Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CỦ CHI

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 260/2024/DS-ST

Ngày: 24-5-2024

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Túy Phượng

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Phước Trinh
  2. Bà Phạm Thị Ngọc

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tâm - Thư ký Toà án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi tham gia phiên toà: Ông Đào Văn Tiền – Kiểm sát viên.

Trong ngày 24 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 474/2023/TLST-DS ngày 13 tháng 10 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 132/2024/QĐXXST-DS ngày 02 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 186/2024/QÐST-DS ngày 26 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần X (E)

Địa chỉ trụ sở chính: Tầng H, Số L+16, Tòa nhà V, số G, đường L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Địa chỉ liên lạc: Số D, đường V (phía trước), phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Đỗ Hà P, chức vụ: Chủ tịch hội đồng quản trị.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Đoàn Thanh H, chức vụ: Giám đốc. (Theo Giấy ủy quyền số 630/2023/EIB/UQ-TGĐ ngày 29/12/2023)

Người đại diện theo ủy quyền lại: Ông Trần Huy Đ, chức vụ: Giám đốc E-Chi nhánh T2 và ông Nguyễn Minh S, chức vụ: Phó giám đốc E-Chi nhánh T2. (Theo Giấy ủy quyền số 17/2024/EIBQ4/UQ-GĐ ngày 18/01/2024). (Có mặt)

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Thành H1, sinh năm 1982

HKTT: Số 444A, quốc lộ 22, Tổ 3, ấp Đình, xã Tân Phú Trung, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

Chỗ ở: Số 20A, đường Suối Lội, ấp Bàu Sim, xã Tân Thông Hội, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ghi ngày 17 tháng 7 năm 2023, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần X - có người đại diện theo ủy quyền lại là ông Nguyễn Minh S trình bày:

Ngày 28/7/2022, ông Nguyễn Thành H1Ngân hàng Thương mại cổ phần X ký Hợp đồng tín dụng từng lần số: LAV 220065415-2236 để vay tiền. Để thực hiện Hợp đồng tín dụng từng lần số: LAV 220065415-2236 ngày 28/7/2022, ngày 29/7/2022, Ngân hàng và ông H1 tiếp tục ký 02 khế ước: Khế ước nhận nợ số: 2236-LDS-220000089 để giải ngân số tiền 780.000.000đ (Bảy trăm tám mươi triệu đồng) và Khế ước nhận nợ số: 2236-LDS-220000088 để giải ngân số tiền 500.000.000đ (Năm trăm triệu đồng), mục đích vay để thanh toán tiền mua sắm vật dụng gia đình, thời hạn vay từ ngày 29/7/2022 đến ngày 29/7/2042. Trong 02 khế ước nhận nợ đều thỏa thuận lãi suất cho vay 10,99%/năm, cố định 12 tháng đầu tiên, sau đó lãi suất bằng lãi suất cơ sở + 2,7%/năm, chu kỳ thay đổi lãi suất 03 tháng/01 lần; lãi suất quá hạn 150% mức lãi suất cho vay trong hạn; phạt trả nợ gốc trước hạn năm 1: 2%, năm 2: 1,5%, năm 3: 1%, năm 4: 0,5%, từ năm 5: miễn phí.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông H1 đã nhận tiền và chỉ thanh toán được một khoản tiền, còn lại ông H1 không thanh toán và cố tình trốn tránh nghĩa vụ mặc dù Ngân hàng đã nhiều lần thông báo việc thanh toán nợ.

Do ông H1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng đã ký nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông H1 trả tiền theo Hợp đồng tín dụng từng lần số: LAV 220065415-2236 ngày 28/7/2022 theo 02 khế ước nhận nợ như sau:

+ Theo Khế ước nhận nợ số: 2236-LDS-220000088 ngày 29/7/2022, tính từ ngày 26/3/2023 đến ngày 24/5/2024:

Tiền gốc: 483.328.000đ (Bốn trăm tám mươi ba triệu ba trăm hai mươi tám nghìn đồng);

Lãi trong hạn: 65.057.050₫ (Sáu mươi lăm triệu không trăm năm mươi bảy nghìn không trăm năm mươi đồng);

Lãi chậm thanh toán: 6.416.955₫ (Sáu triệu bốn trăm mười sáu nghìn chín trăm năm mươi lăm đồng);

Tổng cộng: 554.802.005đ (Năm trăm năm mươi bốn triệu tám trăm lẻ hai nghìn không trăm lẻ năm đồng).

+ Theo Khế ước nhận nợ số: 2236LDS220000089 ngày 29/7/2022, tính từ 26/3/2023 đến ngày 24/5/2024:

Tiền gốc: 754.000.000đ (Bảy trăm năm mươi bốn triệu đồng);

Lãi trong hạn: 102.702.022đ (Một trăm lẻ hai triệu bảy trăm lẻ hai nghìn không trăm hai mươi hai đồng);

Lãi chậm thanh toán: 10.149.759₫ (Mười triệu một trăm bốn mươi chín nghìn bảy trăm năm mươi chín đồng);

Tổng cộng: 866.851.782đ (Tám trăm sáu mươi sáu triệu tám trăm năm mươi mốt nghìn bảy trăm tám mươi hai đồng).

Và tiền lãi phát sinh tính tiếp tục cho đến khi thanh toán xong các khoản vay nêu trên.

Trong trường hợp ông H1 không thanh toán hoặc thanh toán không đúng nghĩa vụ thì Ngân hàng Thương mại cổ phần X có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án xử lý tài sản thế chấp là diện tích đất 153,6m² thuộc thửa số 516, tờ bản đồ số 51, thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số vào số cấp GCN: CH06226 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho bà Nguyễn Thị T1 ngày 15/3/2019 (Nội dung thay đổi và cơ sở pháp lý chuyển nhượng cho ông Nguyễn Thành H1 theo hồ sơ số 008878.CN.004), đất tọa lạc tại xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 158/2022/KIO/HĐTC ngày 28/7/2022, số công chứng 016536, Quyển số 07/2022TP/CC-SCC/HĐGD ngày 28/7/2022 tại Phòng C, Thành phố Hồ Chí Minh; có đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C ngày 28/7/2022.

Tại phiên tòa, Ngân hàng Thương mại cổ phần X rút lại yêu cầu tính lãi suất quá hạn đối với bị đơn.

Ngân hàng yêu cầu ông H1 trả lại cho Ngân hàng chi phí tố tụng cho việc xem xét, thẩm định tại chỗ là 7.000.000đ (Bảy triệu đồng).

- Bị đơn ông Nguyễn Thành H1 trình bày tại bản tự khai ngày 17/5/2024:

Ông đã nhận được thông báo thụ lý vụ án, các văn bản tố tụng của Tòa án, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa, Giấy triệu tập đương sự của Tòa án. Do ông bận công việc nên ông chưa sắp xếp đến Tòa để giải quyết tranh chấp do Ngân hàng Thương mại cổ phần X khởi kiện. Ông trình bày ý kiến đối với vụ án như sau:

Ngày 28/7/2022, ông và Ngân hàng Thương mại cổ phần X ký Hợp đồng tín dụng từng lần số: LAV 220065415-2236 ngày 28/7/2022 để vay tiền. Để thực hiện Hợp đồng tín dụng từng lần số: LAV 220065415-2236 ngày 28/7/2022, ngày 29/7/2022, Ngân hàng và ông tiếp tục ký 02 khế ước: Khế ước nhận nợ số: 2236-LDS-220000089 để giải ngân số tiền 780.000.000đ (Bảy trăm tám mươi triệu đồng) và Khế ước nhận nợ số: 2236-LDS-220000088 để giải ngân số tiền 500.000.000đ (Năm trăm triệu đồng), trong 02 khế ước nhận nợ đều thỏa thuận lãi suất cho vay 10,99%/năm, cố định 12 tháng đầu tiên, sau đó lãi suất bằng lãi suất cơ sở + 2,7%/năm, chu kỳ thay đổi lãi suất 03 tháng/01 lần; lãi suất quá hạn 150%; phạt trả nợ gốc trước hạn năm 1: 2%, năm 2: 1,5%, năm 3: 1%, năm 4: 0,5%, từ năm 5: miễn phí.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông đã nhận tiền và chỉ thanh toán được một khoản tiền còn lại ông chưa thanh toán đầy đủ là do ông làm ăn gặp khó khăn nên không xoay sở được tiền để trả cho Ngân hàng. Ông xác nhận ông còn nợ Ngân hàng các khoản vay theo 02 khế ước như sau:

