Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐẮK LẮK

Bản án số: 261/2024/DS-PT

Ngày: 22 – 8 – 2024

V/v: "Tranh chấp hợp đồng vay

tài sản"

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Duy Phương;

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Nhung, bà Lưu Thị Thu Hường.

Thư ký phiên tòa: Ông Dương Công Bình – Thư ký Tòa án;

Đại diện VKSND tỉnh Đắk Lắk: Bà Lê Thị Bích Thủy - Kiểm sát viên

Ngày 22 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 208/2024/TLPT-DS ngày 23/7/2024 về việc "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản".

Do bản án dân sự sơ thẩm số 26/2024/DS-ST ngày 17/6/2024 của Toà án nhân dân huyện Ea H'leo bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 234/2024/QĐ - PT ngày 31/7/2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị O; địa chỉ: TDP I, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T1 và bà Đinh Thị H; cùng địa chỉ: TDP F, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Ông T1 có mặt, bà H vắng mặt.

- Người kháng cáo: Bị đơn ông Nguyễn Văn T1.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Nguyên đơn bà Nguyễn Thị O trình bày:

Ngày 12 tháng 6 năm 2021 (âm lịch) ông Nguyễn Văn T1 và bà Đinh Thị H có vay của bà Nguyễn Thị O số tiền 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng), thời hạn vay là 12 tháng (từ ngày 12/6/2021 đến ngày 12/6/2022), lãi suất hai bên thỏa thuận là 1%/tháng ông T1, bà H có ký hợp đồng cho vay tiền. Tuy nhiên, từ đó đến nay ông T1, bà H không trả được cho bà O khoản tiền nào. Nay ông T1, bà H đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay tài sản, nên bà O khởi kiện yêu cầu ông T1, bà H trả số tiền 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng) và tiền lãi suất theo thỏa thuận kể từ ngày vay cho đến khi trả hết nợ.

Tuy nhiên, trong quá tham gia tố tụng và tại phiên tòa bà O thay đổi yêu cầu khởi kiện về tiền lãi suất chỉ đề nghị ông T1, bà H trả tiền lãi chậm trả là 1%/tháng, kể từ ngày vi phạm nghĩa vụ ngày 12/6/2022 (âm lịch) tức ngày 10 tháng 7 năm 2022 (dương lịch) đến khi trả xong nợ.

Khi vay tiền ông T1 có đưa cho bà O 01 Giấy CNQSDĐ mang tên ông Nguyễn Văn T1 để làm lòng tin (không làm hợp đồng thế chấp theo quy định). Tuy nhiên, bà O đã trả lại Giấy CNQSDĐ trên cho ông T1, bà H.

Để chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp bà Nguyễn Thị O đã cung cấp 01 hợp đồng cho vay tiền đề ngày 12/6/2021 (âm lịch).

2. Bị đơn ông Nguyễn Văn T1 trình bày:

Ông Nguyễn Văn T1 thừa nhận ngày 12 tháng 6 năm 2021 (âm lịch) ông và bà Đinh Thị H có ký hợp đồng cho vay tiền với bà Nguyễn Thị O để vay số tiền 100.000.000 đồng, lãi suất 1%/tháng, thời hạn vay 01 năm từ ngày 12/6/2021 đến ngày 12/6/2022. Khi vay tiền ông T1 có giao cho bà O 01 Giấy CNQSDĐ mang tên ông Nguyễn Văn T1 để làm lòng tin (không làm hợp đồng thế chấp theo quy định). Tuy nhiên, bà Nguyễn Thị O đã trả lại Giấy CNQSDĐ cho ông T1, bà H nên ông T1 không yêu cầu gì. Tuy nhiên, số tiền 100.000.000 đồng mà ông T1, bà H đã vay của bà O thì bà H là người đứng ra nhận không đưa cho ông T1, khi vay tiền bà H nói sẽ đứng ra trả cho bà O còn ông T1 không phải trả, nên ông T1 không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của bà O, nên đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết theo quy định.

Hiện nay ông T1 và bà H đã ly hôn nhưng khoản vay trên được xác lập trong thời kỳ hôn nhân giữa ông T1 với bà H.

Tại bản án số 26/2024/DS-ST ngày 17/6/2024 của Toà án nhân dân huyện Ea H'leo, tỉnh Đắk Lắk đã quyết định:

Áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 160, Điều 161 và Điều 162 Bộ luật Tố tụng dân sự. Áp dụng Điều 117, Điều 118, Điều 119, Điều 288, Điều 463, Điều 465, Điều 466, Điều 468 và Điều 470 của Bộ luật Dân sự; Áp dụng Điều 27 và Điều 37 Luật hôn nhân và gia đình. Áp dụng Nghị quyết số: 01/2019/NQ-HĐTP, ngày 11 tháng 01 năm 2019 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm. Áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH1430/12/2016 Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị O.

Buộc ông Nguyễn Văn T1 và bà Đinh Thị H phải có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Nguyễn Thị O số tiền 123.233.000 đồng (một trăm hai mươi ba triệu hai trăm ba mươi ba nghìn đồng). Trong đó, tiền gốc 100.000.000 đồng, tiền lãi suất phát sinh đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 17 tháng 6 năm 2024 là 23.233.000 đồng.

Ngoài ra bản án còn tuyên về lãi suất thi hành án, chi phí tố tụng, án phí, quyền kháng cáo.

Ngày 26/6/2024, ông Nguyễn Văn T1 kháng cáo toàn bộ Bản án. Đề nghị cấp phúc thẩm giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt, nguyên đơn bà Nguyễn Thị O vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn ông Nguyễn Văn T1 giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Các đương sự giữ nguyên quan điểm trong quá trình giải quyết vụ án.

Quá trình tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk phát biểu:

- Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử phúc thẩm cũng như các đương sự đã tuân thủ đúng với quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Văn T1, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 26/2024/DS-ST ngày 17/6/2024 của Toà án nhân dân huyện Ea H'leo, tỉnh Đắk Lắk.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu thu thập được có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên và các đương sự. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bị đơn trong hạn luật định và được nộp tạm ứng án phí phúc thẩm nên vụ án được giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

[2] Xét kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Văn T1, nhận thấy:

[2.1] Tại Hợp đồng cho vay tiền ngày 12/6/2021 âm lịch, ông Nguyễn Văn T1, bà Đinh Thị H ký hợp đồng vay số tiền 100.000.000 đồng của bà Nguyễn Thị O, lãi suất 1%/tháng, thời hạn vay 01 năm. Đến thời hạn trả nợ, nhằm ngày 10/7/2022 dương lịch, ông T1, bà H không trả khoản nợ gốc 100.000.000 đồng và lãi suất cho bà O như thỏa thuận nên bà O khởi kiện tại Tòa án.

[2.2] Sau khi xét xử sơ thẩm, ông T1 cung cấp thêm được 01 Giấy tường trình, ký xác nhận mang tên bà Đinh Thị H, nội dung thể hiện ông T1, bà H mượn 100.000.000 đồng của bà O, trong đó 45 triệu đồng được trừ vào nợ cũ, 55 triệu bà O mang cho bà H, bà H là người nhận tiền, không đưa vào tay của ông T1. Tuy nhiên, nội dung tường trình này không làm thay đổi bản chất vụ án, đối chiếu tại thời điểm vay tiền, ông T1 và bà H là vợ chồng, bà H đều vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án nên Tòa án cấp sơ thẩm tiến hành trưng cầu giám định chữ ký, chữ viết của bà H tại hợp đồng. Tại bản Kết luận giám định số 414/KL-KTHS, ngày 27/3/2024 của Phòng K - Công an tỉnh Đ đã kết luận chữ ký tại hợp đồng là của bà H. Ông T1 cũng thừa nhận ông có ký tại Hợp đồng cho vay tiền. Tại phiên tòa phúc thẩm, ông T1 không cung cấp được tài liệu, chứng cứ gì mới.

Như vậy, giữa bà O với ông T1, bà H có xác lập quan hệ vay tài sản, đây là giao dịch dân sự được xác lập trong thời kỳ hôn nhân của ông T1, bà H nên phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên. Tòa án cấp sơ thẩm xác định ông T1, bà H phải có nghĩa vụ chung và liên đới trả số nợ chung này cho bà O là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 27, Điều 37 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 288 Bộ luật dân sự năm 2015.

Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm buộc ông T1, bà H phải có nghĩa vụ liên đới trả nợ cho bà O số tiền 123.233.000 đồng (trong đó tiền gốc 100.000.000 đồng, tiền lãi 23.233.000 đồng) là có căn cứ.

[3] Từ những nhận định nêu trên, xét kháng cáo của bị đơn là không có căn cứ chấp nhận, cần giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm là phù hợp.

[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn T1 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự,

[1] Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Văn T1.

Giữ nguyên bản án số 26/2024/DS-ST ngày 17/6/2024 của Toà án nhân dân huyện Ea H'leo.

[2] Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn T1 phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự phúc thẩm. Được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí ông Nguyễn Văn T1 đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số AA/2023/0002167 ngày 27/6/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện E, tỉnh Đắk Lắk.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TANDCC tại Đà Nẵng;
  • - VKSND tỉnh Đắk Lắk;
  • - TAND huyện Ea Kar;
  • - Chi cục THADS huyện E;
  • - Đăng Cổng TTĐT TANDTC;
  • - Đương sự,
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

(Đã ký)

Trần Duy Phương

4

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 261/2024/DS-PT ngày 22/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 261/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 22/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Văn Trực. Giữ nguyên bản án số 26/2024/DS-ST ngày 17/6/2024 của Toà án nhân dân huyện Ea H’leo.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger