|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 260/2024/DS-PT
Ngày 04 - 12- 2024
V/v: “Tranh chấp lối đi chung”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Thương
Các Thẩm phán: Ông Cao Minh Vỹ
Ông Cao Xuân Long
Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Vũ Vân Thủy – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Ông Vũ Duyên Trường - Kiểm sát viên
Ngày 04 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 178/2024/TLPT-DS ngày 02 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp lối đi chung”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 65/2024/DS-ST ngày 19 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 320/2024/QĐ-PT ngày 04 tháng 11 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 297/2024/QĐ- PT ngày 27 tháng 11 năm 2024; Quyết định thay đổi người tiến hành tố tụng số 241/2024/QĐPT- DS ngày 03 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc B, sinh năm 1960 (vắng mặt);
- Bị đơn: Ông Trần Văn T, sinh năm 1979 (có mặt) và bà Hoàng Thị Lê D, sinh năm 1980 (vắng mặt);
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Chu Văn S, sinh năm 1962 (có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt) và bà Trần Thị Cẩm V sinh năm 1965 (có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: C L, Phường A, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Người đại diện theo ủy quyền của bà B: Bà Huỳnh Liên Thanh X, sinh năm 1995 (có mặt);
Địa chỉ: 4 K, Phường G, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà B: Ông Huỳnh Chí C – Luật sư thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H (có mặt).
Cùng địa chỉ: A T, Phường E, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Bà D ủy quyền tham gia tố tụng cho ông T.
Cùng địa chỉ: 2 L, phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc B
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại Đơn khởi kiện và quá trình tố tụng, nguyên đơn trình bày:
Bà Nguyễn Thị Ngọc B là chủ sở hữu căn nhà theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BN975600 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 02/11/2017, thửa đất số 116, tờ bản đồ số 15, diện tích 63m², tọa lạc tại số C L, phường A, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Theo hiện trạng và trên Bản mô tả ranh giới mốc giới thửa đất ngày 24/7/2023 do cán bộ đo đạc lập theo yêu cầu của ông Trần Văn T (có sự chứng kiến của cán bộ khu phố 2, các hộ giáp ranh) thể hiện bà B có quyền đối với lối đi chung là hẻm C L, phường A, thành phố V.
Thực tế sử dụng nhà bà B có mở cửa sau ra hẻm 37A này kể từ khi xây dựng nhà theo giấy phép xây dựng được phê duyệt từ năm 1994.
Tuy nhiên, từ tháng 09/2023, ông Trần Văn T là người quản lý sử dụng đối với căn nhà C L, phường A, thành phố V đã cố tình rào chắn làm lối đi riêng đối với hẻm C. Bà B có Đơn kiến nghị gửi Ủy ban nhân dân phường A, thành phố V giải quyết. Theo Biên bản làm việc ngày 20/10/2023 ghi nhận: “Ủy ban nhân dân phường A đề nghị bị đơn dời cổng vào phía trong hoặc giao cho nguyên đơn 01 chìa khóa. Khi ông T hoàn thiện thủ tục về đất đai và được cơ quan nhà nước công nhận quyền sử dụng lối đi này thì ông T sử dụng riêng phần lối đi này. Trường hợp các bên vẫn không thỏa thuận được việc sử dụng phần hẻm này thì đề nghị các bên liên hệ Tòa án để giải quyết”.
Từ đó, bà B cho rằng hành vi của ông T đã xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của bà B đối với lối đi chung là hẻm C L, phường A, thành phố V. Đồng thời hành vi này còn vi phạm pháp luật, đe dọa đến an toàn tính mạng con người sinh sống tại căn nhà số C nếu có cháy nổ xảy ra và những thiệt hại khác.
Bà Nguyễn Thị Ngọc B yêu cầu công nhận hẻm C L, phường A, thành phố V là lối đi chung và bà B có quyền đối với lối đi chung theo quy định của pháp luật.
Tại phiên hòa giải B yêu cầu ông T tháo dỡ cổng lối đi chung để bảo đảm an toàn cho các hộ sử dụng chung.
Bà B đề nghị Tòa đưa ông Chu Văn S tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, không đồng ý ông S tham gia tố tụng với tư cách là người làm chứng.
Mặt khác, bà B sẽ khởi kiện vụ án khác yêu cầu bị đơn bồi thường thiệt hại trong thời gian ông T chiếm quyền sở hữu chung đối với con hẻm chung.
-Bị đơn ông Trần Văn T và bà Hoàng Thị Lê D trình bày:
Vợ chồng ông Trần Văn T bà Hoàng Thị Lê D nhận chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 390, tờ bản đồ số 04 với diện tích 91,6m²; trên đất có nhà ở với diện tích xây dựng 91,6m² từ vợ chồng ông Chu Văn S bà Trần Thị Cẩm V vào tháng 6/2023. Căn nhà có địa chỉ cũ là B L, phường A, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, nay mang số mới là C L, phường A, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Tại thời điểm chuyển nhượng hiện trạng căn nhà có sân và lối đi ra đường L kích thước 1,4x10m. Đây là phần diện tích đất lối vào nhà, nằm giữa 02 căn nhà mặt tiền số 37 và số C đường L. Phía đường L có cổng sắt.