Theo Hợp đồng tín dụng từng lần số: LAV 220065415-2236 ngày 28/7/2022, ông ký 02 lần khế ước với Ngân hàng như sau:

+ Theo Khế ước nhận nợ số 2236-LDS-220000088 ngày 29/7/2022, tính từ ngày 26/3/2023 đến ngày 29/3/2024 ông còn nợ:

Tiền gốc: 483.328.000đ (Bốn trăm tám mươi ba triệu ba trăm hai mươi tám nghìn đồng);

Lãi trong hạn: 56.673.885đ (Năm mươi sáu triệu sáu trăm bảy mươi ba nghìn tám trăm tám mươi lăm đồng);

Lãi quá hạn: 2.063.388₫ (Hai triệu không trăm sáu mươi nghìn ba trăm tám mươi tám đồng);

Lãi chậm thanh toán: 2.557.467₫ (Hai triệu năm trăm năm mươi bảy nghìn bốn trăm sáu mươi bảy đồng);

Tổng cộng: 544.622.740đ (Năm trăm bốn mươi bốn triệu sáu trăm hai mươi hai nghìn bảy trăm bốn mươi đồng).

+ Theo Khế ước nhận nợ số 2236LDS220000089 ngày 29/7/2022, tính từ 26/3/2023 đến ngày 29/3/2024 ông còn nợ:

Tiền gốc: 754.000.000đ (Bảy trăm năm mươi bốn triệu đồng);

Lãi trong hạn: 89.623.893₫ (Tám mươi chín triệu sáu trăm hai mươi ba nghìn tám trăm chín mươi ba đồng);

Lãi quá hạn: 3.222.259₫ (Ba triệu hai trăm hai mươi hai nghìn hai trăm năm mươi chín đồng);

Lãi chậm thanh toán: 4.107.426₫ (Bốn triệu một trăm lẻ bảy nghìn bốn trăm hai mươi sáu đồng);

Tổng cộng: 850.953.578đ (Tám trăm năm mươi triệu chín trăm năm mươi ba nghìn năm trăm bảy mươi tám đồng).

Ông đồng ý trả tiền còn nợ cho Ngân hàng và tiền lãi phát sinh tính tiếp tục cho đến khi thanh toán xong các khoản vay nêu trên.

Trong trường hợp ông không thanh toán hoặc thanh toán không đúng nghĩa vụ thì Ngân hàng Thương mại cổ phần X có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án xử lý tài sản thế chấp là diện tích 153,6m² thuộc thửa số 516, tờ bản đồ số 51, số vào sổ cấp GCN: CH06226 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho bà Nguyễn Thị T1 ngày 15/3/2019 (Nội dung thay đổi và cơ sở pháp lý chuyển nhượng cho ông (Nguyễn Thành H1) theo hồ sơ số 008878.CN.004), đất tọa lạc tại xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 158/2022/KIO/HĐTC ngày 28/7/2022, số công chứng 016536, Quyển số 07/2022TP/CC-SCC/HĐGD ngày 28/7/2022; có đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C ngày 28/7/2022.

Ông đồng ý trả lại cho Ngân hàng chi phí tố tụng cho việc xem xét, thẩm định tại chỗ là 7.000.000đ (Bảy triệu đồng).

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi phát biểu quan điểm đối với vụ án như sau:

+ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa, người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của pháp luật.

+ Ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Ngân hàng Thương mại cổ phần X yêu cầu giải quyết buộc ông Nguyễn Thành H1 phải thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần X toàn bộ nợ gốc và lãi phát sinh tạm tính đến ngày 24/5/2024 theo Hợp đồng tín dụng từng lần số LAV220065415-2236 ngày 28/07/2022 cho đến khi thanh toán dứt nợ cho Ngân hàng.

Trong trường hợp Ông Nguyễn Thành H1 không trả nợ hoặc trả nợ không đủ, thi xử lý các tài sản bảo đảm đã thế chấp theo những hợp đồng thế chấp số: 158/2022/KIO/HĐTC ngày 28/07/2022 công chứng tại Phòng C, Thành phố Hồ Chí Minh, số công chứng 016536, quyển số 07/2022TP/CC-SCC/HĐGD. Nếu giá trị tài sản bảo đảm không thu hồi đủ nợ thì Ông Nguyễn Thành H1 tiếp tục có nghĩa vụ thanh toán cho đên khi trả xong nợ.

Nhận thấy, ông Nguyễn Thành H1 có ký kết với Ngân hàng Thương mại cổ phần X Hợp đồng tín dụng từng lần số LAV220065415 – 2236 ngày 28/07/2022, theo khế ước nhận nợ số 2236LDS220000088 ngày 29/7/2022 với số tiền 500.000.000₫ (Năm trăm triệu đồng) và khế ước nhận nợ số 2236LDS220000089 ngày 29/7/2022 với số tiền 780.000.000₫ (Bảy trăm tám mươi triệu đồng). Để đảm bảo khoản vay, ông Nguyễn Thành H1 đã thể chấp tài sản sau là quyền sử dụng 153,6m², thửa đất số 516, tờ bản đồ số 51, tọa lạc tại xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh theo Hợp đồng thế chấp số: 158/2022/KIO/HĐTC ngày 28/07/2022 công chứng tại Phòng C, Thành phố Hồ Chí Minh, số công chứng 016536, quyển số 07/2022TP/CC-SCC/HĐGD.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng khoản vay mà ông Nguyễn Thành H1 ký với Ngân hàng Thương mại cổ phần X đã quá hạn từ ngày 05/05/2023 cho đến nay. Ngân hàng Thương mại cổ phần X đã thông báo nhiều lần cho ông Nguyễn Thành H1 vào các ngày 15/5/2023, ngày 25/5/2023, ngày 05/6/2023, ngày 15/6/2023 và có các biên bản làm việc với ông Nguyễn Thành H1 để giải quyết khoản vay, tuy nhiên ông Nguyễn Thành H1 không thực hiện việc thanh toán các khoản nợ theo thỏa thuận trong hợp đồng.

Tính đến ngày 24/5/2024, ông Nguyễn Thành H1 còn nợ Ngân hàng Thương mại cổ phần X tổng số tiền 1.421.653.787đ (Một tỷ bốn trăm hai mươi mốt triệu sáu trăm năm mươi ba nghìn bảy trăm tám mươi bảy đồng) theo khế ước nhận nợ số 2236LDS220000088 và theo khế ước nhận nợ số 2236LDS 220000089.

Tại phiên tòa nguyên đơn rút yêu cầu tính lãi suất quá hạn nên đề nghị hội đồng xét xử xem xét đình chỉ xét xử đối với yêu cầu tính lãi suất quá hạn.

Xét thấy yêu cầu của nguyên đơn là phù hợp với nội dung của hợp đồng tín dụng giữa hai bên, phù hợp với Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, do đó, có cơ sở chấp nhận.

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 317, Điều 318, Điều 463, 466, 468 Bộ luật dân sự 2015; Điều 167, Điều 188 Luật Đất đai 2013; Điều 90, 91, 95 Luật Các tổ chức tín dụng 2010; Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Tại đơn khởi kiện ghi ngày 17/7/2023, Ngân hàng Thương mại cổ phần X yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Củ Chi giải quyết buộc ông Nguyễn Thành H1 trả số tiền gốc và lãi đã vay theo “Hợp đồng tín dụng” mà ông H1 đã ký, đây là quan hệ pháp luật tranh chấp hợp đồng dân sự vay tín dụng theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Bị đơn ông Nguyễn Thành H1 có nơi cư trú tại huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Củ Chi theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

[2] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn ông Nguyễn Thành H1 đã được Toà án tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên toà, giấy triệu tập đương sự đến tham gia phiên tòa nhưng tại phiên toà hôm nay vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

[3] Về thời hiệu khởi kiện: Các đương sự không yêu cầu Toà án áp dụng thời hiệu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

[4.1] Tại phiên tòa, Ngân hàng Thương mại cổ phần X rút lại yêu cầu tính lãi suất quá hạn đối với bị đơn. Do đó, Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử yêu cầu tính lãi suất quá hạn.

[4.2] Xét Ngân hàng Thương mại cổ phần X yêu cầu ông H1 trả Ngân hàng Thương mại cổ phần X tổng cộng 1.421.653.787đ (Một tỷ bốn trăm hai mươi mốt triệu sáu trăm năm mươi ba nghìn bảy trăm tám mươi bảy đồng) của 02 khoản vay theo Hợp đồng tín dụng từng lần số: LAV 220065415-2236 ngày 28/7/2022 cùng với Khế ước nhận nợ số 2236-LDS-220000088 ngày 29/7/2022 và Khế ước nhận nợ số 2236LDS220000089 ngày 29/7/2022. Ngoài ra, ông H1 còn phải chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền chưa thanh toán kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm. Trường hợp ông H1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng Thương mại cổ phần X được quyền yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp là diện tích đất 153,6m² thuộc thửa số 516, tờ bản đồ số 51, thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất vào sổ cấp giấy chứng nhận CH06226 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho bà Nguyễn Thị T1 ngày 15/3/2019 (Nội dung thay đổi và cơ sở pháp lý chuyển nhượng cho ông Nguyễn Thành H1 theo hồ sơ số 008878.CN.004), đất tọa lạc tại xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 158/2022/KIO/HĐTC ngày 28/7/2022, số công chứng 016536, Quyển số 07/2022TP/CC-SCC/HĐGD ngày 28/7/2022 tại Phòng C, Thành phố Hồ Chí Minh; có đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C 28/7/2022.

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ và lời trình bày của đương sự có mặt tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Ngày 28/7/2022, ông Nguyễn Thành H1Ngân hàng Thương mại cổ phần X ký Hợp đồng tín dụng từng lần số: LAV 220065415-2236 ngày 28/7/2022 để vay tiền. Để thực hiện Hợp đồng tín dụng từng lần số: LAV 220065415-2236 ngày 28/7/2022, ngày 29/7/2022, Ngân hàng và ông H1 tiếp tục ký 02 khế ước: Khế ước nhận nợ số: 2236-LDS-220000089 để giải ngân số tiền 780.000.000đ (Bảy trăm tám mươi triệu đồng) và Khế ước nhận nợ số: 2236-LDS-220000088 để giải ngân số tiền 500.000.000đ (Năm trăm triệu đồng), trong 02 khế ước nhận nợ đều thỏa thuận lãi suất cho vay 10,99%/năm, cố định 12 tháng đầu tiên, sau đó lãi suất bằng lãi suất cơ sở + 2,7%/năm, chu kỳ thay đổi lãi suất 03 tháng/01 lần; lãi suất quá hạn 150%; phạt trả nợ gốc trước hạn năm 1: 2%, năm 2: 1,5%, năm 3: 1%, năm 4: 0,5%, từ năm 5: miễn phí.

Khi ký các hợp đồng tín dụng nêu trên, các bên hoàn toàn tự nguyện, hình thức và nội dung hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật nên có giá trị pháp lý làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên được điều chỉnh phù hợp với Luật các tổ chức tín dụng và các quy định của pháp luật liên quan đến hoạt động cho vay tiêu dùng.

Thực hiện hợp đồng tín dụng, ông H1 đã nhận đủ số tiền vay nhưng chỉ thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần X được một khoản tiền. Sau đó, ông H1 không thanh toán bất cứ khoản nào, mặc dù Ngân hàng Thương mại cổ phần X đã nhắc nhở nhiều lần và làm việc vào các ngày 26/4/2023, 04/5/2023, 05/5/2023, 12/5/2023, 15/6/2023, ông H1 cam kết trả tiền nhưng vẫn không thực hiện.

Xét thấy, ông H1 đã không thực hiện nghĩa vụ trả tiền cho Ngân hàng Thương mại cổ phần X trong khoảng thời gian dài kể từ ngày 26/3/2023 cho đến nay. Ông H1 đã vi phạm nghĩa vụ của bên vay theo thỏa thuận tại điểm 7.2 của Phụ lục đính kèm Hợp đồng tín dụng từng lần số: LAV 220065415-2236 ngày 28/7/2022 mà ông H1 đã ký kết với Ngân hàng Thương mại cổ phần X. Việc ông Hiệp c thực hiện nghĩa vụ trả tiền cho Ngân hàng Thương mại cổ phần X đã làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của Ngân hàng Thương mại cổ phần X. Do đó, Ngân hàng Thương mại cổ phần X được quyền yêu cầu thu hồi vốn vay trước thời hạn là có căn cứ theo thỏa thuận các bên đã ký tại điểm 6 của Phụ lục đính kèm của các Hợp đồng tín dụng nêu trên.

[4.3] Xét tính hiệu lực của Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất:

Để đảm bảo cho các khoản vay, ông H1Ngân hàng Thương mại cổ phần X có ký Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 158/2022/KIO/HĐTC ngày 28/7/2022, thế chấp diện tích đất 153,6m² thuộc thửa số 516, tờ bản đồ số 51, thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số vào số cấp GCN: CH06226 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho bà Nguyễn Thị T1 ngày 15/3/2019 (Nội dung thay đổi và cơ sở pháp lý chuyển nhượng cho ông Nguyễn Thành H1 theo hồ sơ số 008878.CN.004), đất tọa lạc tại xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Xét thấy, Hợp đồng thế chấp nêu trên đã được công chứng tại Phòng C, Thành phố Hồ Chí Minh, số công chứng 016536, Quyển số 07/2022TP/CC-SCC/HĐGD ngày 28/7/2022; có đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C ngày 28/7/2022 theo đúng quy định tại các điều 317, 318, 323 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Như vậy, Hợp đồng thế chấp có hiệu lực từ thời điểm giao kết và các bên phải thực hiện quyền, nghĩa vụ đối với nhau theo đúng cam kết.

Thời điểm thế chấp trên đất có xây dựng hàng rào bao quanh đất, trụ xi măng, lưới B40. Ngoài ra, trên đất không có xây dựng công trình kiên cố và công trình phụ nào khác. So với thời điểm Tòa án tiến hành xem xét, thẩm định hiện trạng tại chỗ vào ngày 21/12/2023 thì hiện trạng đất không có gì thay đổi so với thời điểm thế chấp.

Như vậy, trường hợp ông H1 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng Thương mại cổ phần X được quyền yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp là diện tích đất 153,6m² thuộc thửa số 516, tờ bản đồ số 51, thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số vào số cấp GCN: CH06226 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho bà Nguyễn Thị T1 ngày 15/3/2019 (Nội dung thay đổi và cơ sở pháp lý chuyển nhượng cho ông Nguyễn Thành H1 theo hồ sơ số 008878.CN.004), đất tọa lạc tại xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (Trên đất có xây dựng hàng rào bao quanh đất, trụ xi măng, lưới B40).

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại Điều 463, Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015, khoản 2 Điều 3, Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng, các điều 7, 8, 13 của Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm, Án lệ số 08/2016/AL ngày 17/10/2016 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Xét ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên Tòa về việc giải quyết vụ án là hoàn toàn phù hợp quy định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử, Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Về chi phí tố tụng xem xét, thẩm định hiện trạng tại chỗ 7.000.000₫ (Bảy triệu đồng), buộc ông H1 có nghĩa vụ trả lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần X theo Điều 157 của Bộ luật Tố tụng Dân sự do yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần X được chấp nhận.

[6] Về nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm: Do chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng Thương mại cổ phần X nên bị đơn ông H1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền phải thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần X theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 và Luật phí và lệ phí, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; buộc bị đơn phải chịu án phí sơ thâm 54.649.614đ (Năm mươi bôn triệu sáu trăm bốn mươi chín nghìn sáu trăm mười bốn đồng) theo quy định là phù hợp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 146, Điều 227, Điều 228, Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

- Căn cứ vào khoản 2 Điều 3, Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng;

- Căn cứ các điều 299, 317, 318, 323 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Căn cứ vào Điều 6, Điều 7, Điều 26, Điều 30, Điều 31 và Điều 32 của Luật thi hành án dân sự;

- Căn cứ vào Án lệ số 08/2016/AL ngày 17/10/2016 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;

- Căn cứ vào Luật phí và lệ phí, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng Thương mại cổ phần X, buộc ông Nguyễn Thành H1 có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần X tiền vay của Hợp đồng tín dụng từng lần số: LAV 220065415-2236 ngày 28/7/2022 theo Khế ước nhận nợ số: 2236-LDS-220000088 ngày 29/7/2022, tính từ ngày 26/3/2023 đến ngày 24/5/2024: Tiền gốc 483.328.000₫ (Bốn trăm tám mươi ba triệu ba trăm hai mươi tám nghìn đồng), Lãi trong hạn: 65.057.050₫ (Sáu mươi lăm triệu không trăm năm mươi bảy nghìn không trăm năm mươi đồng), Lãi chậm thanh toán: 6.416.955₫ (Sáu triệu bốn trăm mười sáu nghìn chín trăm năm mươi lăm đồng), tổng cộng: 554.802.005đ (Năm trăm năm mươi bốn triệu tám trăm lẻ hai nghìn không trăm lẻ năm đồng); và theo Khế ước nhận nợ số 2236LDS220000089 ngày 29/7/2022, tính từ 26/3/2023 đến ngày 24/5/2024: Tiền gốc: 754.000.000₫ (Bảy trăm năm mươi bốn triệu đồng), Lãi trong hạn: 102.702.022₫ (Một trăm lẻ hai triệu bảy trăm lẻ hai nghìn không trăm hai mươi hai đồng), Lãi chậm thanh toán: 10.149.759₫ (Mười triệu một trăm bốn mươi chín nghìn bảy trăm năm mươi chín đồng), tổng cộng: 866.851.782đ (Tám trăm sáu mươi sáu triệu tám trăm năm mươi mốt nghìn bảy trăm tám mươi hai đồng). Tổng cộng, ông H1 phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần X là 1.421.653.787đ (Một tỷ bốn trăm hai mươi mốt triệu sáu trăm năm mươi ba nghìn bảy trăm tám mươi bảy đồng), trả ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, ông H1 còn phải chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng từng lần số: LAV 220065415-2236 ngày 28/7/2022 theo Khế ước nhận nợ số 2236-LDS-220000088 ngày 29/7/2022 và theo Khế ước nhận nợ số 2236LDS220000089 ngày 29/7/2022 đã ký giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần X và ông H1. Trường hợp trong Hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng Thương mại cổ phần X thì lãi suất sẽ được tiếp tục điều chỉnh tại giai đoạn thi hành án.

Trong trường hợp ông H1 không thanh toán hoặc thanh toán không đúng nghĩa vụ thì Ngân hàng Thương mại cổ phần X có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án xử lý tài sản thế chấp là diện tích đất 153,6m² thuộc thửa số 516, tờ bản đồ số 51, thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số vào số cấp GCN: CH06226 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho bà Nguyễn Thị T1 ngày 15/3/2019 (Nội dung thay đổi và cơ sở pháp lý chuyển nhượng cho ông Nguyễn Thành H1 theo hồ sơ số 008878.CN.004), đất tọa lạc tại xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 158/2022/KIO/HĐTC ngày 28/7/2022, số công chứng 016536, Quyển số 07/2022TP/CC-SCC/HĐGD ngày 28/7/2022 tại Phòng C, Thành phố Hồ Chí Minh; có đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C ngày 28/7/2022. (Trên đất có xây dựng hàng rào bao quanh đất, trụ xi măng, lưới B40).

2. Đình chỉ xét xử yêu cầu tính lãi suất quá hạn của nguyên đơn.

3. Về chi phí tố tụng để tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ: Ông H1 có trách nhiệm trả lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần X số tiền 7.000.000₫ (Bảy triệu đồng).

4. Về án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 54.649.614đ (Năm mươi bốn triệu sáu trăm bốn mươi chín nghìn sáu trăm mười bốn đồng) buộc ông H1 phải chịu.

Hoàn trả lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần X số tiền tạm ứng án phí dân sự đã nộp là 25.194.525₫ (Hai mươi lăm triệu một trăm chín mươi bốn nghìn năm trăm hai mươi lăm đồng) theo biên lai số 0018275 ngày 13/10/2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Củ Chi.

5. Nguyên đơn có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Toà án nhân dân TP. HCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân H.CC;
  • - Các đương sự;
  • - Chi cục THADSH.CC
  • - Lưu: hồ sơ, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Trần Thị Túy Phượng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 260/2024/DS-ST ngày 24/05/2024 của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 260/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger