TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG Bản án số: 260/2024/HS-ST Ngày 07-11-2024 | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Đức Hoàng
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Phạm Thị Thanh Hiên
Bà Hà Thị Nga
- Thư ký phiên tòa: Bà Lưu Hoàng Hải Bình - Thư ký Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Lan Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 231/2024/TLST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 933/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 10 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Phạm Tiến H, sinh năm 1990 tại Hồ N. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số I L, phường C, quận N, thành phố Hải Phòng; nơi sinh sống: Số E L, phường C, quận N, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Hải M và bà Vũ Thị Kim T; có vợ là Nguyễn Thị V và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ ngày 18/10/2023; tạm giam ngày 24/10/2023; có mặt.
2. Nguyễn Thị V, sinh năm 1990 tại Hải Phòng. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số I L, phường C, quận N, thành phố Hải Phòng; nơi sinh sống: Số E L, phường C, quận N, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa:12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn K và bà Lê Thị H1; có chồng là Phạm Văn H2 và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Bản án số 104/2024/HS-ST ngày 24/5/2024, Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xử phạt 18 tháng tù về tội Tổ chức đánh bạc; bị tạm giữ ngày 17/10/2023; tạm giam ngày 26/10/2023 theo Lệnh tạm giam số 263/LTG-CSĐT của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận N; đến ngày 08/7/2024 tạm giam theo Lệnh tạm giam số 570/LTG-CSĐT của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận L tại Trại tạm giam Công an thành phố H; có mặt.
3. Nguyễn Mạnh T1, sinh năm 1994 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Số F Miếu H, phường D, quận L, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn K1 và bà Vũ Thị Thúy N; có vợ là Đỗ Thị Thùy T2 (đã ly hôn) và có 01 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ ngày 18/10/2023; tạm giam ngày 24/10/2023; có mặt.
4. Nguyễn Anh Đ, sinh năm 1983 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Số B P, phường C, quận N, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Quang H3 và bà Đỗ Thị L; chưa có vợ con; tiền sự: Không; tiền án: Có 02 tiền án chưa được xóa án tích: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 48/HSST ngày 25/02/2003 Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng và Bản án phúc thẩm số 1089/HSPT ngày 24/7/2003 của Tòa phúc thẩm tại Hà Nội Tòa án nhân dân tối cao xử 01 năm tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, 06 năm tù về tội Cố ý gây thương tích, tổng hợp hình phạt là 07 năm tù (chưa thi hành phần bồi thường dân sự cho các bị hại); tại Bản án hình sự sơ thẩm số 231/HSST ngày 13/8/2004 Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng và Bản án phúc thẩm số 1881/PTHS ngày 24/11/2004 của Tòa phúc thẩm tại Hà Nội Tòa án nhân dân tối cao xử 16 năm tù về tội Giết người, tổng hợp hình phạt với Bản án phúc thẩm số 1089/HSPT ngày 24/7/2003 của Tòa phúc thẩm tại Hà Nội Tòa án nhân dân tối cao, hình phạt chung là 23 năm tù (chưa thi hành phần bồi thường dân sự cho gia đình bị hại); bị tạm giữ ngày 29/5/2024; tạm giam 07/6/2024; có mặt .
* Người làm chứng: Nguyễn Tân Đ1; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Ngày 16/10/2023, Phạm Tiến H và Nguyễn Thị V (là vợ của H) có nhờ Nguyễn Mạnh T1, sinh năm 1994 (nơi cư trú: Số F Miếu H, phường D, quận L, thành phố Hải Phòng); Nguyễn Tân Đ1, sinh năm 1983 (nơi cư trú: Số A Chợ C, phường T, quận L, thành phố Hải Phòng); Nguyễn Anh Đ, sinh năm 1983 (nơi thường trú: Số B P, phường C, quận N, thành phố Hải Phòng) và nam giới tên V1 (chưa xác định được căn cước lai lịch) đến cửa hàng của Phạm Tiến H (địa chỉ: Số B L, phường H, quận L, thành phố Hải Phòng) để phụ giúp việc kiểm kê hàng hóa.
Vào khoảng 23h00' cùng ngày, H nảy sinh ý định mua ma túy cho mọi người cùng sử dụng, nên H liên hệ mua 02 gam ma tuý Ketamine và 01 gói nước vui với giá 1.000.000 đồng/01 gam ma túy Ketamine và 2.500.000 đồng/01 gói nước vui của một nữ giới tên “Nấm” qua tài khoản Facebook “Nấm Mario”, hẹn giao dịch tại quán bán quần áo của H, tiền mua ma túy H sẽ trả sau. Một lúc sau, “Nấm” đến quán, đưa cho H 01 hộp giấy bên trong có chứa ma túy. H mang hộp giấy chứa ma túy vào nhà cất trong tủ kính tại tầng 01 của quán. Trong quá trình cả nhóm đang phụ giúp việc kiểm tra hàng hóa, H nói với mọi người: “Đồ để trong tủ kính” (ý của H là ma túy để trong tủ kính) nhưng không ai nói gì. V là người nhìn thấy hộp giấy chứa ma túy H cất ở tủ kính và chủ động kiểm tra trong hộp giấy thấy 02 túi ma túy Ketamine và 01 gói nước vui. Đến khoảng 02h00' ngày 17/10/2023, V có bảo T1 lấy đĩa sứ để đánh Ketamine sử dụng. T1 đi vào trong nhà lấy 01 đĩa sứ đưa cho V, V cầm đĩa sứ lau khô, lấy 01 túi Ketamine ở trong hộp giấy đổ ra đĩa rồi dùng thẻ nhựa có sẵn trên bàn máy tính đánh mịn số Ketamine trên đĩa. Sau đó, V lấy ống hút được cuộn bằng tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng ở dưới ngăn bàn mang lên để mọi người sử dụng. Một lúc sau, V lấy gói nước vui trong hộp giấy pha vào trong bát sứ màu trắng. V pha xong nước vui mời Đ, Đ1 sử dụng rồi sau đó H, V, Đ1, T1, Đ, V1 tiếp tục kiểm kê hàng hóa và cùng nhau sử dụng ma túy. Trong lúc kiểm hàng, Đ bảo V rủ Đoàn Bảo N1, sinh năm 1999 (nơi thường trú: Số I T, phường S, quận H, thành phố Hải Phòng) đến quán chơi bài. V liên hệ cho N1 qua ứng dụng Messenger và được N1 đồng ý. Khoảng 30 phút sau, N1 đến quán cùng V, H, V1, N1, Đ ngồi đánh bài và cùng nhau sử dụng ma túy.
Đến khoảng 05h00' ngày 17/10/2023, sau khi sử dụng hết ma túy, Nguyễn Văn Đ2 khởi xướng rủ H, V1, N1 và cùng nhau thống nhất sẽ mua thêm 02 gam ma túy Ketamine; 01 gói nước vui về sử dụng tiếp. N1 là người gọi điện đặt mua ma túy và thông báo cho mọi người giá 01 gói nước vui giá 3.000.000 đồng, ma túy Ketamine giá 1.000.000 đồng/01 gam. N1 bảo Đ2 chuyển tiền cho N1 để thanh toán tiền mua ma túy, Đ2 có chuyển khoản cho N1 số tiền 5.000.000 đồng. Đến 07h50' ngày 17/10/2023, N1 nghe điện thoại rồi bảo T1 ra mở cửa thì có một người mang đến để bên ngoài cửa 02 lon bò húc cùng 01 hộp giấy bên trong có 01 lọ ma túy nước vui và 02 túi nilon đựng Ketamine. T1 cầm 02 lon bò húc cùng hộp giấy chứa ma túy vào trong nhà để ở trên bàn máy tính. T1 đi ra tủ kính phía trước bàn máy tính tìm được 01 tờ tiền 1.000 đồng, sau đó đổ Ketamine từ túi nilon vừa để ở trên bàn trước đó lên tờ tiền rồi dùng bật lửa gas hơ nóng tờ tiền. Sau đó, T1 dùng ống hút sử dụng Ketamine trên tờ tiền. Sử dụng xong T1 gói Ketamine lại trong tờ tiền rồi để tờ tiền trên mặt bàn máy tính cho mọi người cùng sử dụng. Lúc này, V bảo T1 đi đổ nước bò húc vào bát sứ. T1 lấy bát sứ đựng nước vui đã sử dụng trước đó, mang vào trong nhà rửa sạch rồi đổ 01 lon nước bò húc vào bát sứ và cầm bát sứ cùng 01 lon bò húc ra đưa cho V. V nhận bát sứ, đổ lọ ma túy nước vui vào bát ngoáy đều lên cùng nước bò húc. Pha xong ma túy, V cùng mọi người tiếp tục ngồi đánh bài và cùng nhau sử dụng ma túy. Chơi bài xong H và V1 đưa cho Đ2 1.800.000 đồng là tiền góp mua ma túy. Sau đó, Đ2, V1, N1, V đi về, còn H, Đ1, T1 ở lại quán nghe nhạc và sử dụng ma túy.
Hồi 18 giờ 30 phút ngày 17/10/2023, Công an phường H, quận L, Hải Phòng kết hợp Công an quận N, Hải Phòng tiến hành xác minh kiểm tra quán bán hàng tại địa chỉ số B L, phường H, quận L, thành phố Hải Phòng đối với Nguyễn Thị V (vợ của Phạm Tiến H). Quá trình kiểm tra, tại tầng 1 nhà số B L, phường H, quận L, thành phố Hải Phòng có 03 nam giới gồm Phạm Tiến H, Nguyễn Mạnh T1 và Nguyễn Tân Đ1. Quá trình kiểm tra đã phát hiện, thu giữ trên mặt bàn máy tính 01 tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng có bám dính chất bột màu trắng (Mẫu số 1), 01 túi nilon màu trắng mép viền cam có bám dính chất bột màu trắng (Mẫu số 2). Thu giữ trên sàn nhà, dưới gầm giá để đồ có 01 đĩa sứ màu trắng đường kính 23cm, bên trên đĩa có chất bột màu trắng nghi là ma túy; 01 ống hút được cuộn bằng tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng, 01 tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng, 01 tờ giấy in chữ nước ngoài dạng tiền, 01 thẻ nhựa màu đen đều bám dính chất bột màu trắng. Lực lượng Công an cho đĩa sứ, tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng, tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng, tờ giấy in chữ nước ngoài dạng tiền, thẻ nhựa màu đen đều bám dính chất bột màu trắng vào trong 01 túi nilon (Mẫu số 3); đối với chất bột màu trắng trên đĩa sứ cho vào trong 01 túi nilon màu trắng (Mẫu số 4).
Căn cứ vào các tài liệu vụ việc, cùng ngày Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận L tổ chức khám xét khẩn cấp địa điểm tại nhà số B L, phường H, quận L, Hải Phòng. Quá trình khám xét thu giữ trên tủ kính giữa phòng 01 cốc thủy tinh màu trắng bám dính tạp chất (Mẫu số 5). Sau đó, Lực lượng Công an đã đưa H, T1, Đ1 cùng vật chứng về trụ sở Công an quận L để làm việc. Ngoài ra, còn tạm giữ của Phạm Tiến H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone; Nguyễn Tân Đ1 01 điện thoại di động nhãn hiệu SamSung màu xanh; Nguyễn Mạnh T1 01 điện thoại di động nhãn hiệu SamSung màu đỏ và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone.
Theo bản Kết luận giám định số 813MT/PC09 ngày 23/10/2023 của Phòng K2 - Công an thành phố H kết luận:
- Mẫu số 1: Chất bột màu trắng bám dính trên tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng của mẫu số 1 gửi giám định là ma túy, loại: Ketamine. Không đủ điều kiện cân xác định khối lượng chất ma túy bám dính trên.
- Mẫu số 2: Chất bột màu trắng bám dính trong vỏ túi nilon gửi giám định là ma túy, loại: Ketamine. Không đủ điều kiện cân xác định khối lượng chất ma túy bám dính trên.
- Mẫu số 3: Chất bột màu trắng bám dính trong 01 đĩa sứ màu trắng, 01 tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng, 01 thẻ nhựa màu đen, 01 ống cuộn bằng tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng, 01 tờ giấy in chữ nước ngoài dạng tiền gửi giám định là ma túy, loại: Ketamine. Không đủ điều kiện cân xác định khối lượng chất ma túy bám dính trên.
- Mẫu số 4: Chất bột màu trắng gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 0,52 gam, loại: Ketamine.
Theo bản kết luận giám định số 814MT/PC09 ngày 23/10/2023 của Phòng K2 Công an thành phố H kết luận: Tạp chất bám dính trong cốc thủy tinh gửi giám định tìm thấy chất ma túy, loại: Ketamine và N2 không đủ điều kiện xác định khối lượng ma túy.
Theo bản Kết luận giám định số 1318/KL-KTHS ngày 08/5/2024 của Phòng K2 - Công an thành phố H kết luận: 01 tờ giấy in chữ nước ngoài dạng tiền có ghi các nội dung “R of India”, “Ten Rupees”, “42U 890924” là tiền Ấn Độ và là tiền thật.
Kết quả xét nghiệm chất ma túy trong nước tiểu của các đối tượng thể hiện Phạm Tiến H, Nguyễn Mạnh T1, Nguyễn Tân Đ1 dương tính với test thử chất ma túy Ketamine và MDMA.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận L Nguyễn Tân Đ1 đã khai nhận toàn bộ hành vi như trên. Đ1 không tham gia, không đóng góp vào việc mua ma túy và cũng không mời ai sử dụng ma túy, nên không có cơ sở xem xét về hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Công an quận L đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Tân Đ1.
Đối với người nữ giới tên “Nấm” bán ma túy cho H, H khai chỉ biết tên thường gọi là “Nấm” và liên hệ qua ứng dụng mạng Facebook “Nấm mario”, H không biết nhân thân, lai lịch vì vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L có cơ sở để điều tra làm rõ.
Ngày 13/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận L ban hành Kết luận điều tra số 104 đề nghị truy tố đối với Phạm Tiến H, Nguyễn Mạnh T1, Nguyễn Thị V và chuyển hồ sơ đến Viện kiểm sát. Đối với Nguyễn Anh Đ, Đoàn Bảo N1, Cơ quan điều tra - Công an quận L ra Quyết định truy nã và tách ra để tiếp tục điều tra do hết thời hạn điều tra không rõ bị can ở đâu.
Ngày 07/6/2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân ra Quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung vụ án, nhập vụ án do đã bắt được bị can Nguyễn Anh Đ.
Quá trình điều tra, Nguyễn Anh Đ khai: Vào ngày 17/10/2023, Đ có sử dụng ma túy tại nhà số B L, phường H, quận L, thành phố Hải Phòng như trên. Tuy nhiên, khi hết ma túy Đ thấy mọi người có bàn bạc với nhau về việc tiếp tục mua ma túy. Nguyên báo mua 01 gói nước vui giá 3.000.000 đồng và 02 gam Ketamine với giá 2.000.000 đồng. Sau đó, N1 bảo mọi người góp tiền mặt, nhưng mọi người không có nên có người bảo Đ chuyển khoản cho N1 5.000.000 đồng để mua ma túy rồi góp tiền trả Đ sau. Đ lấy điện thoại chuyển cho N1 5.000.000 đồng. Cả nhóm tiếp tục ngồi chơi bài, một lúc sau Đ thấy mọi người tiếp tục sử dụng ma túy. Đ không nhớ có tiếp tục sử dụng ma túy không và không nhớ N1 đi lấy ma túy lúc nào. Đ không phải người khởi xướng việc tiếp tục mua ma túy về để cùng nhau sử dụng.
Đối với Đoàn Bảo N1, ngày 15/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L đã ra Quyết định khởi tố bị can số 311 về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy quy định tại khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra, N1 vắng mặt tại địa phương, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L đã ra Quyết định truy nã. Ngày 07/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L ra Quyết định tách vụ án hình sự số 1767 tiếp tục điều tra, xử lý đối với bị can Đoàn Bảo N1, khi nào bắt được bị can Đoàn Bảo N1 xử lý sau. Tiếp tục điều tra làm rõ đối tượng V1 và các đối tượng cung cấp ma túy cho N1.
Bản Cáo trạng số 232/CT-VKSLC ngày 12/9/2024, Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng truy tố Phạm Tiến H, Nguyễn Thị V, Nguyễn Mạnh T1 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; truy tố Nguyễn Anh Đ về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b, h khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng có quan điểm: Qua xem xét đánh giá toàn diện các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ được thẩm tra, cùng lời khai nhận của các bị cáo, lời khai người làm chứng, giữ nguyên quan điểm truy tố Phạm Tiến H, Nguyễn Thị V, Nguyễn Mạnh T1, Nguyễn Anh Đ theo tội danh cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phạm Tiến H với mức hình phạt từ 08 (T3) năm đến 08 (T3) năm 06 (S) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 56, Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Thị V với mức hình phạt từ 08 (T3) năm đến 08 (T3) năm 06 (S) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt 18 tháng tù tại Bản án số 104/2024/HS-ST ngày 24/5/2024, Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng về tội “Tổ chức đánh bạc”. Buộc bị cáo Nguyễn Thị V phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án từ 09 (Chín) năm 06 (Sáu) tháng tù đến 10 (M1) năm tù.
- Áp dụng điểm b, h khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Anh Đ với mức hình phạt từ 08 (T3) năm đến 08 (T3) năm 06 (S) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh T1 với mức hình phạt từ 07 (Bẩy) năm 06 (Sáu) tháng đến 08 (T3) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng, nên đề xuất không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với các bị cáo.
Vật chứng của vụ án chuyển Chi cục thi hành án Dân sự quận Lê Chân:
- 01 phong bì niêm phong số 813MT/PC09 đựng số ma túy và vỏ bao bì còn lại sau giám định; 01 phong bì niêm phong số 813MT-B/PC0901 đựng 01 vỏ túi nilon màu trắng, 01 đĩa sứ, 01 thẻ nhựa màu đen; 01 phong bì niêm phong số 814MT/PC09 đựng 01 cốc thủy tinh màu trắng là vật nhà nước cấm lưu hành, công cụ phạm tội và không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 1 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- 01 phong bì niêm phong số 1274 ngày 02/5/2024 đựng 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone của Phạm Tiến H là phương tiện liên lạc sử dụng vào vào việc phạm tội, nên cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu SamSung màu đỏ và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone là tài sản thuộc của Nguyễn Mạnh T1 không sử dụng vào việc phạm tội, nên cần trả lại cho bị cáo theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tạm gửi tại Kho bạc nhà nước H5: 01 phong bì niêm phong số 813MT-A/PC09 đựng 01 tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng, 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng, 01 tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng và 01 phong bì niêm phong trong có 01 tờ tiền Ấn Độ là công cụ các bị cảo sử dụng vào việc phạm tội, nên đề nghị tịch thu nộp ngân sách Nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận L đã trả lại chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SamSung màu xanh cho Nguyễn Tân Đ1, nên không xem xét xử lý.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra - Công an quận L, thành phố Hải Phòng, Điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện. Như vậy, các hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, người làm chứng vắng mặt mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Xét những người này đã có lời khai trong hồ sơ vụ án nên việc vắng mặt tại phiên tòa của những người này không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng tiến hành xét xử vắng mặt những người trên.
- Về hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”:
[3] Xét lời khai hành vi phạm tội của các bị cáo Phạm Tiến H, Nguyễn Thị V, Nguyễn Mạnh T1, Nguyễn Anh Đ tại phiên tòa phù hợp lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của của người làm chứng, Biên bản kiểm tra hành chính, Biên bản khám xét, Bản kết luận giám định số 813MT/PC09 ngày 23/10/2023; 814MT/PC09 ngày 23/10/2023 của Phòng K2 - Công an thành phố H cùng với vật chứng đã được thu giữ trong vụ án và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Vào khoảng 18h30' ngày 17/10/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận L, thành phố Hải Phòng kết hợp Công an quận N, thành phố Hải Phòng tiến hành khám xét nhà số B L, phường H, quận L, thành phố Hải Phòng (Nhà do Phạm Tiến H thuê của anh Phan Hùng C để bán hàng). Quá trình khám xét, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu giữ được tại tầng 1 căn nhà 01 lượng ma túy là 0,52 gam Ketamine còn lại chưa sử dụng hết và các công cụ, phương tiện để sử dụng ma túy (Đĩa, các tờ tiền có mệnh giá khác nhau, vỏ bao gói có bám dính ma túy...). Quá trình điều tra xác định các bị cáo Phạm Tiến H, Nguyễn Thị V, Nguyễn Mạnh T1, Nguyễn Anh Đ đã có hành vi chuẩn bị địa điểm, phương tiện, dụng cụ, cùng nhau góp tiền mua ma túy, cung cấp chất ma túy với mục đích cùng nhau sử dụng trái phép chất ma túy, đưa chất ma tuý cho các đối tượng khác Nguyễn Tân Đ1, Đoàn Bảo N1 và đối tượng tên V1 (chưa xác định được lai lịch, địa chỉ) cùng sử dụng trái phép chất ma túy.
Từ phân tích, đánh giá nội dung vụ việc và diễn biến hành vi của các bị cáo. Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Các bị cáo Phạm Tiến H, Nguyễn Thị V, Nguyễn Mạnh T1, Nguyễn Anh Đ có cùng hành vi như đã nêu ở trên, nên các bị cáo đồng phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 255 Bộ luật Hình sự như nội dung Cáo trạng, quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
- Về tình tiết định khung:
[4] Bị cáo Phạm Tiến H 02 lần chuẩn bị địa điểm và cung cấp ma túy cho Nguyễn Thị V, Nguyễn Mạnh T1, Nguyễn Anh Đ, Nguyễn Tân Đ1 và đối tượng tên V1 (chưa xác định được lai lịch, địa chỉ) để sử dụng. Bị cáo Nguyễn Thị V 02 lần chuẩn bị công cụ và có hành vi cung cấp ma túy cho Nguyễn Anh Đ, Đoàn Bảo N1 sử dụng ma túy. Bị cáo Nguyễn Mạnh T1 02 lần chuẩn bị công cụ và có hành vi cung cấp ma túy cho Nguyễn Thị V, Đoàn Bảo N1 sử dụng ma túy, nên các bị cáo cùng phải chịu trách nhiệm hình sự về tình tiết định khung quy định tại điểm a, b “Phạm tội 02 lần trở lên” và “Đối với 02 người trở lên” khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Nguyễn Anh Đ có hành vi cung cấp ma túy cho Phạm Tiến H, Nguyễn Thị V, Nguyễn Mạnh T1, Đoàn Bảo N1 để sử dụng, nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về tình tiết định khung quy định tại điểm b “Đối với 02 người trở lên” khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo Nguyễn Anh Đ có 02 tiền án chưa được xóa án tích, nên lần phạm tội này bị cáo phải chịu tình tiết định khung “Tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm h khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
- Về đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội:
[5] Tính chất vụ án là rất nghiêm trọng, vụ án xẩy ra có đồng phạm, nhiều người tham gia. Hành vi phạm tội của các bị cáo mang tính nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến sự độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy với lỗi cố ý và là nguồn gây ra các loại tội phạm khác. Vì vậy, để tăng cường ý thức chấp hành pháp luật cần phải xử lý nghiêm để cải tạo, giáo dục các bị cáo và đáp ứng yêu cầu phòng, chống tội phạm chung.
- Về đánh giá vai trò của các bị cáo:
[6] Các bị cáo Phạm Tiến H, Nguyễn Thị V, Nguyễn Mạnh T1, Nguyễn Anh Đ đều có vai trò đồng phạm như nhau đối với hành vi tổ chức cho người khác sử dụng trái phép chất ma túy. Cụ thể: Bị cáo Phạm Tiến H là người đề xuất tổ chức sử dụng, cung cấp địa điểm, góp tiền và đưa ma túy cho nhiều người sử dụng. Bị cáo Nguyễn Thị V (vợ H) là người có hành vi chuẩn bị công cụ, pha chế ma túy, cung cấp ma túy cho nhiều người sử dụng. Bị cáo Nguyễn Mạnh T1 là người tích cực trong việc nhiều lần chuẩn bị công cụ, pha chế ma túy theo ý kiến của V và chủ động đưa ma túy cho những người khác sử dụng. Bị cáo Nguyễn Anh Đ là người có hành vi đề xuất, góp tiền mua ma túy để tiếp tục sử dụng và cung cấp ma túy cho người khác sử dụng.
- Về tình tiết tăng nặng:
[7] Các bị cáo Phạm Tiến H, Nguyễn Thị V, Nguyễn Mạnh T1, Nguyễn Anh Đ không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ:
[8] Tại Cơ quan cảnh sát điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đều thành khẩn khai báo đối với hành vi phạm tội của mình, nên đều được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, Nguyễn Anh Đ có ông nội là Liệt sĩ, nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Về hình phạt áp dụng:
[9] Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, vai trò, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo. Bị cáo Phạm Tiến H là người có vai trò chính trong việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Bị cáo Nguyễn Thị V thời điểm phạm tội bị cáo còn thực hiện một hành vi phạm tội khác đã bị Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền xét xử về tội “Tổ chức đánh bạc”, mặc dù không xác định là tiền án nhưng đánh giá là người có nhân thân xấu. Bị cáo Nguyễn Anh Đ là người có nhân thân xấu, có 02 tiền án (Trong đó có 01 tiền án phạm tội đặc biệt nghiêm trọng) chưa được xóa án tích, sau khi phạm tội bỏ trốn và bị bắt theo lệnh truy nã, nên Hội đồng xét xử cần áp dụng cùng mức hình phạt tù ngang nhau với các bị cáo Phạm Tiến H, Nguyễn Thị V, Nguyễn Anh Đ và trên mức khởi điểm khung hình phạt của điều luật đã quy định. Đối với bị cáo Nguyễn Mạnh T1 lần đầu phạm tội, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự nên cần áp dụng mức hình phạt tù trên mức khởi điểm của khung hình phạt nhưng thấp hơn các bị cáo Phan Tiến H4, Nguyễn Thị V, Nguyễn Anh Đ.
[10] Theo quy định tại khoản 5 Điều 255 Bộ luật hình sự, tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” ngoài hình phạt chính, các bị cáo Phạm Tiến H, Nguyễn Thị V, Nguyễn Anh Đ, Nguyễn Mạnh T1 còn có thể phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Xét điều kiện, hoàn cảnh bản thân của các bị cáo Phạm Tiến H, Nguyễn Thị V, Nguyễn Anh Đ, Nguyễn Mạnh T1 và trên cơ sở quan điểm đề nghị của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với các bị cáo.
- Về tổng hợp hình phạt:
[11] Bị cáo Nguyễn Thị V đang chấp hành hình phạt 18 (Mười tám) tháng tù tại Bản án số 104/2024/HS-ST ngày 24/5/2024, Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng về tội “Tổ chức đánh bạc”. Vì vậy, áp dụng Điều 56 Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án theo quy định của pháp luật.
- Về xử lý vật chứng:
[12] Đối với 01 phong bì niêm phong số 813MT/PC09 đựng số ma túy và vỏ bao bì còn lại sau giám định; 01 phong bì niêm phong số 813MT-B/PC0901 đựng 01 vỏ túi nilon màu trắng, 01 đĩa sứ, 01 thẻ nhựa màu đen; 01 phong bì niêm phong số 814MT/PC09 đựng 01 cốc thủy tinh màu trắng được xác định là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành và là công cụ phạm tội không còn giá trị sử dụng, nên tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[13] Đối với 01 phong bì niêm phong số 1274 ngày 02/5/2024 đựng 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone của Phạm Tiến H; 01 phong bì niêm phong số 813MT-A/PC09 đựng 01 tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng, 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng, 01 tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng và 01 phong bì niêm phong trong có 01 tờ tiền Ấn Độ được xác định là phương tiện liên lạc, công cụ các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[14] Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu SamSung màu đỏ và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone thu giữ của Nguyễn Mạnh T1 là tài sản thuộc sở hữu của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội, nên cần xem xét trả lại cho bị cáo theo quy định tại theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Về án phí:
[15] Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Về quyền kháng cáo:
[16] Các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255, Điều 17, Điều 38, Điều 58, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; áp dụng thêm điểm a khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Phạm Tiến H, Nguyễn Thị V, Nguyễn Mạnh T1; áp dụng thêm điểm h khoản 2 Điều 255, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Anh Đ; áp dụng thêm Điều 56 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thị V.
Tuyên bố các bị cáo Phạm Tiến H, Nguyễn Thị V, Nguyễn Anh Đ, Nguyễn Mạnh T1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
1. Xử phạt bị cáo Phạm Tiến H 08 (T3) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18/10/2023.
2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị V 08 (T3) năm tù. Tổng hợp với hình phạt 18 (Mười tám) tháng tù tại các Bản án số 104/2024/HS-ST ngày 24/5/2024, Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng về tội “Tổ chức đánh bạc”. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 09 (Chín) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/10/2023.
4. Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh Đ 08 (T3) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/5/2024.
5. Xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh T1 07 (Bẩy) năm 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18/10/2023.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 813MT/PC09 đựng số ma túy và vỏ bao bì còn lại sau giám định; 01 phong bì niêm phong số 813MT-B/PC0901 đựng 01 vỏ túi nilon màu trắng, 01 đĩa sứ, 01 thẻ nhựa màu đen; 01 phong bì niêm phong số 814MT/PC09 đựng 01 cốc thủy tinh màu trắng.
- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 phong bì niêm phong số 1274 ngày 02/5/2024 đựng 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone của Phạm Tiến H; 01 tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng, 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng, 01 tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng và 01 tờ tiền Ấn Độ.
- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Mạnh T1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đỏ và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone đều không lên nguồn thu giữ của Nguyễn Mạnh T1.
(Theo biên bản giao nhận tài sản, vật chứng tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng và Biên bản giao nhận tài sản tại Kho bạc Nhà nước H5 ngày 13 tháng 9 năm 2024).
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Các bị cáo Nguyễn Anh Đ, Phạm Tiến H, Nguyễn Thị V, Nguyễn Mạnh T1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Đức Hoàng |
Bản án số 260/2024/HS-ST ngày 07/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 260/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Tiến Huy và đồng phạm
