, theo đó đã điều chỉnh diện tích thu hồi từ 8,2ha lên thành 13,8ha và điều chỉnh mục dự kiến kế hoạch di chuyển, bố trí tái định cư từ “Chi tiết có Kế hoạch số 16/KH-TTPTQĐ ngày 25/4/2022 của Trung tâm phát triển quỹ đất tỉnh Yên Bái kèm theo” thành “Chi tiết có Kế hoạch số 16/KH-TTPTQĐ ngày 25/4/2022 và Kế hoạch số 59/KH-TTPTQĐ ngày 20/9/2022 của Trung tâm phát triển quỹ đất tỉnh Yên Bái kèm theo".

Ngày 02/12/2022, UBND thành phố ban hành Thông báo số 1859/TB-UBND về việc điều chỉnh, bổ sung Thông báo thu hồi đất số 1047/TB-UBND ngày 01/7/2022 của UBND thành phố Y, theo đó đã điều chỉnh diện tích đất dự kiến thu hồi từ 463,1m² lên thành 595,6m², bổ sung thêm thửa đất nông nghiệp thu hồi số 170 thuộc tờ bản đồ (Mảnh đo đạc chỉnh lý bản đồ địa chính thu hồi đất) số 144-(1)-2022, các nội dung khác giữ nguyên theo Thông báo số 1047/TB-UBND ngày 01/7/2022 của UBND thành phố Y.

Ngày 02/3/2023, UBND thành phố ban hành Thông báo số 420/TB-UBND về việc điều chỉnh, bổ sung Thông báo thu hồi đất số 1047/TB-UBND ngày 01/7/2022 của UBND thành phố Y, theo đó đã điều chỉnh diện tích đất dự kiến thu hồi từ 463,1m² lên thành 688,5m², bổ sung thêm thửa đất phi nông nghiệp thu hồi số 363 thuộc tờ bản đồ (Mảnh đo đạc chỉnh lý bản đồ địa chính thu hồi đất) số 60 (1)-2022 và thửa đất nông nghiệp số 170 thuộc tờ bản đồ (Mảnh đo đạc chỉnh lý bản đồ địa chính thu hồi đất) số 144-(1)-2022, thông báo này thay thế Thông báo số 1859/TB-UBND ngày 02/12/2022 của UBND thành phố Y.

Ngày 03/3/2023, UBND xã G tiến hành bàn giao Thông báo số 420/TB-UBND ngày 02/3/2023 của UBND thành phố Y cho gia đình ông Tô Văn H. Tuy nhiên, ông H không nhận thông báo trên với lý do gia đình đã chuyển nhượng đất cho ông Lê N, gia đình không còn trách nhiệm gì.

Ngày 26/4/2023, UBND thành phố Y ban hành Thông báo số 660/TB-UBND điều chỉnh, bổ sung Thông báo thu hồi đất số 1047/TB-UBND, theo đó đã điều chỉnh diện tích đất dự kiến thu hồi từ 463,1m² lên thành 688,5m², và điều chỉnh thông tin loại đất đang sử dụng; cụ thể thu hồi các thửa đất của ông Tô Văn H gồm: Thửa đất ở nông thôn số 364 (diện tích 100m²), thửa đất trồng cây lâu năm số 365 (diện tích 253,5 m²), thửa đất trồng cây lâu năm số 366 (diện tích 109,6m²) thuộc tờ bản đồ Mảnh đo đạc chỉnh lý bản đồ địa chính thu hồi đất số 60 (1)-2022; thửa đất bằng trồng cây hằng năm khác số 170 (diện tích 132,5m²) thuộc tờ bản đồ Mảnh đo đạc chỉnh lý bản đồ địa chính thu hồi đất số 144 (1)-2022 và thửa đất ở nông thôn số 363 (diện tích 92,9 m²) thuộc tờ bản đồ Mảnh đo đạc chỉnh lý bản đồ địa chính thu hồi đất số 11-2023. Thông báo này thay thế Thông báo số 420/TB-UBND ngày 02/3/2023 của UBND thành phố Y.

Ngày 19/6/2023, ông Lê N đã làm đơn khiếu nại Thông báo số 660 vì cho rằng: Việc UBND thành phố Y ban hành thông báo thu hồi đất và xác định ông Tô Văn H là đối tượng được bồi thường khi thu hồi thửa đất cây lâu năm số 365 (diện tích 253,5 m²) và thửa đất ở số 363 (diện tích 92,9 m²) là không đúng, do hai thửa đất trên ông N đã nhận chuyển nhượng từ ông H.

Ngày 06/7/2023, UBND thành phố Y ban hành Thông báo số 1076 về việc không thụ lý giải quyết khiếu nại của ông Lê N.

- Đối với Quyết định thu hồi đất số 4739:

Quá trình thực hiện thu hồi đất đối hộ ông Tô Văn H, Hội đồng BT, HT&TĐC tiến hành lập biên bản kiểm kê đất đai và tài sản trên diện tích đất thu hồi phục vụ cho việc lập phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư để giải phóng mặt bằng thực hiện Dự án.

Sau khi kiểm kê đất đai, công trình vật kiến trúc, cây cối hoa màu, căn cứ vào Biên bản xác định nguồn gốc sử dụng đất ngày 22/5/2023 của UBND xã G và các số liệu kiểm kê, áp dụng các chính sách quy định khi Nhà nước thu hồi đất Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư áp giá lập phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư theo quy định.

Ngày 21/8/2023 Hội đồng BT, HT&TĐC thành phố Yên Bái ban hành Thông báo số 169/TB-HĐBT về việc niêm yết, công khai phương án bồi thường, hỗ trợ tái định đồng thời phối hợp với UBND xã G tổ chức lấy ý kiến của người dân về phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, niêm yết công khai phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư tại trụ sở UBND xã (Biên bản ngày 24/8/2023) và kết thúc niêm yết công khai phương án (Biên bản kết thúc công khai ngày 13/9/2023).

Ngày 06/10/2023, Hội đồng BT, HT&TĐC thành phố Y lập Tờ trình số 175/TTr-HĐBT đề nghị Hội đồng thẩm định phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư thành phố Y xem xét, thẩm định trình UBND thành phố phê duyệt phương án bồi thường hỗ trợ, tái định cư và ban hành quyết định thu hồi đất.

Ngày 24/10/2023, UBND thành phố Y ban hành Quyết định số 4742/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư Dự án, tại Quyết định hộ ông Tô Văn H, bà Nguyễn Thị L được phê duyệt với tổng số tiền bồi thường, hỗ trợ là 898.225.420 đồng (Trong đó: Bồi thường về đất 828.940.920 đồng; tiền cây trồng vật nuôi 33.930.000 đồng; tiền hỗ trợ khác 35.354.500 đồng);

Ngày 24/10/2023, UBND thành phố Y ban hành Quyết định số 4739/QĐ-UBND về việc thu hồi đất của hộ ông Tô Văn H gồm các thửa: Thửa đất ở nông thôn số 364 (diện tích 100m²), thửa đất trồng cây lâu năm số 365 (diện tích 253,5 m²), thửa đất trồng cây lâu năm số 366 (diện tích 109,6m²) thuộc tờ bản đồ Mảnh đo đạc chỉnh lý bản đồ địa chính thu hồi đất số 60 (1)-2022; thửa đất bằng trồng cây hằng năm khác số 170 (diện tích 132,5m²) thuộc tờ bản đồ Mảnh đo đạc chỉnh lý bản đồ địa chính thu hồi đất số 144 (1)-2022.

* Về quan điểm của UBND thành phố Y:

Ngày 29/4/2022, UBND thành phố Y ban hành Quyết định số 1208/QĐ-UBND về việc phê duyệt kế hoạch thu hồi đất, điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm phục vụ công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng Dự án: Xây dựng khu dân cư nông thôn mới (phát triển quỹ đất dọc hai bên đường Quốc lộ 32C nối đường Â, đoạn từ cầu N giao ngã tư đường Q, QL32C nối đường C - Lào Cai), xã G, thành phố Y.

Ngày 17/5/2022, Hội đồng BT, HT&TĐC phối hợp với Trung tâm phát triển quỹ đất tỉnh Yên Bái, UBND xã G và Ủy ban Mặt trận Tổ quốc xã G đã triển khai họp phổ biến kế hoạch thu hồi đất, điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm thực hiện Dự án. Tại cuộc họp ông Tô Xuân H1 là người được ông Tô Văn H ủy quyền có mặt tham dự (theo giấy ủy quyền ngày 16/5/2022).

Tại khoản 4 Điều 1 Quyết định số 1208/QĐ-UBND ngày 29/4/2022 của UBND thành phố Y đã ghi rõ: “Yêu cầu các hộ gia đình, cá nhân, tổ chức đang sử dụng đất trong vùng dự án: Giữ nguyên hiện trạng đất đai, dừng việc trồng cây lâu năm, xây dựng, cải tạo, sửa chữa các công trình; dừng việc chia tách thửa đất để thực hiện việc chuyển nhượng, tặng cho quyền sử dụng đất kể từ ngày họp phổ biến Kế hoạch thu hồi đất, điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm; có trách nhiệm phối hợp với chủ đầu tư, Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư hoặc tổ chức dịch vụ công về đất đai làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng, chính quyền địa phương và các đơn vị đo đạc để thực hiện việc đo đạc, xác định các thông tin địa chính của thửa đất thu hồi”. Tuy nhiên, ông Tô Văn H và bà Nguyễn Thị L không chấp hành Kế hoạch thu hồi đất của cơ quan Nhà nước, vẫn đến phòng C tỉnh Yên Bái làm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số công chứng 1327, quyền số 02/2022TP/CC-SCC/HĐGD ngày 07/6/2022 chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Lê N, với diện tích chuyển nhượng là 92,9m² đất ở nông thôn (diện tích chuyển nhượng 92,9m² được tách từ một phần diện tích trong Giấy CNQSD đất số CH 01247 ngày 10/4/2017 do UBND thành phố Y cấp cho ông Tô Văn H và bà Nguyễn Thị L), theo phiếu xác nhận kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất được Công ty TNHH Đ cấp ngày 10/12/2021.

Việc phòng C tỉnh Yên Bái căn cứ phiếu xác nhận kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất được Công ty TNHH Đ thực hiện là trái quy định tại khoản 1 Điều 79 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định:

“Điều 79. Trình tự, thủ tục chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất; chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất của vợ hoặc chồng thành của chung vợ và chồng

1. Người sử dụng đất nộp 01 bộ hồ sơ thực hiện quyền của người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất. Trường hợp thực hiện quyền của người sử dụng đất đối với một phần thửa đất thì người sử dụng đất đề nghị Văn phòng đăng ký đất đai thực hiện đo đạc tách thửa đối với phần diện tích cần thực hiện quyền của người sử dụng đất trước khi nộp hồ sơ thực hiện quyền của người sử dụng đất”.

Như vậy, việc chia tách thửa đất trước khi thực hiện quyền của người sử dụng đất phải do Văn phòng đăng ký đất đai thực hiện để cơ quan Nhà nước kiểm soát việc chia tách thửa đất đảm bảo thống nhất về diện tích, kích thước cạnh thửa khi thực hiện thủ tục hành chính về đất đai và tránh việc trục lợi của nhân dân khi Nhà nước thực hiện các chính sách pháp luật đất đai.

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 10 Quyết định số 15/2021/QĐ-UBND ngày 20/8/2021 của UBND tỉnh Y ban hành Quy định chi tiết thi hành một số điều, khoản của Luật Đất đai ngày 29/11/2013, Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014, Nghị định số 01/2017NĐ-CP ngày 06/01/2017 và Nghị định số 148/2020/NĐ-CP ngày 18/12/2020 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai quy định:

“Điều 10. Điều kiện tách thửa đất, hợp thửa đất theo từng loại đất

1. Các điều kiện chung để tách thửa, hợp thửa đất

b) Diện tích thửa đất tách thửa, hợp thửa chưa có kế hoạch thu hồi đất, điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm hoặc thông báo thu hồi đất hoặc quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền”.

Căn cứ khoản 2 Điều 75 Nghị định 43/2014/NĐ-CP quy định về trình tự, thủ tục tách thửa như sau:

“Điều 75. Trình tự, thủ tục thực hiện tách thửa hoặc hợp thửa đất

2. Văn phòng đăng ký đất đai có trách nhiệm thực hiện các công việc sau:

a) Đo đạc địa chính để chia tách thửa đất;

b) Lập hồ sơ trình cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho người sử dụng đất đối với thửa đất mới tách, hợp thửa”.

Từ những căn cứ nêu trên cho thấy, ông Tô Văn H và bà Nguyễn Thị L tuy không có mặt tại phiên họp phổ biến kế hoạch thu hồi đất ngày 17/5/2022, nhưng tại buổi họp có mặt con trai ông H, bà L là ông Tô Xuân H1 - Đại diện gia đình tham dự theo giấy ủy quyền ngày 16/5/2022 có chứng thực của UBND xã G, ông H1 đã được nghe phổ biến về dự án thu hồi đất, đã nắm bắt được các quyền và nghĩa vụ của chủ sử dụng có đất thuộc diện bị thu hồi và buộc phải có trách nhiệm thông báo lại cho bố mẹ đẻ của mình là ông H, bà L biết. Do đó, Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số công chứng 1327, quyền số 02/2022TP/CC-SCC/HĐGD lập tại phòng C tỉnh Yên Bái ngày 07/6/2022 giữa bên chuyển nhượng là ông Tô Văn H và bà Nguyễn Thị L với bên nhận chuyển nhượng là ông Lê N là trái quy định pháp luật, vì thực hiện tách thửa đất chưa đăng ký qua Văn phòng Đăng ký đất đai; đồng thời, thửa đất tách thửa khi UBND thành phố Y đã ban hành Quyết định số 1208/QĐ-UBND ngày 29/4/2022 về việc phê duyệt kế hoạch thu hồi đất, điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm phục vụ công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng Dự án và ngày 17/5/2022, Hội đồng BT, HT&TĐC phối hợp với Trung tâm phát triển quỹ đất tỉnh Yên Bái, UBND xã G và Ủy ban Mặt trận Tổ quốc xã G đã triển khai họp phổ biến kế hoạch thu hồi đất, điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm thực hiện Dự án.

