Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

HUYỆN SÓC SƠN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc



Bản án số: 260/2024/HSST

Ngày: 06/12/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Vân.
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Duy Kiên.
  • Ông Dương Văn Thay.
  • - Thư ký phiên toà: Ông Tô Ngọc Lâm - Thư ký Toà án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tuyết Lan - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 235/2024/TLST-HS ngày 07/11/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 249/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Vũ Thị Ú - Sinh ngày 20/06/1978 tại Thái Nguyên. Giới tính: Nữ. Tên gọi khác: Không. Hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Thôn N, xã B, huyện S, thành phố Hà Nội. Căn cước công dân số: [...]. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Làm ruộng. Trình độ học vấn: 01/12. Họ tên cha: Vũ Văn K (Đã chết). Họ tên mẹ: Vũ Thị N (Đã chết). Họ tên chồng: Trần Văn T, sinh năm 1980 (Đã ly hôn), có 02 con, lớn sinh năm 2002, nhỏ sinh năm 2004. Tiền án: Không. Tiền sự: Không. Tạm giữ: Không. Tạm giam: Không. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. D, chỉ bản số 80 ngày 15/01/2024 của Công an huyện S, thành phố Hà Nội. Có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Nguyễn Trọng V - Công ty L - Đoàn luật sư thành phố H. Có mặt.

Bị hại: Bà Nguyễn Thị Y, sinh năm 1970. Trú tại: Thôn Đ, xã B, huyện S, thành phố Hà Nội. Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Văn T, sinh năm 1980. Trú tại: Thôn N, xã B, huyện S, thành phố Hà Nội. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tối ngày 22/8/2023, ông Trần Văn T (sinh năm 1980, trú tại thôn N, xã B, huyện S, Hà Nội) gọi điện cho bà Nguyễn Thị Y (sinh năm 1970, trú tại thôn Đ, xã B, huyện S, Hà Nội) để hỏi vay 2.000.000 đồng. Bà Y đồng ý cho vay nên ông

T hẹn bà Y sáng ngày 23/8/2023 đến quán bán hàng ăn của bà Nguyễn Thị T1 (sinh năm 1960, tại thôn N, xã B, huyện S) để ăn sáng và đưa tiền cho ông Trần Văn T vay.

Khoảng 09 giờ ngày 23/8/2023, bà Nguyễn Thị Y đến quán nhà bà T1 ăn sáng và đưa cho ông T vay 2.000.000 đồng. Sau khi nhận tiền, ông T đi ra cửa quán thì gặp và đưa tiền cho Vũ Thị Ú (sinh năm 1978, là vợ ông T). Khi Ú cầm tiền, Ú chửi ông T vì phải đi vay tiền đàn bà và chửi bà Y cặp bồ với ông T nên mới cho ông T vay tiền để đi cờ bạc, gái gú. Bà Y không nói gì, bỏ vào phòng khách của quán nhà bà T1 ngồi. Khoảng 30 phút sau, Ú quay lại quán của bà T1, tay phải Vũ Thị Ú cầm 01 con dao phay dài khoảng 40 - 50 cm chém vào ngực ông T gây rách da khoảng 1,5cm. Ông T đứng phía sau Ú, ông T dùng tay phải quàng vào cổ Ú từ phía sau thì bị Ú dùng miệng cắn vào đầu ngón trỏ bàn tay trái. Khi Ú nhả tay ông T ra thì ông T dùng khẩu trang quấn vào vết thương và đi về. Lúc này Ú tiếp tục cầm dao đi vào nhà bà T1 gọi bà Y ra để nói chuyện. Khi bà Y đang ngồi trong phòng khách nhà bà T1 thì bị Ú lao vào, cầm dao ở tay phải vung lên chém nhiều lần về phía bà Y, bà Y giơ hai tay lên đỡ thì trúng vào cẳng tay trái và ngón đeo nhẫn tay trái, tay phải. Bà Y hô hoán thì được mọi người can ngăn. Sau đó, ông T đưa bà Y đến Bệnh viện Đ để sơ cứu và điều trị thương tích.

Đối với thương tích của ông T: Do thương tích nhẹ, ông T không đi khám ở cơ sở y tế nào và từ chối giám định, đồng thời có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Vũ Thị Ú nên không có căn cứ xem xét xử lý.

Tiến hành rà soát camera: Nhà bà T1 không lắp camera; rà soát hình ảnh thu giữ tại camera nhà anh Nguyễn Văn Q (ở gần hiện trường) thể hiện nội dung: Khoảng 10h01'40”ngày 23/8/2023 Vũ Thị Ú đạp xe về nhà lấy dao. Khoảng 10h07’48” Vũ Thị Ú đạp xe mang dao đi; 10h52'37” Út đạp xe mang dao về nhà. Thời gian trên camera trùng với thời gian thực tế.

Kết luận giám định thương tích số 1457 ngày 11/10/2023 của Trung tâm pháp y - Sở Y1 kết luận tổn thương cơ thể của bà Nguyễn Thị Y như sau:

  • + Sẹo vết thương mặt gan đốt 3 ngón IV tay phải: 01%.
  • + Sẹo vết thương mặt gan đốt 2 ngón IV tay phải: 01%.
  • + Vết biến đổi sắc tố da mặt trước 1/3 giữa cánh tay trái: 0,5%.
  • + Sẹo vết thương mặt sau 1/3 giữa cánh tay trái: 01%.
  • + Sẹo vết thương mặt sau nửa dưới cánh tay trái: 02%.
  • + Sẹo vết thương mặt trước ngoài 1/3 giữa cẳng tay trái: 01%.
  • + Các chạm thương khác vùng mặt, ngực hiện không sưng nề, bầm tím, không để lại sẹo: 0%.

Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của bà Nguyễn Thị Y tại thời điểm giám định trong vụ việc ngày 23/8/2023 là 08%. Các thương tích do vật có cạnh sắc gây ra.

Đồ vật, tài liệu thu giữ: 01 con dao phay dài khoảng 42cm, bản rộng nhất khoảng 07cm; phần lưỡi dao dài khoảng 28cm (Vũ Thị Ú dùng để gây thương tích cho bà Nguyễn Thị Y).

Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Bà Y yêu cầu Vũ Thị Ú phải bồi thường thương tích với số tiền 110.000.000 đồng. Đến nay Ú chưa bồi thường đồng nào cho bà Y.

Kết luận giám định số 7130 ngày 27/10/2023 của Phòng K1 -Công an Thành phố H kết luận: Trên dao đầu bằng cán gỗ dài 41cm, phần lưỡi dài 29cm, bản rộng 07cm có dính máu người, có kiểu gen trùng hoàn toàn với kiểu gen của Nguyễn Thị Y.

Kết luận giám định số 224/KLGĐ ngày 05/8/2024 của V1 kết luận tình trạng bệnh đối với Vũ Thị Ú như sau: Trước, trong khi thực hiện hành vi phạm tội và tại thời điểm giám định Vũ Thị Ú bị bệnh Động kinh toàn thể cơn lớn, có biến đổi nhân cách mức độ nhẹ, theo phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 năm 1992 bệnh có mã số G40.6. Tại các thời điểm trên, Vũ Thị Ú đủ khả năng nhận thức, hạn chế khả năng điều khiển hành vi.

Tại phiên tòa:

  • - Bị cáo Vũ Thị Ú thừa nhận hành vi dùng dao gây thương tích cho bà Y. Bị cáo xác định ông Trần Văn T đã bồi thường thay cho bị cáo số tiền viện phí, tiền thuốc của bà Y tại bệnh viện là 8.600.000 đồng và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
  • - Bị hại Nguyễn Thị Y có quan điểm: Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo với mức án tù giam theo quy định của pháp luật. Bị hại yêu cầu bị cáo phải bồi thường thương tích với tổng số tiền là 247.000.000 đồng, sau đó lại có quan điểm đề nghị Toà án giải quyết theo pháp luật và xác nhận ông Trần Văn T đã trả tiền viện phí, tiền mua thuốc theo đơn cho bị hại là 8.600.000 đồng.

Tại cáo trạng số 214/CT-VKS ngày 01/11/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội đã truy tố Vũ Thị Ú về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn giữ quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích nội dung, tính chất của vụ án, một lần nữa khẳng định việc truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật như cáo trạng đã nêu là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Tuyên bố: Bị cáo Vũ Thị Ú phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; điểm b, q, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Vũ Thị Ú với mức án từ 06 đến 09 tháng tù cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng. Giao Vũ Thị Ú cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện S, thành phố Hà Nội giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách bản án.
  • Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 590 Bộ luật Dân sự; các Điều 106; 136; 331; 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016.
  • Về phần bồi thường dân sự: Buộc bị cáo phải có nghĩa vụ bồi thường cho bị hại các khoản tiền có hoá đơn và chi phí hợp lý với số tiền là 20.600.000 đồng. Xác nhận bị cáo đã bồi thường 8.600.000 đồng. Bị cáo còn phải bồi thường tiếp cho bị hại số tiền 12.000.000 đồng.
  • - Về vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ: 01 con dao phay dài 42cm, bản rộng nhất khoảng 07cm; phần lưỡi dao dài khoảng 28cm là hung khí Vũ Thị Ú dùng gây thương tích cho bà Y.
  • - Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
  • - Tại phiên tòa, người bào chữa cho bị cáo phát biểu quan điểm: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; đã bồi thường một phần cho bị hại; khi thực hiện hành vi phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, q, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65; Bộ luật Hình sự cho bị cáo được cải tạo không giam giữ hoặc hưởng mức án thấp nhất và được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

{1} Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Vì vậy, các quyết định, hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

{2} Về nội dung vụ án: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo Vũ Thị Ú khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong quá trình điều tra vụ án. Do đó đủ cơ sở xác định: Do mâu thuẫn ghen tuông, nghi ngờ chồng là ông Trần Văn T có quan hệ tình cảm với bà Nguyễn Thị Y, nên khoảng 09 giờ 00 phút ngày 23/8/2023 tại thôn N, xã B, huyện S, thành phố Hà Nội, Vũ Thị Ú đã dùng 01 con dao phay chém bà Y làm bà Y bị tổn thương cơ thể 08%. Tại các thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, Vũ Thị Ú đủ khả năng nhận thức, nhưng bị hạn chế khả năng điều khiển hành vi.

Vì vậy, đủ cơ sở kết luận bị cáo Vũ Thị Ú phạm tội “Cố ý gây thương tích”, tội và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự, điều khoản này quy định phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

Bản cáo trạng số 214/CT-VKS ngày 01/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội đã truy tố Vũ Thị Ú về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội vì chẳng những đã xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, mà còn gây mất trật tự trị an xã hội trên địa bàn huyện S. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, song do coi thường sức khỏe của người khác và coi thường pháp luật nên bị cáo vẫn cố tình phạm tội. Chính vì vậy cần xử lý bị cáo theo quy định của pháp luật mới có tác dụng giáo dụng riêng và phòng ngừa chung.

{2.1} Về nhân thân và tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, chưa có tiền án, tiền sự.

{2.2} Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải; đã bồi thường một phần cho bị hại. Từ nhiều năm nay bị cáo thường xuyên điều trị bệnh động kinh tại Trung tâm y tế huyện S, có Bệnh án tâm thần theo dõi, được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại tại các điểm b, q, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt và cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội dưới sự giám sát của chính quyền địa phương thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.

Đối với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn và người bào chữa cho bị cáo đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ là phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng thì thấy: Bị cáo dùng hung khí là con dao phay dài 42cm, bản rộng nhất khoảng 07cm; phần lưỡi dao dài khoảng 28cm để gây thương tích cho bà Y, không được đánh giá là thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nên Hội đồng xét xử không áp dụng tình tiết giảm nhẹ là phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.

{3} Về phần bồi thường dân sự: Trong quá trình điều tra, bị hại yêu cầu bị cáo phải bồi thường thương tích với số tiền 110.000.000 đồng nhưng không nêu cụ thể là các khoản tiền gì. Ngày 25/11/2024, bị hại nộp cho Toà án đơn yêu cầu bồi thường, gồm các khoản tiền sau:

  1. Chi phí cho việc cứu chữa, bồi dưỡng phục hồi sức khoẻ = 30.000.000 đồng.
  2. Thu nhập thực tế bị mất 06 tháng do nghỉ không làm được, mỗi tháng 20.000.000 đồng = 120.000.000 đồng.
  3. Chi phí của người chăm sóc 02 tháng = 24.000.000 đồng.
  4. Chi phí của người thường xuyên phải chăm sóc = 30.000.000 đồng.
  5. Tổn thất về tinh thần = 40.000.000 đồng.

Tổng cộng bằng: 244.000.000 đồng (Hai trăm bốn mươi bốn triệu đồng).

Tại phiên toà, bà Nguyễn Thị Y yêu cầu bị cáo phải có nghĩa vụ bồi thường các khoản tiền sau:

  1. Chi phí viện phí và mua thuốc theo đơn = 7.100.000 đồng.
  2. Điều trị tại nhà và tiền ăn = 20.000.000 đồng.
  3. Nghỉ không làm được 04 tháng = 100.000.000 đồng.
  4. Chi phí của người chăm sóc 02 tháng = 24.000.000 đồng.
  1. Giảm thu nhập do sức khoẻ bị ảnh hưởng từ tháng 01 năm 2024 đến tháng 10 năm 2024 = 120.000.000 đồng.

Tổng cộng bằng: 247.000.000 đồng (Hai trăm bốn mươi bẩy triệu đồng).

Sau đó bà Y lại có quan điểm đề nghị Toà án giải quyết theo pháp luật.

Xét thấy: Việc bồi thường thương tích cần căn cứ vào các Điều 584, 585, 590 của Bộ luật Dân sự. Cần buộc bị cáo phải có nghĩa vụ bồi thường cho bà Nguyễn Thị Y các khoản tiền có hoá đơn và các chi phí hợp lý nhưng không có hoá đơn gồm:

  1. Tiền viện phí có hoá đơn (nằm viện từ ngày 23/8/2023 đến ngày 24/8/2023 - 01 ngày), chi phí chụp CT và tiền mua thuốc theo đơn của bác sỹ: 7.100.000 đồng.
  2. Nghỉ không làm được 02 tháng theo mức thu nhập bình quân chung của người dân trên địa bàn xã B, huyện S là: 5.300.000 đồng/tháng = 10.600.000 đồng.
  3. Tổn thất về tinh thần bằng 5 lần mức lương cơ sở: 2.340.000 đồng x 5 lần = 11.700.000.000 đồng.

Tổng cộng bằng: 29.400.000 đồng (Hai mươi chín triệu, bốn trăm nghìn đồng).

Tại phiên toà, bị cáo và bị hại thừa nhận toàn bộ tiền viện phí, tiền mua thuốc theo đơn của bị hại là do ông Trần Văn T chi trả với số tiền 8.600.000 đồng. Như vậy, buộc bị cáo phải bồi thường tiếp số tiền còn thiếu là 20.800.000 đồng

{4} Về vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ: 01 con dao phay dài 42cm, bản rộng nhất khoảng 07cm; phần lưỡi dao dài khoảng 28cm (Ú dùng gây thương tích cho bà Y).

{5} Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật sung vào ngân sách Nhà nước.

{6} Về quyền kháng cáo: Những người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Vũ Thị Ú phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 134; điểm b, q, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Vũ Thị Ú 06 (Sáu) tháng tù cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách là 12 tháng tính từ ngày tuyên án.

Giao Vũ Thị Ú cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện S, thành phố Hà Nội giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách bản án.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

- Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 590 của Bộ luật Dân sự; các Điều 106, 136, 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

  • + Buộc bị cáo Vũ Thị Ú phải có nghĩa vụ bồi thường cho bà Nguyễn Thị Y số tiền 20.800.000 đồng (Hai mươi triệu, tám trăm nghìn đồng).
  • + Tịch thu tiêu huỷ: 01 dao (loại dao phay) có đặc điểm như biên bản tạm giữ (Tình trạng vật chứng như biên bản về việc giao, nhận vật chứng, tài sản ngày 05/11/2024 giữa Công an huyện S và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sóc Sơn).

Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi thi hành án xong khoản tiền phải bồi thường, Vũ Thị Ú còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải bồi thường theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

  • + Về án phí: Vũ Thị Ú phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 1.040.000 đồng (Một triệu, không trăm bốn mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước.

Án xử công khai, sơ thẩm. Bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, bị hại đều có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ và chỉ có quyền kháng cáo về phần tài sản có liên quan.

Vì các lẽ trên.

Nơi nhận:

  • - TANDTP Hà Nội.
  • - VKSNDTP Hà Nội.
  • - VKSND huyện Sóc Sơn.
  • - Những người tham gia tố tụng.
  • - Công an huyện Sóc Sơn.
  • - Chi cục THA huyện Sóc Sơn.
  • - Lưu hồ sơ.

T/M Hội đồng xét xử sơ thẩm

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà




Đỗ Thị Vân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 260/2024/HSST ngày 06/12/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 260/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 06 tháng tù cho hưởng án treo
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger