|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT TỈNH LÂM ĐỒNG Bản án số: 260/2024/HS-ST Ngày: 29 - 10 - 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT - TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Đỗ Thị Vân Anh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Mặc Vũ
Bà Trần Thị Ngọc Kim
- Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Ngọc Trung Dũng - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt - tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Vũ Đức Thành - Kiểm sát viên
Ngày 29 tháng 10 năm 2024, tại Hội trường tổ phố Đ, phường H, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 308/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 310/2024/QĐXXST - HS ngày 15 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Võ Thiện N, sinh năm 1972; tại: Lâm Đồng; nơi đăng ký hộ khầu thường trú: Số B, đường P, phường B, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng; nơi cư trú: Số B, đường V, phường H, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Cao Đài; con ông Võ Đ (đã chết) và bà Trần Thị M, sinh năm 1942; vợ: Hoàng Thị T, sinh năm 1972; con: có 04 con lớn nhất sinh năm 1995 và nhỏ nhất sinh năm 2006; chức vụ đoàn thể, đảng phái: không.
Tiền án: không.
Tiền sự: Tại Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 15/QĐ-XPHC ngày 16/6/2021 của Toà án nhân dân thành phố Đà Lạt, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Võ Thiện N thời gian 18 (mười tám) tháng. Đến ngày 16/9/2022, bị cáo chấp hành xong.
Bị cáo bị bắt ngày 26/6/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an thành phố Đ. Có mặt tại phiên toà.
- Người có quyền và nghĩa vụ liên quan: Ông Trịnh Minh C, sinh năm 1972; nơi cư trú: Số B, tổ A, phường T, thị xã T, tỉnh Tuyên Quang. Vắng mặt tại phiên toà.
- Người chứng kiến: Ông Phan Gia L, sinh năm 1974; nơi cư trú: Số A, đường H, phường A, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Võ Thiện N là đối tượng sử dụng ma túy đá từ năm 2017. Quá trình sử dụng ma túy, thông qua bạn bè ngoài xã hội giới thiệu N quen biết một người tên “Nhân” (chưa rõ nhân thân, lai lịch) có bán ma túy đá. Khoảng 20 giờ ngày 25/06/2024, Võ Thiện N điều khiển xe mô tô hiệu Honda Vision màu xanh, biển số 59L2-015.15 đi đến khu vực đường Đ, phường H, thành phố Đ thì tình cờ gặp N. Tại đây, Võ Thiện N hỏi mua của N 800.000 đồng (tám trăm nghìn đồng) ma túy đá thì N đồng ý và đưa cho Võ Thiện N 01 gói nylon màu trắng trong được hàn kín bên trong chứa ma túy đá để trong vỏ gói thuốc lá hiệu Seven. Sau khi mua được ma túy, Võ Thiện N cất giữ gói thuốc lá hiệu Seven chứa gói ma túy đá trong túi áo khoác bên phải đang mặc rồi đi uống cà phê. Đến khoảng 23 giờ 45 phút ngày 25/06/2024, Võ Thiện N tiếp tục điều khiển xe mô tô biển số 59L2-015.15 đi xuống phường A, thành phố Đ để tìm chỗ sử dụng ma túy. Khi Võ Thiện N điều khiển xe đi đến trước ngôi nhà số A N, phường A, thành phố Đ thì bị cơ quan Công an yêu cầu dừng xe để kiểm tra hành chính. Lúc này, do lo sợ nên Võ Thiện N đã móc trong túi bên phải chiếc áo khoác đang mặc trên người ra vỏ bao thuốc hiệu Seven chứa gói ma túy đá mà Võ Thiện N vừa mua được của N và thả xuống đường ngay vị trí Võ Thiện N đang đứng, nhưng bị Cơ quan Công an phát hiện, bắt quả tang ngay tại chỗ. Cơ quan Công an đã lập biên bản phạm tội quả tang và thu giữ và niêm phong tang vật nghi là ma túy của Võ Thiện N theo quy định (BL 51-64)
* Tang vật tạm giữ:
- - 01 (một) gói thuốc lá hiệu Seven, bên trong chứa 01(một) gói nylon màu trắng trong, được hàn kín, kích thước khoảng 02cm x 03cm, bên trong gói nylon có chứa chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy.
- - 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Vision, biển kiểm soát: 59L2-015.15, số khung: LLHJF5804EY0G8492; số máy: K44F108cm3.
- - 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6 Plus, màu vàng, đã qua sử dụng, bên trong có gắn sim số: 0964.637.844 (BL 24; 29-31 )
Tại Kết luận giám định số 809/KL-KTHS ngày 01/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh L, xác định: Mẫu chất tinh thể màu trắng đựng trong gói nylon trên là ma túy, khối lượng 0,9100g (Không phẩy chín một không không gam), loại Methamphetamine.(BL 16-21)
Methamphetamine là chất ma túy nằm trong Danh mục IIC, STT: 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ
Tại bản cáo trạng số 306/CT-VKSĐL - LĐ ngày 10/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng truy tố bị cáo Võ Thiện N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Võ Thiện N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố là hoàn toàn chính xác, bị cáo không thắc mắc khiếu nại gì đối với cáo trạng truy tố và xin được giảm nhẹ hình phạt.
Sau phần luận tội, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Võ Thiện N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Võ Thiện Nhân từ 18 (mười tám) đến 24 (hai mươi bốn) tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 02 (hai) phong bì được niêm phong số 809/KL-KTHS có chữ ký ghi họ tên Phạm Thị D, Nguyễn Văn C1, Ngô Văn N1 gồm: phong bì đựng bao gói vật chứng trước giám định và phong bì đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định; Hoàn trả cho bị cáo 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6 Plus màu vàng, đã qua sử dụng, bên trong có gắn sim số 0964.637.844.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội: Bản thân bị cáo là người sử dụng ma túy từ năm 2017. Vào khoảng 20 giờ ngày 25/6/2024, bị cáo đi uống cà phê và gặp một người tên “N1” (không rõ lai lịch, địa chỉ) là đối tượng bán ma tuý mà bị cáo đã quen biết trước đó, bị cáo hỏi mua của N1 800.000đ tiền ma tuý thì N1 đồng ý, N1 đưa cho bị cáo 01 gói nylon màu trắng trong được hàn kín bên trong chứa ma túy đá để trong vỏ gói thuốc lá hiệu Seven. Sau khi mua được ma túy, bị cáo cất ma tuý vào túi áo khoác bên phải đang mặc rồi tiếp tục đi uống cà phê. Đến khoảng 23 giờ 45 phút cùng ngày, bị cáo đi xuống khu vực phường A, thành phố Đ để tìm chỗ sử dụng ma túy. Khi đi đến trước ngôi nhà số A N, phường A, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng thì bị cơ quan Công an phường A, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng yêu cầu kiểm tra hành chính và phát hiện, bắt quả tang bị cáo tàng trữ trái phép chất ma tuý. Tại Kết luận giám định số 809/KL-KTHS ngày 01/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh L, xác định: Mẫu chất tinh thể màu trắng đựng trong gói nylon trên là ma túy, khối lượng 0,9100g (Không phẩy chín một không không gam), loại Methamphetamine. Methamphetamine là chất ma túy nằm trong Danh mục IIC, STT: 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
[3] Xét thấy, bị cáo là người đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và là đối tượng sử dụng ma túy. Bị cáo biết rõ việc tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng là đối tượng nghiện ma túy và để có ma túy sử dụng, bị cáo vẫn thực hiện nhằm thỏa mãn cho nhu cầu cá nhân. Hành vi của bị cáo không chỉ vi phạm pháp luật về chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội tại địa phương mà còn là một trong những nguyên nhân góp phần gây ra những tệ nạn xã hội khác. Bị cáo có một tiền sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, đã bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nhưng vẫn tái nghiện, bị cáo không lấy đó làm bài học tu dưỡng bản thân mà còn tiếp tục thực hiện hạnh vi phạm tội, thể hiện thái độ liều lĩnh, coi thường pháp luật. Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa, phù hợp lời khai của bị cáo và tài liệu chứng cứ đã thu thập trong quá trình điều tra vụ án. Có đủ căn cứ kết luận hành vi của Võ Thiện N phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự như cáo trạng số 306/CT-VKSĐL - LĐ ngày 10/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng truy tố và kết luận của Kiểm sát viên tại phiên tòa là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội không thuộc trường hợp bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối lỗi nên áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự là phù hợp.
[5] Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Đ chưa xác định được nhân thân, lai lịch của đối tượng tên N là người đã bán ma túy cho bị cáo nên chưa có căn cứ để xử lý, khi nào xác định được sẽ xử lý sau.
[6] Đối với ông Trịnh Minh C là người đã cho bị cáo Võ Thiện N thuê xe mô tô biển số 59L2-015.15, khi cho thuê ông C không biết bị cáo sử dụng xe để thực hiện hành vi phạm tội nên có cơ sở để xử lý. Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố Đ đã trả lại chiếc xe trên cho ông C, ông C đã nhận lại xe và không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.
[7] Về xử lý vật chứng: Cơ quan Điều tra đã thu giữ tang vật gồm: 01 (một) gói thuốc lá hiệu Seven, bên trong chứa 01 (một) gói nylon màu trắng trong, được hàn kín, kích thước khoảng 02cm x 03cm, bên trong gói nylon có chứa chất tinh thể màu trắng, sau khi giám định kết luận là ma tuý nên cần tịch thu tiêu huỷ.
Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6 Plus, màu vàng, đã qua sử dụng, bên trong có gắn sim số: 0964.637.844 thu giữ của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội và việc giải quyết vụ án nên trả lại cho bị cáo là phù hợp.
[8] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Võ Thiện N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Võ Thiện N 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/5/2024. - Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tịch thu tiêu huỷ: 02 (hai) phong bì được niêm phong số 809/KL-KTHS có chữ ký ghi họ tên Phạm Thị D, Nguyễn Văn C1, Ngô Văn N1 gồm: phong bì đựng bao gói vật chứng trước giám định và phong bì đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định.
Hoàn trả cho bị cáo: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6 Plus màu vàng, đã qua sử dụng, bên trong có gắn sim số 0964.637.844.
(Theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 10/10/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đà Lạt). - Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Võ Thiện N phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. - Quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo được quyền làm đơn kháng cáo để yêu cầu xét xử theo thủ tục phúc thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản sao hoặc niêm yết bản án./.
(Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chỉ được kháng cáo phần có liên quan)
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Vân Anh |
Bản án số 260/2024/HS-ST ngày 29/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT - TỈNH LÂM ĐỒNG về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 260/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT - TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Võ Thiện Nhân phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
