|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
|
|
Bản án số: 260/2024/HS-ST Ngày: 04-7-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ninh Thị Khánh Tân
Các hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Tú
Bà Dương Thị Phương
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu Linh – Thư ký TAND thành phố Thanh Hóa.
- Đại diện VKSND thành phố Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Hà Trọng L - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 281/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 289/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Thị H, sinh năm 1975; tại Thanh Hóa; Giới tính: Nữ;
Nơi thường trú: Thôn Y, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/10; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Ngọc C và con bà Nguyễn Thị V (đều đã chết); Gia đình có 06 chị em, bị cáo là con út; Bị cáo có chồng là Nguyễn Đình T (đã chết) và 01 con là Nguyễn Đình T1; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo hiện đang tại ngoại. Bị áp dụng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.
+ Bị hại: Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1968. Vắng mặt tại phiên tòa.
Địa chỉ: Số nhà C, Đ, phường B, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Năm 2023, đầu năm 2024 Nguyễn Thị H làm giúp việc tại gia đình bà Nguyễn Thị Đ, sau khi quan sát và biết được bà Đ hay để tiền trong cốp xe ô tô. Do cần tiền chi tiêu, H đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Khoảng 11h15” ngày 29/3/2024, H đi xe đạp từ nhà đến gửi ở chợ T4, phường T, thành phố T rồi đi bộ đến nhà bà Đ, lúc này thấy cửa cuốn nhà xe mở, H lẻn vào trốn trong nhà vệ sinh bỏ hoang trong nhà xe đợi. Đến khoảng 02h30' ngày 30/3/2024, biết mọi người trong nhà đã ngủ say, H vào phòng khách lấy chìa khóa xe ô tô Audi A4, BKS: 36A – 311.16 của bà Đ và lấy chìa khóa cửa cuốn nhà xe để trong nhà bếp rồi mở cửa vào trong xe ô tô Audi mở cốp xe lấy trộm số tiền 42.000.000 đồng, sau đó mở cửa cuốn đi ra gần chợ T4 đợi đến khoảng 06h30' cùng ngày vào lấy xe đạp đi lòng vòng trong thành phố T. Đến khoảng 12h30' cùng ngày, H đến Cửa hàng Đ1 ở số F Bà T, phường Đ, thành phố T, dùng số tiền trộm cắp được của gia đình bà Đ mua 01 máy giặt hiệu Panasonic – NA – FD 11AR1BV, với giá 10.980.000 đồng; 01 giá đỡ máy giặt 495.000 đồng; 01 máy xay sinh tố hiệu Toshiba MX – 60T (H) với giá 690.000 đồng đưa về nhà. Đến khoảng 07h00' ngày 31/3/2024, H gọi điện cho cháu là Hoàng Văn Q bảo đến khu vực trường Mầm non xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa rồi đưa cho Quân số tiền 25.000.000 đồng, H nói dối Q là tiền tiết kiệm được, nhờ Q giữ hộ. H đưa cho con trai là Nguyễn Đình T1 ở cùng địa chỉ nhà 3.000.000 đồng và chi tiêu cá nhân hết 1.325.000 đồng, còn lại 600.000 đồng H cất giấu trong người.
Đến 17h00' ngày 01/4/2024, biết hành vi của mình không che giấu được Nguyễn Thị H đã đến Công an phường B, thành phố T đầu thú đồng thời giao nộp số tiền 600.000 đồng và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân.
Cùng ngày 01/4/2024, khi được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T thông báo số tiền 25.000.000 đồng mà H gửi là tang vật vụ án, anh Hoàng Văn Q đã tự giác giao nộp lại cho Cơ quan điều tra.
Đối với số tài sản H mua của Cửa hàng Đ1 gồm 01 máy giặt hiệu Panasonic – NA – FD 11AR1BV, 01 giá đỡ máy giặt, 01 máy xay sinh tố hiệu Toshiba MX – 60T (H), sau khi H đầu thú, con trai H là Nguyễn Đình T1 đã thỏa thuận và trả lại cho Cửa hàng Đ1 để lấy lại tiền, sau đó anh T1 đã tự thỏa thuận và trả lại cho người bị hại là bà Nguyễn Thị Đ tổng số tiền là 16.400.000 đồng.
Việc thu giữ đồ vật, tài liệu, xử lý vật chứng: Đối với 01 chiếc xe đạp Mini nhãn hiệu National thu giữ của Nguyễn Thị H, Cơ quan điều tra chuyển Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa để xử lý theo quy định của pháp luật.
Ngày 07/4/2024, Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà Nguyễn Thị Đ số tiền 25.600.000 đồng.
Về dân sự: Bà Nguyễn Thị Đ không có yêu cầu, đề nghị gì, đồng thời đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho Nguyễn Thị H
Cáo trạng số 205/CT-VKSTP ngày 10/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa truy tố bị cáo Nguyễn Thị Hạnh về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị H đã khai nhận toàn bộ hành vi đúng như cáo trạng đã nêu, phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận vẫn giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo từ 18 tháng đến 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 36 đến 48 tháng.
Về vật chứng: Tịch thu sung quỹ chiếc xe đạp National thu giữ của H
Về án phí: buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không có tranh luận gì. Tại lời nói sau cùng, bị cáo vô cùng ăn năn, hối hận, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần trách nhiệm hình sự và cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác thu thập có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên kết quả xét hỏi và tranh tụng tại phiên tòa hôm nay có đủ cơ sở kết luận:
Do có mục đích chiếm đoạt tài sản và trước đây từng là người giúp việc cho gia đình bà Nguyễn Thị Đ nên trưa ngày 29/3/2024 Nguyễn Thị H đã đến và trốn trong nhà bà Nguyễn Thị Đ ở số C - C Đ, phường B, Thành phố T, sau đó đợi đến đêm khuya, lúc 02h30' ngày 30/3/2024 là thời điểm người trong nhà đã ngủ say, Nguyễn Thị H đã lén lút chiếm đoạt số tiền 42.000.000 đồng chi tiêu cá nhân.
Do vậy hành vi của Nguyễn Thị H đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự như Cáo trạng và quan điểm luận tội của Đại diện VKSND thành phố Thanh Hóa là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi: Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác một cách trái pháp luật, gây mất an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; bị cáo tuy có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đủ sức khỏe nhưng không chịu lao động, tu dưỡng bản thân để làm người có ích cho xã hội mà thực hiện hành vi trái pháp luật nên cần phải xử lý nghiêm.
[4] Xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo:
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi phạm tội bị cáo đã đầu thú; bị cáo và gia đình bị cáo đã khắc phục toàn bộ số tiền đã chiếm đoạt là 42.000.000 đồng cho bị hại và bị hại có đề nghị giảm nhẹ và cho bị cáo được hưởng án treo; quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt; có nhiều tình tiết giảm nhẹ; có nơi cư trú rõ ràng; ngoài lần phạm tội này không có vi phạm gì khác; bị cáo phạm tội do thiếu hiểu biết pháp luật, bị cáo có khả năng tự cải tạo và nếu không bắt đi chấp hành hình phạt tù cũng không ảnh hưởng đến cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm chung.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì về dân sự nên HĐXX không xét.
[6] Về vật chứng: Chiếc xe đạp Mini nhãn hiệu National cơ quan điều tra thu giữ của bị cáo Nguyễn Thị H do bị cáo sử dụng là công cụ phương tiện phạm tội cần tịch thu sung quỹ nhà nước.
[7] Án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 47, Điều 48 của Bộ luật hình sự;
Khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106; Điều135; Điều 136; Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị H 18 (mười tám) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 36 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Thị H cho UBND xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về vật chứng: Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước một xe đạp nhãn hiệu National, loại xe mini, màu đỏ trắng, giỏ xe màu xanh, yên xe màu đen, xe đã qua sử dụng.
Vật chứng hiện nay đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa theo biên bản giao nhận vật chứng số 163/2024/THA ngày 12/6/2024
Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Thị H phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự
|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
|
BIÊN BẢN NGHỊ ÁN
Vào hồi 08 giờ 30 phút, ngày 04 tháng 7 năm 2024
Tại Phòng Nghị án - Toà án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa
Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Ninh Thị Khánh Tân
Các hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Tú
Bà Dương Thị Phương
Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 281/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 289/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo: Nguyễn Thị H, sinh năm 1975; tại Thanh Hóa; Giới tính: Nữ; Nơi thường trú: Thôn Y, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa;
Căn cứ Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT,
QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU
1. Về tội danh: Bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Kết quả biểu quyết: 3/3 = 100%
2. Điều luật áp dụng: Căn cứ: khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 47, Điều 48 của Bộ luật hình sự;
Khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106; Điều135; Điều 136; Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Kết quả biểu quyết: 3/3 = 100%
3. Mức hình phạt: Bị cáo Nguyễn Thị H 18 (mười tám) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 36 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Thị H cho UBND xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về vật chứng: Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước một xe đạp nhãn hiệu National, loại xe mini, màu đỏ trắng, giỏ xe màu xanh, yên xe màu đen, xe đã qua sử dụng.
Vật chứng hiện nay đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa theo biên bản giao nhận vật chứng số 163/2024/THA ngày 12/6/2024
Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Thị H phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Kết quả biểu quyết: 3/3 = 100%
4. Vật chứng, án phí và các vấn đề khác:
Về vật chứng: Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước một xe đạp nhãn hiệu National, loại xe mini, màu đỏ trắng, giỏ xe màu xanh, yên xe màu đen, xe đã qua sử dụng.
Vật chứng hiện nay đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa theo biên bản giao nhận vật chứng số 163/2024/THA ngày 12/6/2024
Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Thị H phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Kết quả biểu quyết: 3/3 = 100%
Nghị án kết thúc vào hồi 09 giờ 00 phút, ngày 04 tháng 7 năm 2024.
Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên.
|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Số: /2023/TB-TA |
Tp.Thanh Hóa, ngày 10 tháng 10 năm 2023 |
THÔNG BÁO
SỬA CHỮA, BỔ SUNG BẢN ÁN
Căn cứ các điều 45, 260 và 261 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Xét thấy Bản án hình sự sơ thẩm số 322/2023/HS-ST ngày 30/8/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa có lỗi chính tả cần được sửa chữa, bổ sung như sau:
- Về nội dung tại dòng 13 từ dưới lên của trang số 01 của Bản án sơ thẩm nêu trên đã ghi: “Nơi ở hiện nay: Số nhà D, Q, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa”
Nay được sửa chữa, bổ sung như sau: “Nơi ở hiện nay: Phố T, phường Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa”
- Về nội dung tại dòng 17 từ dưới lên của trang số 05 của Bản án sơ thẩm nêu trên đã ghi: “Giao bị cáo Nguyễn Thị C2 cho UBND phường N, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách”
Nay được sửa chữa, bổ sung như sau: “Giao bị cáo Nguyễn Thị C2 cho UBND phường Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách"
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ninh Thị Khánh Tân |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
|
Lê Văn Tú Nguyễn Thị Thanh T2 |
Ninh Thị Khánh T3 |
Bản án số 260/2024/HS-ST ngày 04/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 260/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị H trộm cắp tài sản