Do vậy, việc Chủ tịch UBND thành phố Y ban hành Thông báo 1076 về việc không thụ lý giải quyết khiếu nại và UBND thành phố Y ban hành Thông báo thu hồi đất số 1047, Thông báo số 660, Quyết định thu hồi đất số 4739 và tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho ông Tô Văn H và bà Nguyễn Thị L khi thu hồi đất tại thửa đất số 363 (với 92,9m² đất ở nông thôn) và thửa số 365 (với 253,5m² đất trồng cây lâu năm) là đảm bảo về trình tự, thủ tục và đúng quy định pháp luật. Yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện là không có căn cứ. Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

Tại bản tự khai và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Tô Văn H và bà Nguyễn Thị L thể hiện:

Ngày 15/11/2019, ông Tô Văn H và ông Lê Nam 1 Giấy mua bán - đặt cọc quyền sử dụng đất (giấy viết tay, có chữ ký người làm chứng), theo đó ông Tô Văn H chuyển nhượng cho ông Lê N diện tích 100m² đất ở nông thôn trong tổng số 200m² đất ở theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH 01247 ngày 10/4/2017, do UBND thành phố Y cấp cho ông Tô Văn H và bà Nguyễn Thị L. đối với thửa đất số 277, tờ bản đồ số 22 và diện tích 279,5m² đất trồng cây lâu năm trong tổng số 389,5m² đất trồng cây lâu năm theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH 01246 ngày 10/4/2017, do UBND thành phố Y cấp cho ông Tô Văn H và bà Nguyễn Thị L đối với thửa đất số 273, tờ bản đồ số 22, cùng tại địa chỉ thôn F, xã G, thành phố Y, tỉnh Yên Bái. Khi chuyển nhượng, trên đất ở có nhà xây cũ tường 110 bổ trụ, lợp mái tôn.

Ngày 01/12/2019, ông Lê N đã liên hệ với Phòng C tỉnh Yên Bái để làm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nhưng vì đất của ông H có một phần diện tích 7,1m² đất ở và 26,4m² đất cây lâu năm đang bị thu hồi để thực hiện dự án đầu tư xây dựng công trình đường nối Quốc lộ C với đường C - Lào Cai, nên ông N và ông H chưa thực hiện được hợp đồng mua bán chuyển nhượng tại văn phòng công chứng.

Ngày 20/01/2020, ông Tô Văn H và ông Lê Nam 1 Hợp đồng mua bán đất (giấy viết tay, có người làm chứng), nội dung ông H chuyển nhượng cho ông Lê N diện tích 100m² đất ở và 279,5m² đất trồng cây lâu năm với tổng số tiền 700.000.000 đồng, ông N đã trả cho ông H số tiền 600.000.000 đồng và nhận 02 Giấy CNQSDĐ số CH01247 và số CH01246 của ông H, bà L để thực hiện thủ tục chuyển nhượng, tách thửa.

Để hoàn tất thủ tục mua bán chuyển nhượng quyền sử dụng đất, ông H và ông N đã nhiều lần liên hệ Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Y để thực hiện thủ tục chia tách thửa đất nhưng chưa thực hiện được. Ngày 07/6/2022, ông N và vợ chồng ông Tô Văn H đã ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số công chứng 1327, quyền số 02/2022TP/CC-SCC/HĐGD, nội dung ông N nhận chuyển nhượng của ông H diện tích 92,9m² đất ở nông thôn trong tổng số 200m² đất ở theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH 01247 ngày 10/4/2017, do UBND thành phố Y cấp cho ông Tô Văn H và bà Nguyễn Thị L đối với thửa đất số 277, tờ bản đồ số 22. Hợp đồng chuyển nhượng số 1327 chỉ là sự xác nhận lại việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông N và vợ chồng ông H trước đó, chứ không nhằm mục đích chia tách thửa đất.

Thực hiện dự án xây dựng khu dân cư nông thôn mới, vợ chồng ông H đã phối hợp và cho Hội đồng BT, HT&TĐC thành phố Yên Bái khảo sát đo đạc và kiểm đếm trên phần diện tích đất mà gia đình ông H đang sử dụng, trừ phần đất tại thừa số 363 (diện tích 92,9m² đất ở nông thôn) và thửa số 365 (diện tích 253,5m² đất trồng cây lâu năm) đã chuyển nhượng cho ông Lê N.

Ngày 01/7/2022, UBND thành phố Y ban hành Thông báo thu hồi đất số 1047/TB-UBND thu hồi các thửa đất của ông Tô Văn H gồm: Thửa đất phi nông nghiệp số 364 (diện tích 100m²), thửa đất nông nghiệp số 365 (diện tích 253,5m²), thửa đất nông nghiệp số 366 (diện tích 109,6m²) thuộc tờ Bản đồ Mảnh đo đạc chỉnh lý bản đồ địa chính thu hồi đất số 60 (1)-2022 tại thôn N. Ngày 26/4/2023, UBND thành phố Y ban hành Thông báo số 660/TB-UBND điều chỉnh, bổ sung Thông báo thu hồi đất số 1047/TB-UBND, theo đó thu hồi bổ sung thửa đất ở số 363 (diện tích 92,9m²). Việc UBND thành phố Y ban hành thông báo thu hồi đất và xác định ông Tô Văn H là đối tượng được bồi thường khi thu hồi thửa đất cây lâu năm số 365 (diện tích 253,5m²) và thửa đất ở số 363 (diện tích 92,9m²) là không đúng, do hai thửa đất trên ông Tô Văn H đã chuyển nhượng cho ông Lê N.

Ông Tô Văn H, bà Nguyễn Thị L xác định đã chuyển nhượng, bàn giao nhà, đất và nhận đủ tiền chuyển nhượng từ ông Lê N, xác định không còn quyền lợi gì đối với thửa đất số 363 (diện tích 92,9m² đất ở nông thôn) và thửa đất số 365 (diện tích 253,5m² đất trồng cây lâu năm). Vì vậy, đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Yên Bái chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê N.

Tại biên bản lấy lời khai và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lai Trung K thể hiện:

Ngày 07/6/2022, ông Lê N và vợ chồng ông Tô Văn H, bà Nguyễn Thị L đã ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, do ông K là công chứng viên thuộc Phòng C1, tỉnh Yên Bái trực tiếp công chứng, số công chứng 1327, quyền số 02/2022TP/CC-SCC/HĐGD, nội dung ông N nhận chuyển nhượng của ông H diện tích 92,9m² đất ở nông thôn trong tổng số 200m² đất ở theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH 01247 ngày 10/4/2017, do UBND thành phố Y cấp cho ông Tô Văn H và bà Nguyễn Thị L. Thời điểm đó, Phòng C1 không nhận được Quyết định số 1208/QĐ-UBND ngày 29/4/2022 về việc phê duyệt kế hoạch thu hồi đất, điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm phục vụ công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng Dự án của UBND thành phố Y nên không biết phần diện tích đất chuyển nhượng của ông H nằm trong phần diện tích đất mà UBND thành phố Y có kế hoạch thu hồi; đồng thời ông K nhận thấy quyền sử dụng đất nêu trên không bị hạn chế giao dịch, đã cho hai bên ký kết hợp đồng tại Phòng Công chứng và căn cứ theo phiếu xác nhận kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất được Công ty TNHH Đ cấp ngày 10/12/2021, để xác định diện tích chuyển nhượng là 92,9m² đất ở nông thôn, được tách từ diện tích 200m² đất ở theo Giấy CNQSD đất số CH 01247 ngày 10/4/2017 do UBND thành phố Y cấp cho ông Tô Văn H, bà Nguyễn Thị L.

Việc Phòng C1 căn cứ phiếu xác nhận kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất được Công ty TNHH Đ thực hiện là trái quy định: Tại khoản 1 Điều 79, khoản 2, khoản 3 Điều 75 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ, bởi: Việc chia tách thửa đất trước khi thực hiện quyền của người sử dụng đất phải do Văn phòng đăng ký đất đai thực hiện. Do đó, ý kiến của UBND thành phố Y là đúng. Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 06/2023/HC-ST ngày 15 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Yên Bái quyết định:

  • - Căn cứ các Điều 3, 6, 30, 32, 115, 116, 158, điểm b khoản 2 Điều 193, Điều 194, Điều 204, 206 và Điều 348 của Luật Tố tụng hành chính;
  • - Căn cứ các Điều 502, 503 của Bộ luật Dân sự 2015; các Điều 62, 63, 66, 67, 68, 69, 167, 188 của Luật Đất đai 2013; Điều 75, 79 Nghị định 43/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết, hướng dẫn một số điều của Luật Đất đai; Điều 2 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số Nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai;
  • - Căn cứ khoản 1 Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Lê N đối với các yêu cầu:

  • + Hủy Thông báo thu hồi đất số 1047/TB-UBND ngày 01/7/2022 của UBND thành phố Y về việc thu hồi đất của hộ ông Tô Văn H.
  • + Hủy Thông báo số 660/TB-UBND ngày 26/4/2023 về điều chỉnh, bổ sung Thông Báo thu hồi đất số 1047/TB-UBND ngày 01/7/2022 của UBND thành phố Y.
  • + Hủy Quyết định số 4739/QĐ-UBND ngày 24/10/2023 của UBND thành phố Y về việc thu hồi đất của ông Tô Văn H và bà Nguyễn Thị L.
  • + Hủy Thông báo số 1076/TB-UBND ngày 06/7/2023 của Chủ tịch UBND thành phố Y về việc không thụ lý giải quyết khiếu nại của ông Lê N.
  • + Buộc UBND thành phố Y bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho ông Lê N khi thu hồi đất tại thửa đất số 363 (với diện tích 92,9m² đất ở nông thôn) và thửa đất số 365 (với diện tích 253,5m² đất trồng cây lâu năm) mà ông Lê N đã nhận chuyển nhượng tại thôn N, xã G, thành phố Y, tỉnh Yên Bái.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 02/01/2024 ông Lê N kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Người khởi kiện giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo. Đại diện người khởi kiện trình bày quan điểm: bản án sơ thẩm giải quyết đã nhận định không đúng, không phù hợp thực tế khách quan vì việc chuyển nhượng đất của ông N với vợ chồng ông H là có giá trị pháp lý chứ không trái pháp luật như bản án sơ thẩm nêu. Hợp đồng chuyển nhượng đáp ứng các điều kiện chuyển nhượng, ông N đủ điều kiện để được nhận quyền sử dụng đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Quá trình nhận chuyển nhượng ông N có gặp nhiều khó khăn trong việc làm thủ tục chuyển nhượng, tách thửa, sang tên chủ sử dụng đất nhưng không làm đơn khiếu nại, tố cáo gì vì quá trình làm thủ tục chuyển nhượng chỉ gặp gỡ trao đổi với cán bộ chuyên môn, được nghe giải thích bằng lời nói mà không có văn bản trả lời, hướng dẫn cụ thể. Thực tế ông N đã mua đất, trả tiền và sinh sống tại thửa đất nhận chuyển nhượng. Giai đoạn đầu của dự án mở rộng đường thì ông N có được lập danh sách đứng tên gia đình bị thu hồi đất nhưng không hiểu vì sao sau đó lại lập danh sách tên chủ sử dụng đất bị thu hồi là gia đình ông H. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của người khởi kiện, hủy các quyết định hành chính của người bị kiện.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội phát biểu quan điểm: Về tố tụng quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến phiên tòa, Thẩm phán - Chủ tọa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của Luật Tố tụng hành chính; những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình. Về quan điểm giải quyết vụ án, sau khi phân tích nội dung vụ án, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, nội dung kháng cáo nhận thấy bản án sơ thẩm bác đơn khởi kiện của ông Lê N là có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 241 Luật Tố tụng hành chính không chấp nhận kháng cáo của ông Lê N, giữ nguyên bản án hành chính sơ thẩm số 06/2023/HC-ST ngày 15 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Yên Bái. Về án phí phúc thẩm cho ông Lê N phải chịu 300.000 đồng do kháng cáo không được chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, HĐXX nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của ông Lê N được làm và nộp trong thời hạn quy định, đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật tại Điều 205, Điều 206, Điều 209 - Luật Tố tụng hành chính nên kháng cáo là hợp pháp, đủ điều kiện để xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[1.2] Về việc xét xử vắng mặt đương sự:

Tòa án đã thực hiện việc triệu tập hợp lệ đối với các đương sự, tại phiên tòa, người bị kiện, người có quyền lợi liên quan vắng mặt, nhưng đã có văn bản xin vắng mặt. Do đó, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt những người này theo quy định tại khoản 4, Điều 225 Luật Tố tụng hành chính 2015.

[2] Xét kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm của ông Lê N, Hội đồng xét xử thấy:

[2.1] Về người tham gia tố tụng: Tại đơn khởi kiện ngày 12/9/2023 và đơn khởi kiện bổ sung ngày 26/10/2023, ông Lê N đề nghị giải quyết hủy: Thông báo số 1047 ngày 01/7/2022 của UBND thành phố Y là thông báo thu hồi đất của ông Tô Văn H; Thông báo số 660 ngày 26/4/2023 của UBND thành phố Y là thông báo điều chỉnh bổ sung Thông báo 1047 theo đó thu hồi các thửa đất của ông Tô Văn H (bao gồm cả 02 thửa đất ông Lê Nam N chuyển nhượng của ông H, trong đó có thửa đất 363, diện tích 92,9m² ông N nhận chuyển nhượng của ông H theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số công chứng 1327, quyền số 02/2022TP/CC-SCC/HĐGD ngày 07/6/2022); Quyết định số 4739 ngày 24/10/2023 của UBND thành phố Y là quyết định thu hồi đất của ông H (trong đó có thửa đất 365, diện tích 253,5m² mà ông N nhận chuyển nhượng từ ông H); Thông báo số 1076 ngày 06/7/2023 của Chủ tịch UBND thành phố Y là thông báo không thụ lý giải quyết đối với yêu cầu khiếu nại Thông báo số 660 của ông Lê N.

Do đó, Tòa án nhân dân tỉnh Yên Bái xác định UBND thành phố Y, Chủ tịch UBND thành phố Y là người bị kiện; ông Tô Văn H, bà Nguyễn Thị L và ông Lai Trung K - Công chứng viên, Phòng C1, tỉnh Yên Bái là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án là có căn cứ.

[2.2] Về đối tượng khởi kiện và thẩm quyền giải quyết: Thông báo số 1047 ngày 01/7/2022 của UBND thành phố Y là thông báo thu hồi đất của ông Tô Văn H; Thông báo số 660 ngày 26/4/2023 của UBND thành phố Y là thông báo điều chỉnh bổ sung Thông báo 1047 theo đó thu hồi các thửa đất của ông Tô Văn H (bao gồm cả 02 thửa đất ông Lê Nam N chuyển nhượng của ông H); Quyết định số 4739 ngày 24/10/2023 của UBND thành phố Y là quyết định thu hồi đất của ông H (trong đó có thửa đất 365, diện tích 253,5m² mà ông N nhận chuyển nhượng từ ông H); Thông báo số 1076 ngày 06/7/2023 của Chủ tịch UBND thành phố Y là thông báo không thụ lý giải quyết đối với yêu cầu khiếu nại Thông báo số 660 của ông Lê N. Đây là các văn bản có chứa đựng nội dung quyết định hành chính liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông Lê N, nên theo khoản 6, khoản 14 Điều 22 Luật Đất đai; khoản 1, khoản 2 Điều 30; Điều 32 của Luật Tố tụng hành chính thì các thông báo, quyết định trên là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Yên Bái là có căn cứ.

[2.3] Về thời hiệu khởi kiện:

Ngày 26/4/2023, UBND thành phố Y ban hành Thông báo số 660 điều chỉnh, bổ sung Thông báo thu hồi đất số 1047/TB-UBND, theo đó thu hồi các thửa đất của ông Tô Văn H (bao gồm cả 02 thửa đất ông Lê Nam n chuyển nhượng của ông Tô Văn H).

Ngày 19/6/2023, ông N đã làm đơn khiếu nại Thông báo số 660 với lý do: Việc UBND thành phố Y ban hành thông báo thu hồi đất và xác định ông Tô Văn H là đối tượng được bồi thường khi thu hồi thửa đất cây lâu năm số 365 (diện tích 253,5m²) và thửa đất ở số 363 (diện tích 92,9m²) là không đúng, do hai thửa đất trên ông N đã nhận chuyển nhượng từ ông H.

Ngày 06/7/2023, Chủ tịch UBND thành phố Y ban hành Thông báo số 1076 về việc không thụ lý giải quyết khiếu nại của ông Lê N.

Ngày 12/9/2023, ông Lê N khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án nhân dân tỉnh Yên Bái. Căn cứ Điều 115, 116 của Luật Tố tụng hành chính thì việc ông N khởi kiện trong thời hiệu khởi kiện vụ án hành chính, Tòa án cấp sơ thẩm xác định trong thời hiệu khởi kiện là có căn cứ.

Sau khi thụ lý vụ án, ông N bổ sung yêu cầu khởi kiện yêu cầu hủy Thông báo số 1047 ngày 01/7/2022 và Quyết định số 4739 ngày 24/10/2023. Xét việc bổ sung yêu cầu khởi kiện của ông N là phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 55 Luật Tố tụng hành chính nên được Tòa án chấp nhận. Tính đến thời điểm khởi kiện thì Thông báo số 1047 đã hết thời hiệu khởi kiện theo quy định tại điểm a, khoản 2, Điều 116 của Luật Tố tụng hành chính. Tuy nhiên, xét thấy Thông báo số 1047 có liên quan đến các quyết định hành chính bị khởi kiện nên căn cứ vào khoản 1, Điều 6 của Luật Tố tụng hành chính, Tòa án cấp sơ thẩm vẫn xem xét tính hợp pháp và có căn cứ của Thông báo số 1047 là có căn cứ pháp luật.

[2.4] Tính hợp pháp và có căn cứ về thẩm quyền, trình tự, thủ tục ban hành của các Quyết định bị kiện:

[2.4.1] Đối với Thông báo số 1047, Thông báo số 660, Quyết định số 4739:

- Về thể thức ban hành văn bản: Thông báo số 1047, Thông báo số 660, Quyết định số 4739 là phù hợp với thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản hành chính.

- Về thẩm quyền ban hành: Dự án Xây dựng khu dân cư nông thôn mới (phát triển quỹ đất dọc hai bên đường Quốc lộ 32C nối đường Â, đoạn từ cầu N giao ngã tư đường Q, QL32C nối đường C - Lào Cai), xã G, thành phố Y là dự án phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng theo quy định tại điểm d khoản 3 Điều 62 của Luật Đất đai năm 2013 nên thuộc trường hợp Nhà nước thu hồi đất giao chủ đầu tư thực hiện dự án. Thẩm quyền thu hồi đất đối với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư thuộc UBND cấp huyện. Do đó, UBND thành phố Y ban hành Thông báo thu hồi đất số 1047, Thông báo số 660 và Quyết định số 4739 về việc thu hồi các thửa đất của ông Tô Văn H để thực hiện Dự án là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 66 của Luật Đất đai của năm 2013.

- Về trình tự thủ tục, thời hiệu, thời hạn ban hành Thông báo số 1047, Thông báo số 660, Quyết định số 4739:

Khoản 1 Điều 67 Luật Đất đai năm 2013 quy định: “Trước khi có quyết định thu hồi đất, chậm nhất là 90 ngày đối với đất nông nghiệp...cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải thông báo thu hồi đất cho người có đất thu hồi biết. Nội dung thông báo thu hồi đất bao gồm kế hoạch thu hồi đất, điều tra, khảo sát, kiểm đếm”.

Điểm a khoản 1 Điều 69 Luật Đất đai quy định: “Xây dựng và thực hiện kế hoạch thu hồi đất, điều tra, khảo sát, kiểm đếm được quy định như sau:

a) Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền thu hồi đất ban hành thông báo thu hồi đất.

Thông báo thu hồi đất được gửi đến từng người có đất thu hồi, họp phổ biến đến người dân trong khu vực có đất thu hồi và thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng, niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã, địa điểm sinh hoạt chung của khu dân cư nơi có đất thu hồi”.

Dự án: Xây dựng khu dân cư nông thôn mới (phát triển quỹ đất dọc hai bên đường Quốc lộ 32C nối đường Â, đoạn từ cầu N giao ngã tư đường Q, QL32C nối đường C - Lào Cai), xã G, thành phố Y được Hội đồng nhân dân tỉnh Y thông qua tại Nghị quyết số 03/NQ-HĐND ngày 30/3/2022 và được UBND tỉnh Y phê duyệt tại Quyết định số 603/QĐ-UBND ngày 15/4/2022 về việc cập nhật các dự án, công trình và danh sách các hộ gia đình, các nhân đăng ký chuyển mục đích sử dụng đất vào kế hoạch sử dụng đất năm 2022 cấp huyện.

Ngày 29/4/2022 UBND thành phố Y đã ban hành Quyết định 1208/QĐ-UBND về việc phê duyệt kế hoạch thu hồi đất, điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm phụ vụ công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng. Sau đó, tiếp tục ban hành Thông báo thu hồi đất số 1047, Thông báo số 660 điều chỉnh, bổ sung Thông báo thu hồi đất 1047, Quyết định thu hồi đất số 4739 đối với hộ ông Tô Văn H. Quá trình thực hiện, Hội đồng BT, HT&TĐC thành phố Yên Bái phối hợp với Trung tâm phát triển quỹ đất tỉnh Yên Bái, UBND xã G và Ủy ban Mặt trận Tổ quốc xã G tiến hành họp phổ biến kế hoạch thu hồi đất, điều tra, khảo sát, đo đạc kiểm đếm thực hiện Dự án; lập phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; thành lập tổ chuyên trách kiểm đếm bắt buộc tại thực địa và cử cán bộ trực tiếp theo dõi quá trình giải trình giải phóng mặt bằng; Trung tâm Phát triển quỹ đất tỉnh Yên Bái đã phối hợp với UBND xã G tổ chức lấy ý kiến người dân về phương án bồi thường theo hình thức họp trực tiếp, thông báo niêm yết công khai phương án thu hồi đất, phương án bồi thường, hỗ trợ tái định cư đối với hộ ông H; các cơ quan chuyên môn cũng đã có các báo thẩm định, có các tờ trình để UBND thành phố Y phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư và ban hành Quyết định thu hồi đất số 4739. Vì vậy, việc UBND thành phố Y ban hành các Thông báo số 1047, Thông báo số 660, Quyết định số 4739 là đúng trình tự, thủ tục, đảm bảo thời hạn, thời hiệu được quy định tại các Điều 67, 68, 69 của Luật Đất đai 2013 và Điều 17 Nghị định 43/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ.

[2.4.2] Đối với Thông báo số 1076:

- Về thể thức ban hành văn bản: Do không nhất trí với Thông báo số 660 ngày 26/4/2023 của UBND thành phố Y, ngày 19/6/2023 ông N đã có đơn khiếu nại gửi Chủ tịch UBND thành phố Y. Ngày 06/7/2023, Chủ tịch UBND thành phố Y ban hành Thông báo số 1076 về việc không thụ lý giải quyết khiếu nại theo đúng mẫu số 02-KN ban hành kèm theo Thông tư số 07/2013/TT-TTCP ngày 31/10/2013 của Thanh tra Chính phủ quy định quy trình giải quyết khiếu nại hành chính.

- Về thẩm quyền: Chủ tịch thành phố Y ban hành Thông báo số 1076 về việc không thụ lý giải quyết khiếu là đúng thẩm quyền được quy định tại khoản 1 Điều 18, Điều 27 của Luật Khiếu nại năm 2011.

- Về trình tự thủ tục ban hành thông báo: Sau khi nhận được đơn khiếu nại của ông Lê N, Chủ tịch UBND thành phố Y đã giao nhiệm vụ cho cơ quan chuyên môn xem xét nội dung đơn khiếu nại, căn cứ vào quy định pháp luật ban hành Thông báo số 1076 theo Luật Khiếu nại năm 2011. Tuy nhiên Hội đồng xét xử thấy đơn khiếu nại của ông Lê N không thuộc một trong các trường hợp khiếu nại không được thụ lý giải quyết theo quy định tại Điều 11, Luật Khiếu nại năm 2011. Lẽ ra, Chủ tịch UBND thành phố Y phải thụ lý giải quyết khiếu nại và ban hành Quyết định giải quyết khiếu nại nhưng lại ban hành Thông báo về việc không thụ lý giải quyết là không đúng trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại tố cáo theo quy định tại các Điều 27,28,29,30,31-Luật Khiếu nại năm 2011.

Tuy nhiên trong Thông báo số 1076 bị khởi kiện có chứa đựng nội dung giải quyết khiếu nại của ông Lê N với nội dung kết luận việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông H và ông N chưa đúng quy định. Như vậy mặc dù Thông báo số 1076 ngày 06/7/2023 của Chủ tịch UBND thành phố Y không đúng hình thức, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật nhưng nội dung giải quyết là có căn cứ, phù hợp với các chứng cứ của vụ án. Do đó Hội đồng xét xử thấy không cần thiết phải hủy Thông báo số 1076 bị kiện nêu trên nhưng cần kiến nghị Chủ tịch UBND thành phố Y rút kinh nghiệm trong công tác giải quyết khiếu nại.

[2.5] Tính hợp pháp và có căn cứ về nội dung của các quyết định bị kiện.

[2.5.1] Về nguồn gốc các thửa đất có liên quan đến khiếu kiện:

Thửa đất thu hồi số 363, tờ bản đồ thu hồi số 11-2023, diện tích 92,9m² đất ở nông thôn được xác định là thửa 277, tờ bản đồ số 22, diện tích 200,0m² (diện tích sau khi chỉnh lý là 192,9m²) đất ở nông thôn trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH01247 ngày 10/4/2017 do UBND thành phố Y cấp cho ông Tô Văn H và bà Nguyễn Thị L.

Thửa đất thu hồi số 365, tờ bản đồ thu hồi số 60(1)-2022, diện tích 253,5m² đất trồng cây lâu năm được xác định là thừa 273, tờ bản đồ số 22, diện tích 389,5m² (diện tích sau khi chỉnh lý là 363,1m²) đất trồng cây lâu năm trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH01246 ngày 10/4/2017 do UBND thành phố Y cấp cho ông Tô Văn H và bà Nguyễn Thị L.

Ông N cho rằng, nguồn gốc thửa đất ở số 363, diện tích 92,9m² và thửa đất trồng cây lâu năm số 365, diện tích 253,5m² nói trên đã nhận chuyển nhượng của ông H và bà L theo Giấy biên nhận mua bán - đặt cọc quyền sử dụng đất ngày 15/11/2019; Hợp đồng mua bán đất ngày 20/01/2020; Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số công chứng 1327, quyền số 02/2022TP/CC-SCC/HĐGD ngày 07/6/2022. Do đó, việc UBND thành phố Y ban hành thông báo thu hồi đất và xác định ông Tô Văn H là đối tượng được bồi thường khi thu hồi thửa đất số 363 (diện tích 92,9m² đất ở nông thôn) và thửa đất số 365 (diện tích 253,5m² đất trồng cây lâu năm) là không đúng, do hai thửa đất trên ông N đã nhận chuyển nhượng từ ông H.

[2.5.2] Hội đồng xét xử thấy:

Tại điểm a khoản 3 Điều 167 của Luật Đất đai năm 2013 quy định: “a) Hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực, trừ trường hợp kinh doanh bất động sản quy định tại điểm b khoản này". Theo đó, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực. Xét thấy, Giấy biên nhận mua bán - đặt cọc quyền sử dụng đất ngày 15/11/2019 giữa bên đặt cọc là ông Lê N, bên nhận đặt cọc là ông Tô Văn H và Hợp đồng mua bán đất ngày 20/01/2020 giữa bên mua là ông Lê N, bên bán là ông Tô Văn H đều là bản giấy viết tay, có chữ ký của người làm chứng nhưng không được công chứng tại các tổ chức hành nghề công chứng hoặc được chứng thực tại UBND cấp xã theo quy định điểm d khoản 3 Điều 167 của Luật Đất đai.

Mặt khác, tại khoản 3 Điều 188 của Luật Đất đai 2013 quy định: “3. Việc chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất phải đăng ký tại cơ quan đăng ký đất đai và có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký vào sổ địa chính”.

Căn cứ khoản 2 Điều 502, Điều 503 của Bộ luật Dân sự 2015 quy định:

Điều 502. Hình thức, thủ tục thực hiện hợp đồng về quyền sử dụng đất.

2. Việc thực hiện hợp đồng về quyền sử dụng đất phải đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật về đất đai và quy định khác của pháp luật có liên quan.

Điều 503. Hiệu lực của việc chuyển quyền sử dụng đất

Việc chuyển quyền sử dụng đất có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký theo quy định của Luật Đất đai”.

Do đó, việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải đăng ký tại cơ quan đăng ký đất đai và có hiệu lực từ thời điểm đăng ký vào sổ địa chính. Ông N và ông H đều trình bày sau khi lập hợp đồng chuyển nhượng (giấy viết tay) đã nhiều lần liên hệ Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Y để thực hiện thủ tục chia tách thửa đất nhưng không có tài liệu, chứng cứ nào chứng minh và trên thực tế việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất này cũng chưa được đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền.

Ngày 29/4/2022, UBND thành phố Y ban hành Quyết định số 1208/QĐ-UBND về việc phê duyệt kế hoạch thu hồi đất, điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm phục vụ công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng Dự án: Xây dựng khu dân cư nông thôn mới (phát triển quỹ đất dọc hai bên đường Quốc lộ 32C nối đường Â, đoạn từ cầu N giao ngã tư đường Q, QL32C nối đường C - Lào Cai), xã G, thành phố Y.

Ngày 17/5/2022, Hội đồng BT, HT&TĐC phối hợp với Trung tâm phát triển quỹ đất tỉnh Yên Bái, UBND xã G và Ủy ban Mặt trận Tổ quốc xã G đã triển khai họp phổ biến kế hoạch thu hồi đất, điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm thực hiện Dự án. Tại cuộc họp ông Tô Xuân H1 là người được ông Tô Văn H ủy quyền có mặt tham dự (theo giấy ủy quyền ngày 16/5/2022).

Tại khoản 4 Điều 1 Quyết định số 1208/QĐ-UBND ngày 29/4/2022 của UBND thành phố Y đã ghi rõ: “Yêu cầu các hộ gia đình, cá nhân, tổ chức đang sử dụng đất trong vùng dự án: Giữ nguyên hiện trạng đất đai, dừng việc trồng cây lâu năm, xây dựng, cải tạo, sửa chữa các công trình; dừng việc chia tách thửa đất để thực hiện việc chuyển nhượng, tặng cho quyền sử dụng đất kể từ ngày họp phổ biến Kế hoạch thu hồi đất, điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm; có trách nhiệm phối hợp với chủ đầu tư, Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư hoặc tổ chức dịch vụ công về đất đai làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng, chính quyền địa phương và các đơn vị đo đạc để thực hiện việc đo đạc, xác định các thông tin địa chính của thửa đất thu hồi”. Tuy nhiên, ông H và bà L không chấp hành Kế hoạch thu hồi đất của cơ quan Nhà nước, vẫn đến phòng C1 tỉnh Yên Bái làm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số công chứng 1327, quyền số 02/2022TP/CC-SCC/HĐGD ngày 07/6/2022 chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Lê N, với diện tích chuyển nhượng là 92,9m² đất ở nông thôn (diện tích chuyển nhượng 92,9m² được tách từ một phần diện tích trong Giấy CNQSD đất số CH 01247 ngày 10/4/2017 do UBND thành phố Y cấp cho ông Tô Văn H và bà Nguyễn Thị L), theo phiếu xác nhận kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất được Công ty TNHH Đ cấp ngày 10/12/2021.

Tại khoản 1 Điều 79 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định:

“Điều 79. Trình tự, thủ tục chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất; chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất của vợ hoặc chồng thành của chung vợ và chồng

1. Người sử dụng đất nộp 01 bộ hồ sơ thực hiện quyền của người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất. Trường hợp thực hiện quyền của người sử dụng đất đối với một phần thửa đất thì người sử dụng đất đề nghị Văn phòng đăng ký đất đai thực hiện đo đạc tách thửa đối với phần diện tích cần thực hiện quyền của người sử dụng đất trước khi nộp hồ sơ thực hiện quyền của người sử dụng đất”.

Tại khoản 2, khoản 3 Điều 75 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ (được điều chỉnh, bổ sung tại khoản 49 Điều 2 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ), quy định về trình tự, thủ tục tách thửa như sau:

“Điều 75. Trình tự, thủ tục thực hiện tách thửa hoặc hợp thửa đất

2. Văn phòng đăng ký đất đai có trách nhiệm thực hiện các công việc sau:

a) Đo đạc địa chính để chia tách thửa đất;

b) Lập hồ sơ trình cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho người sử dụng đất đối với thửa đất mới tách, hợp thửa”.

3. Trường hợp tách thửa do chuyển quyền sử dụng một phần thửa đất hoặc do giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo, đấu giá đất hoặc do chia tách hộ gia đình, nhóm người sử dụng đất; do xử lý hợp đồng thế chấp, góp vốn, kê biên bán đấu giá quyền sử dụng đất để thi hành án (sau đây gọi là chuyển quyền) thì Văn phòng đăng ký đất đai thực hiện các công việc sau:

a) Đo đạc địa chính để chia tách thửa đất và chuyển Bản trích đo thửa đất mới tách cho người sử dụng đất để thực hiện ký kết hợp đồng, văn bản giao dịch về quyền sử dụng một phần thửa đất mới tách;"

Như vậy, việc chia tách diện tích thửa đất trước khi thực hiện quyền của người sử dụng đất phải do Văn phòng đăng ký đất đai thực hiện để cơ quan Nhà nước kiểm soát việc chia tách thửa đất đảm bảo thống nhất về diện tích, kích thước cạnh thửa khi thực hiện thủ tục hành chính về đất đai và tránh việc trục lợi của nhân dân khi Nhà nước thực hiện các chính sách pháp luật đất đai.

Khi thực hiện công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên, ông Lai Trung K - Công chứng viên, phòng C1 tỉnh Yên Bái căn cứ phiếu xác nhận kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất được Công ty TNHH Đ thực hiện là trái quy định: Tại khoản 1 Điều 79, khoản 2, khoản 3 Điều 75 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ, bởi: Việc chia tách thửa đất trước khi thực hiện quyền của người sử dụng đất phải do Văn phòng đăng ký đất đai thực hiện. Từ đó, dẫn đến xảy ra các tranh chấp về đất đai, các khiếu kiện hành chính của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trong lĩnh vực quản lý đất đai. Việc Tòa án cấp sơ thẩm có văn bản kiến nghị với Sở Tư pháp tỉnh Yên Bái để chấn chỉnh và xử lý hoạt động của công chứng viên theo quy định của pháp luật là có căn cứ.

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 10 Quyết định số 15/2021/QĐ-UBND ngày 20/8/2021 của UBND tỉnh Y ban hành Quy định chi tiết thi hành một số điều, khoản của Luật Đất đai ngày 29/11/2013, Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014, Nghị định số 01/2017NĐ-CP ngày 06/01/2017 và Nghị định số 148/2020/NĐ-CP ngày 18/12/2020 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai quy định:

“Điều 10. Điều kiện tách thửa đất, hợp thửa đất theo từng loại đất

1. Các điều kiện chung để tách thửa, hợp thửa đất

b) Diện tích thửa đất tách thửa, hợp thửa chưa có kế hoạch thu hồi đất, điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm hoặc thông báo thu hồi đất hoặc quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền”.

Từ những căn cứ nêu trên cho thấy, ông Tô Văn H và bà Nguyễn Thị L tuy không có mặt tại phiên họp phổ biến kế hoạch thu hồi đất ngày 17/5/2022, nhưng tại buổi họp có mặt con trai ông H, bà L là ông Tô Xuân H1 - Đại diện gia đình tham dự theo giấy ủy quyền ngày 16/5/2022 có chứng thực của UBND xã G, ông H1 đã được nghe phổ biến về dự án thu hồi đất, đã nắm bắt được các quyền và nghĩa vụ của chủ sử dụng có đất thuộc diện bị thu hồi và buộc phải có trách nhiệm thông báo lại cho bố mẹ đẻ của mình là ông H, bà L biết. Do đó, Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số công chứng 1327, quyền số 02/2022TP/CC-SCC/HĐGD lập tại phòng Công chứng số 01 tỉnh Yên Bái ngày 07/6/2022 giữa bên chuyển nhượng là ông Tô Văn H và bà Nguyễn Thị L với bên nhận chuyển nhượng là ông Lê N là trái quy định pháp luật, vì thực hiện tách thửa đất chưa đăng ký qua Văn phòng Đăng ký đất đai; đồng thời, thửa đất tách thửa khi UBND thành phố Y đã ban hành Quyết định số 1208/QĐ-UBND ngày 29/4/2022 về việc phê duyệt kế hoạch thu hồi đất, điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm phục vụ công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng Dự án và ngày 17/5/2022, Hội đồng BT, HT&TĐC phối hợp với Trung tâm phát triển quỹ đất tỉnh Yên Bái, UBND xã G và Ủy ban Mặt trận Tổ quốc xã G đã triển khai họp phổ biến kế hoạch thu hồi đất, điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm thực hiện Dự án.

Do vậy, UBND thành phố Y ban hành Thông báo thu hồi đất số 1047, Thông báo số 660, Quyết định thu hồi đất số 4739 và tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho ông Tô Văn H và bà Nguyễn Thị L khi thu hồi đất tại thửa đất số 363 (diện tích 92,9m² đất ở nông thôn) và thửa đất số 365 (diện tích 253,5m² đất trồng cây lâu năm) là đảm bảo về trình tự, thủ tục và đúng quy định pháp luật. Việc Chủ tịch UBND thành phố Y ban hành Thông báo 1076 về việc không thụ lý giải quyết khiếu nại mặc dù chưa đảm bảo trình tự thủ tục nhưng như đã phân tích tại mục [2.4.2] thì vẫn đảm bảo căn cứ giải quyết vụ án và không cần thiết phải hủy Thông báo này.

[3] Từ những nhận định nêu trên, HĐXX xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm nhận định và quyết định không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Lê N là có căn cứ pháp luật.

Quá trình xét xử phúc thẩm ông Lê N cung cấp bổ sung một số tài liệu là lời khai làm chứng của ông Đỗ Văn T nguyên cán bộ địa chính xã G (có xác nhận chữ ký) và ông Dương Đức H2 nguyên cán bộ Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Y (không có xác nhận chữ ký) về việc ông Lê N mua đất của vợ chồng ông Tô Văn H và có đến trụ sở UBND xã G, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Y để xin xác nhận tình trạng thửa đất, xin cấp trích lục thửa đất. Tuy nhiên các tài liệu này không làm thay đổi bản chất, nội dung vụ án. Ngoài tài liệu trên thì quá trình xét xử phúc thẩm người khởi kiện không cung cấp thêm được chứng cứ tài liệu nào khác chứng minh cho yêu cầu khởi kiện, yêu cầu kháng cáo là có căn cứ pháp luật.

Do vậy HĐXX thấy không có căn cứ chấp nhận nội dung kháng cáo của ông Lê N. Căn cứ khoản 1, Điều 241-Luật Tố tụng hành chính không chấp nhận kháng cáo của ông Lê N, giữ nguyên quyết định của bản án hành chính sơ thẩm số 06/2023/HC-ST ngày 15 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Yên Bái.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có cơ sở, phù hợp với nhận định của HĐXX nên được chấp nhận.

[4]. Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận, người kháng cáo phải chịu án phí hành chính phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1, Điều 241; khoản 1, Điều 349 của Luật Tố tụng hành chính; khoản 1, Điều 34-Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Bác kháng cáo của ông Lê N.
  2. Giữ nguyên quyết định của Bản án hành chính sơ thẩm số 06/2023/HC-ST ngày 15 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Yên Bái.
  3. Về án phí: ông Lê N phải chịu 300.000 đồng án phí hành chính phúc thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp tại Biên lai số AA/2023/0000010 ngày 05/01/2024 tại Cục THADS tỉnh Yên Bái.
  4. Các quyết định khác của bản án hành chính sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSNDCC tại Hà Nội;
  • - TAND tỉnh Yên Bái;
  • - VKSND tỉnh Yên Bái;
  • - Cục THADS tỉnh Yên Bái;
  • - Các đương sự (theo địa chỉ);
  • - Lưu HSVA, PHCTP./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ông Thân Thắng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 261/2024/HC-PT ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai

  • Số bản án: 261/2024/HC-PT
  • Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện Quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 26/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hành chính
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khiếu kiện Quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai giữa người khởi kiện: Lê N - Người bị kiện: Chủ tich và UBND thành phố Y
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger