|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 260/2024/HS-ST Ngày 03-12-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đình Hưởng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Tống Văn Tâm;
2/ Ông Huỳnh Sơn Tây.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Phương Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Trương Văn Thế - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 267/2024/TLST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 291/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
1/ Trương Bon E, sinh năm 1988; nơi sinh: Kiên Giang; nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện G, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: Lớp 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Quí C và bà Huỳnh Thị N; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 22/01/2007, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh K ra Quyết định về việc áp dụng biện pháp đưa vào Cơ sở giáo dục số 103/QĐ-UB(NC) thời gian 24 tháng; ngày 11/11/2010, Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xử phạt 18 tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ” tại Bản án số 198/2010/HSPT; bị bắt tạm giữ từ ngày 11/4/2024, sau đó tạm giam cho đến nay; có mặt.
2/ Nguyễn Chí H, sinh năm 2002; nơi sinh: An Giang; nơi cư trú: Ấp H, xã P, huyện P, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Hoà hảo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn V và bà Dương Thị Ngọc M; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ từ ngày 10/4/2024, sau đó tạm giam cho đến nay; có mặt.
Bị hại: Ông Nguyễn Ngọc Á, sinh năm 1990; nơi cư trú: Thôn H, xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 10/4/2024, sau khi đi chơi tại khu vực vòng xoay A thuộc phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương, Trương Bon E điều khiển xe mô tô biển số 52L7-6461 chở Nguyễn Chí H đi về nhà trọ của H tại phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Trên đường về, thì Em rủ H đi tìm trộm xe mô tô của người dân để sơ hở nhằm mục đích bán lấy tiền tiêu xài, H đồng ý. Sau đó, E điều khiển xe chở H đến khu vực cầu K thuộc phường K, thành phố T để tìm xe mô tô. Khi E và H đi ngang qua quán phở L tại đường L thuộc khu phố K, phường K, thành phố T thì H nhìn thấy xe mô tô biển số 47N9-4861 của ông Nguyễn Ngọc Á đang dựng trước quán phở, chìa khóa vẫn còn cắm trên ổ khóa nên cả hai nảy sinh ý định lấy trộm xe mô tô của ông Á. Thực hiện ý định, E dừng xe cách quán phở khoảng 20 mét rồi đứng chờ, còn H đi lại đẩy xe mô tô này về hướng của Em, khi đẩy xe đi được khoảng 2 mét thì H ngồi lên xe rồi đề máy nhưng không nổ, lúc này ông Á đứng trong quán phở phát hiện H lấy trộm xe của mình nên tri hô, đồng thời chạy lại bắt giữ H, cùng lúc đó Công an phường K tuần tra đến khu vực trên, nghe tiếng tri hô của ông Á nên phối hợp bắt giữ H rồi đưa về trụ sở để làm việc, còn E bỏ chạy thoát. Qua làm việc, H đã khai nhận cùng Em hành vi trộm cắp xe mô tô biển số 47N9-4861. Công an phường K tiến hành mời Em về trụ sở làm việc, tại Cơ quan Công an, E khai nhận cùng H trộm cắp xe mô tô biển số 47N9-4861.
Công an phường K tạm giữ: xe mô tô biển số 47N9-4861 của ông Nguyễn Ngọc Á; xe mô tô biển số 52L7-6461; điện thoại di động Oppo màu xanh và Căn cước công dân tên Trương Bon E; điện thoại di động Iphone SE màu xám của Nguyễn Chí H.
Sau khi xác lập hồ sơ ban đầu, Công an phường K tiến hành bàn giao Em, H cùng hồ sơ cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T giải quyết theo thẩm quyền.
Tại Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 57/KLTS-TTHS ngày 17 tháng 4 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản thành phố T xác định xe mô tô biển số 47N9-4861 tại thời điểm bị chiếm đoạt trị giá 8.167.000 đồng.
Xe mô tô biển số 47N9-4861, số máy 5B94-002941, số khung RLCJ5B9407Y002491 do ông Nguyễn Ngọc Ầ là cha ruột của ông Nguyễn Ngọc Á đứng tên chủ sở hữu. Ngày 19/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T ra Quyết định xử lý vật chứng số 236 trả lại xe mô tô trên cho ông Nguyễn Ngọc Á.
Xe mô tô biển số 52L7-6461, số máy 103696239, số khung 1000000002429 do ông Trần Bội C1 đứng tên chủ sở hữu. Trương Bon E khai nhận xe mô tô trên được Em mua vào đầu tháng 4/2024 với giá 1.300.000 đồng nhưng không làm giấy tờ mua bán. Qua kiểm tra, xe mô tô biển số 52L7-6461 không có trong cơ sở dữ liệu vật chưng.
Về vấn đề dân sự: ông Nguyễn Ngọc Á không yêu cầu bồi thường.
Bản Cáo trạng số 285/CT-VKSTU ngày 30/10/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương truy tố các bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
- - Xử phạt bị cáo Trương Bon E từ 01 năm 06 tháng tù đến 02 năm tù.
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Chí H từ 09 tháng tù đến 01 năm tù.
Các bị cáo không có ý kiến tranh luận. Trong phần trình bày lời nói sau cùng các bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, rất hối hận, ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Về việc vắng mặt của bị hại: Bị hại vắng mặt tại phiên tòa tuy nhiên đã có lời khai tại quá trình điều tra, việc vắng mặt của bị hại không ảnh hưởng việc xét xử. Căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, xét xử vắng mặt bị hại.
[3] Về cấu thành tội phạm: Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, thống nhất lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp lời khai của bị hại. Do đó có đủ cơ sở xác định ngày 10/4/2024, tại khu K, phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương, Trương Bon E và Nguyễn Chí H có hành vi lén lút chiếm đoạt của ông Nguyễn Ngọc Á xe mô tô biển số 47N9-4861 trị giá 8.167.000 đồng. Các bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vì động cơ tư lợi, cùng thái độ coi thường pháp luật mà cố ý thực hiện. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu của người khác được pháp luật bảo vệ. Do vậy, hành vi của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[4] Về vai trò đồng phạm: Các bị cáo đồng phạm nhưng là đồng phạm giản đơn, trong đó bị cáo Trương Bon E là người khởi xướng và sử dụng xe mô tô của mình trở bị cáo H đi tìm tài sản sơ hở để chiếm đoạt, do đó bị cáo Trương Bon E chịu trách nhiệm hình sự cao hơn bị cáo Nguyễn Chí H.
[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo Nguyễn Chí H phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo để các bị cáo thấy được chính sách khoan hồng của Nhà nước mà yên tâm cải tạo trở thành công dân có ích cho xã hội.
[7] Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo Trương Bon E có nhân thân xấu, đã từng bị đưa vào cơ sở giao dục và bị kết án tù, bị cáo Nguyễn Chí H lần đầu phạm tội.
[8] Về mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Xét thấy mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo trên cơ sở đã cân nhắc tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo.
[9] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu nào khác, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[10] Về xử lý vật chứng: Xe mô tô biển số 52L7-6461 là phương tiện phạm tội, cần tịch thu xung ngân sách Nhà nước; đối với điện thoại di động, căn cước công dân không liên quan hành vi phạm tội, cần trả lại cho các bị cáo.
[11] Về án phí sơ thẩm: Các bị cáo phạm tội và bị kết án nên phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố các bị cáo Trương Bon E và Nguyễn Chí H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
1. Về trách nhiệm hình sự:
1.1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 17, Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Trương Bon E 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/4/2024.
1.2. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 17, Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Chí H 01 (Một) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10/4/2024.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điều 48 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- - Tịch thu xung ngân sách Nhà nước: Xe mô tô Wave màu đỏ biển số 52L7-6461 số khung VTMPCJ102YT030689.
- - Trả lại cho bị cáo Trương Bon E: Điện thoại di dộng Oppo màu xanh và Căn cước công dân tên Trương Bon E.
- - Trả lại cho bị cáo Nguyễn Chí H: Điện thoại di động Iphone SE màu xám.
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 02/12/2024)
3. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Đình Hưởng |
Bản án số 260/2024/HS-ST ngày 03/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về hình sự - trộm cắp tài sản
- Số bản án: 260/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