Theo ý kiến của các hộ gia đình là chủ cũ của các thửa đất thì trước đây khi chưa làm đường L thì đây là lối đi chung của các hộ số 37A, 37 Lê Quý Đ. Sau khi hộ số 37 Lê Quý Đ được cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì giữa các hộ đã có thỏa thuận về hoán đổi ranh giới. Từ thời điểm đó lối đi này chỉ còn là lối đi của căn nhà số C L và trên thực tế đây là mảnh đất liền thửa, lối đi duy nhất, không thể tách rời với thửa đất của gia đình ông T, bà D. Lối đi này hiện nay kết nối trực tiếp với nhà của gia đình ông T, bà D và là một phần sân nhà của ông bà (Đính kèm tường trình của ông S-chủ cũ nhà đất 37A Lê Quý Đ).
Trong quá trình sử dụng, bà V (vợ ông S- chủ cũ nhà 37A Lê Quý Đ) và bà B (chủ nhà 39 L) đã có cam kết: Bà B sẽ không sử dụng phần sân bên nhà 37A Lê Quý Đ.
Do đó, vợ chồng ông T, bà D không đồng ý để nhà số C sử dụng lối đi của nhà 37A, không mở cửa tạo lối đi ra đường L vì như vậy sẽ trực tiếp ảnh hưởng tới sự riêng tư trong sinh hoạt và mất an ninh, an toàn của gia đình ông T, bà D. Căn nhà 39 Lê Quý Đ do bà B hiện là chủ sở hữu đã có lối đi là mặt tiền đường L, việc duy trì cổng hiện tại của nhà ông T không ảnh hưởng đến sinh hoạt của nhà 39 Lê Quý Đ.
Đồng thời căn cứ trên tình hình thực tế sử dụng đất và hiện trạng các thửa đất, đề nghị Tòa án kiến nghị các cơ quan có thẩm quyền xác định cụ thể ranh giới giáp ranh đất các hộ liền kề và cho gia đình ông T, bà D được cấp bổ sung có thu tiền phần diện tích đất liền kề với thửa đất gia đình ông T đang sử dụng (phần sân và lối đi) để tiện cho việc sử dụng và tránh tranh chấp về sau.
- Ông Chu Văn S trình bày:
Căn nhà số C L, phường A, Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu trước khi nhà nước bán hóa giá có số nhà B D, phường A, Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và lối đi đang tranh chấp giữa các đương sự là con đường độc đạo của nhà 22 D. Nhà kế bên có số cũ là 20 D (nay là số C L) có hợp ranh với nhà 22 D để mở rộng đường đi và 02 nhà đi chung nên trên giấy tờ đất của nhà 37A Lê Quý Đ có ghi hẻm nguyên nhân là vậy. Sau này nhà số C L bán cho chủ mới, chủ mới không muốn đi chung nên đã đo ranh giới lại riêng biệt giữa 02 nhà.
Nhà số C L, phường A, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu không liên quan gì về con đường đi của nhà 37A Lê Quý Đ. Sau này, nhà 39 Lê Quý Đ bán qua nhiều chủ và các chủ này vẫn không sử dụng con đường đó để đi.
Đến khi bà B mua nhà 39 L thì quá trình sử dụng, bà B muốn làm cửa sổ thông thoáng mở ra đất nhà ông S nên ngày 08/01/2020 vợ ông S là bà V cùng với bà B làm bản cam kết cho bà B “lắp cửa cố định thông qua phần sân nhà bà V, bà B cam kết không mở cửa, không sử dụng phần sân nhà bà V...”.
Sau này bà B ngộ nhận diện tích đất này là lối đi nên xảy ra tranh chấp.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 65/2024/DS-ST ngày 19 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, đã tuyên xử:
Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ngọc B đối với ông Trần Văn T, bà Hoàng Thị Lê D về “Tranh chấp lối đi”
Kiến nghị cơ quan có thẩm quyền giao cho gia đình ông Trần Văn T và bà Hoàng Thị Lê D diện tích đất 18,6m², tọa độ (5,6,21,19,20,5) theo Sơ đồ vị trí do Trung tâm Kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường tỉnh B lập ngày 05 tháng 4 năm 2024; ông Trần Văn T và bà Hoàng Thị Lê D được cấp bổ sung diện tích đất trên có thu tiền sử dụng đất theo quy định.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 25-6-2024, bà Nguyễn Thị Ngọc B nộp đơn kháng cáo bản án sơ thẩm, yêu cầu cấp phúc thẩm hủy toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại cấp phúc thẩm:
Nguyên đơn bà B giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo.
Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
-Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu về việc giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bà B nộp trong thời hạn luật định. Những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng và đầy đủ trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định. Những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng.
Về nội dung: Bản án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà B là có cơ sở, tuy nhiên tại phần Quyết định của Bản án có tuyên nội dung “Kiến nghị cơ quan có thẩm quyền giao cho gia đình ông Trần Văn T và bà Hoàng Thị Lê D diện tích đất 18,6m², tọa độ (5,6,21,19,20,5) theo Sơ đồ vị trí do Trung tâm Kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường tỉnh B lập ngày 05 tháng 4 năm 2024; ông Trần Văn T và bà Hoàng Thị Lê D được cấp bổ sung diện tích đất trên có thu tiền sử dụng đất theo quy định” là không phù hợp với quy định pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm theo hướng không tuyên nội dung trên vào trong phần Quyết định của Bản án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, trên cơ sở kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Đơn kháng cáo của bà Nguyễn Thị Ngọc B nộp trong thời hạn luật định nên được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[1.2] Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Chu Văn S và bà Trần Thị Cẩm V có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Khoản 2 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, xử vắng mặt ông S và bà V.
[2] Xét yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị Ngọc B:
Bà B kháng cáo yêu cầu hủy bản án sơ thẩm. Hội đồng xét xử xem xét lại yêu cầu khởi kiện của bà B:
[2.1] Đối với yêu cầu công nhận diện tích đất 18,6m² nằm ở các điểm 5-20-19-21-6-5 gồm thửa 131 và một phần thửa 117, theo Sơ đồ vị trí do Trung tâm Kỹ thuật Tài nguyên & Môi trường tỉnh B lập ngày 05-4-2024 là lối đi chung thì thấy:
[2.1.1] Bà B là chủ sử dụng diện tích đất 63m² thuộc thửa 116, tờ bản đồ số 15, phường A, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BN 975600 do Sở Tài nguyên & Môi trường tỉnh B cấp ngày 02-11-2017.
[2.1.2] Ông Trần Văn T và bà Hoàng Thị Lê D là chủ sử dụng diện tích đất 91,6m² thuộc thửa 117 (số cũ 390), tờ bản đồ số 15 (số cũ 04), phường A, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, theo giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất số do Ủy ban nhân dân tỉnh B cấp cho ông Chu Văn S và bà Trần Thị Cẩm V vào ngày 11-8-1999, chuyển dịch quyền sử dụng cho ông T và bà D ngày 26-6-2023.
Xét về nguồn gốc: Ngày 10-01-1992, Ủy ban nhân dân tỉnh B phê duyệt bán hóa giá nhà 22 (nay là số C) đường L, phường A, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu cho ông S. Theo giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở nêu trên thì ông S bà V được cấp với diện tích xây dựng nhà ở và diện tích đất ở là 91,6m².
Căn cứ vào tài liệu chứng cứ do Sở Xây dựng tỉnh B, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Vvà Ủy ban nhân dân phường A, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu cung cấp thì sơ đồ vị trí trong giấy chứng nhận cấp cho ông S bà V (nay là ông T bà D) thể hiện dẫn vào nhà ông T bà D là “hẻm r=1,6m”. Sơ đồ nhà hóa giá xin chủ quyền, các bản đồ giải thửa năm 1993, 2002 đều thể hiện trên hình thể có diện tích đất dẫn vào thửa 117.
Theo kết quả xác minh của Tòa án cấp phúc thẩm tại Ủy ban nhân dân phường A, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu thì phần diện tích lối đi đang tranh chấp được ông S đăng ký trong số mục kê vào năm 2002 và 2015, tuy nhiên chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông S hay bất cứ ai. Ông S bà V, ông T bà D đều chưa được giao quản lý đối với phần diện tích đất này. Đây vẫn là đất công do nhà nước quản lý.
Như vậy có căn cứ để xác định phần lối đi đang tranh chấp là đất công do nhà nước quản lý, chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ai nên không phải là lối đi riêng của bất cứ cá nhân, hộ gia đình nào, ai cũng có quyền đi lại trên phần diện tích đất này. Nhà nước vẫn đang quản lý diện tích đất công này nên việc bà B yêu cầu công nhận là lối đi chung là không phù hợp. Cấp sơ thẩm không chấp nhận phần yêu cầu này của bà B là có cơ sở. Tuy nhiên Bản án sơ thẩm kiến nghị cơ quan có thẩm quyền giao cho gia đình ông T và bà D diện tích đất 18,6m², ông T và bà D được cấp bổ sung diện tích đất trên có thu tiền sử dụng đất là không phù hợp quy định của pháp luật.
[2.2] Đối với yêu cầu của bà B v/v tháo dỡ cổng rào trên diện tích lối đi thì thấy:
[2.2.1] Bà B khẳng định từ trước khi bà nhận chuyển nhượng diện tích đất thửa 116 thì chủ sử dụng đất trước đây vẫn đi lại sử dụng lối đi này. Khi bà nhận chuyển nhượng đất vào năm 2011 thì cũng trổ cửa hông đi ra lối đi mà không có sự tranh chấp từ ai. Đến năm 2023 khi ông T bà D nhận chuyển nhượng thửa đất 117 đã khóa cổng rào trên lối đi tranh chấp như hiện nay.
[2.2.2] Về phía ông T bà D cũng thừa nhận ông S là người làm và khóa cổng sắt. Khi ông bà nhận chuyển nhượng vào năm 2023 thì nhận toàn bộ hiện trạng từ ông S bà V, tiếp tục khóa cổng sắt này. Nay ông T bà D vẫn xác định không đồng ý tháo dỡ cổng sắt cho bà B sử dụng làm lối đi.
Như đã nhận định bên trên, phần diện tích đất đang tranh chấp là diện tích đất công do nhà nước quản lý, chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cá nhân nào, nên việc ông S bà V và nay là ông T bà D tự ý lắp, khóa cổng sắt trên phần đất là đã lấn chiếm lối đi công cộng, gây cản trở cho việc đi lại của cá nhân, hộ gia đình bà B, xâm phạm đến quyền sử dụng lối đi chung, lối đi công cộng do nhà nước quản lý.
Từ phân tích trên có căn cứ xác định quyền đi lại sử dụng lối đi chung của bà B, nay bà yêu cầu ông T bà D phải tháo dỡ cổng sắt để trả lại lối đi chung là có cơ sở chấp nhận. Cấp sơ thẩm không chấp nhận phần yêu cầu khởi kiện này của bà B là không phù hợp với quy định của pháp luật. Do vậy, cần chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bà B, sửa bản án sơ thẩm, buộc ông T bà D tháo dỡ cổng sắt để trả lại lối đi chung là phù hợp.
[3] Về án phí:
- Án phí dân sự sơ thẩm: Ông T bà D phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng.
-Án phí dân sự phúc thẩm: Bà B thuộc trường hợp được miễn nộp tạm ứng án phí, án phí do là người cao tuổi.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 2 Điều 308 và Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự, chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị Ngọc B; sửa bản án sơ thẩm số 65/2024/DS- ST ngày 19-6-2024 của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, như sau:
Căn cứ vào Khoản 9 Điều 26; Điều 39; Điều 227, Điều 228, Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 170 Luật Đất đai; Điều 26, Điều 29 Nghị quyết số 326/2026/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Tuyên xử:
- Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ngọc B đối với ông Trần Văn T và bà Hoàng Thị Lê D v/v công nhận diện tích đất 18,6m² theo Sơ đồ vị trí do Trung Tâm Kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường tỉnh B lập ngày 05-4-2024 là lối đi chung.
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ngọc B đối với ông Trần Văn T và bà Hoàng Thị Lê D v/v yêu cầu ông Trần Văn T bà Hoàng Thị Lê D tháo dỡ cổng sắt trên diện tích đất 18,6m² để trả lại lối đi chung.
- Chi phí tố tụng tại cấp sơ thẩm là: 9.600.000 (chín triệu sáu trăm nghìn) đồng và tại cấp phúc thẩm là 2.727.000 (hai triệu bảy trăm hai mươi bảy nghìn) đồng, ông Trần Văn T và bà Hoàng Thị Lê D phải chịu. Do bà Nguyễn Thị Ngọc B đã nộp trước nên ông Trần Văn T bà Hoàng Thị Lê D phải trả lại cho bà Nguyễn Thị Ngọc B các số tiền này.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Về án phí dân sự phúc thẩm:
- Bản án có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 04-12-2024).
Buộc ông Trần Văn T và bà Hoàng Thị Lê D phải tháo dỡ cổng sắt màu đen có chiều cao khoảng 2m nằm trên diện tích đất 18,6m² tại các điểm 5-20- 19-21-6-5 theo Sơ đồ vị trí do Trung Tâm Kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường tỉnh B lập ngày 05-4-2024 (kèm theo bản án) để trả lại lối đi công cộng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải trả cho bên được thi hành án khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất theo quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
Ông Trần Văn T và bà Hoàng Thị Lê D phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng.
Bà Nguyễn Thị Ngọc B thuộc trường hợp được miễn nộp tạm ứng án phí, án phí do là người cao tuổi.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thị Thương |
Bản án số 260/2024/DS-PT ngày 04/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về tranh chấp lối đi chung
- Số bản án: 260/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp lối đi chung
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 04/12/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Sửa bản án sơ thẩm
