TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập- Tự do- Hạnh Phúc |
Bản án số: 260/2024/HS-ST
Ngày: 24-10-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Tường Linh
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Huệ
Bà Nguyễn Thị Lý
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Hoàng Đạt– Thư ký Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Tùng - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 10 năm 2024 tại Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 212/2024/HSST ngày 14/08/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 311/2024/QĐXXST-HS ngày 23/09/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 65/2024/QĐHPT ngày 11/10/2024 đối với bị cáo:
Đàm Thị D; Giới tính: Nữ; Sinh ngày 09/08/1997 tại tỉnh Lâm Đồng; Hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố D, thị trấn C, huyện C, tỉnh Lâm Đồng; Chỗ ở hiện tại: I N, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Tày: Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Con ông Đàm Văn C và bà Đàm Thị N; Hoàn cảnh gia đình: Chưa có chồng, con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 20/03/2024 (có mặt).
Bị hại: Chị Lê Thị Kim A, sinh năm 1999; địa chỉ: G Â, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Đàm Đức K, sinh năm 1995; địa chỉ: Tổ dân phố D, thị trấn C, huyện C, tỉnh Lâm Đồng (có mặt).
Người bào chữa cho bị cáo Đàm Thị D: Ông Lê Văn C1 là luật sư thuộc văn phòng luật sư Lê Văn C1- Đoàn luật sư Thành Phố H (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do đã quen biết từ trước, ngày 01/11/2023, chị Lê Thị Kim A đã chuyển đến thuê trọ và ở cùng phòng với Đàm Thị D tại địa chỉ số I đường N, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Do cần tiền để trả nợ, khoảng 21 giờ ngày 06/12/2023, lợi dụng lúc chị A đi tắm, D đã lén lút lục bóp màu đen của chị A lấy một thẻ tín dụng Master Card ngân hàng VIB mang số 5268879900609978 của chị A đứng tên chủ thẻ. Sau khi lấy được thẻ, D cất vào ví tiền của mình để chờ cơ hội sử dụng thẻ để chiếm đoạt tiền.
Ngày 10/12/2023, D thấy một dịch vụ quẹt thẻ tín dụng để nhận tiền mặt qua tài khoản ngân hàng (chuyển đổi tiền từ thẻ tín dụng sang tiền mặt hoặc chuyển khoản ngân hàng) trên trang mạng xã hội Facebook. Diệu đã liên hệ qua số điện thoại trên bài đăng (không nhớ số điện thoại) và hẹn gặp người này (không rõ lai lịch) tại quán cà phê tại địa chỉ số A đường N, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh để thực hiện chuyển đổi tiền trong thẻ tín dụng Master Card - Ngân hàng V1 - số thẻ 5268879900609978 - đứng tên Lê Thị Kim A sang tài khoản cá nhân của D. Tại quán cà phê, D yêu cầu quẹt thẻ và chuyển 70.000.000 đồng. Tuy nhiên, người này không thể xử lý được số tiền này trong một lần quẹt thẻ nên phải thực hiện thành hai lần quẹt. Người này đã quẹt thẻ với số tiền 34.891.000 đồng. Khi D hỏi về việc chuyển số tiền này vào tài khoản của D, người này yêu cầu phải có căn cước công dân của chủ thẻ là chị A và phải chuyển vào tài khoản cùng tên với chủ thẻ thì mới thực hiện được. Do không có căn cước công dân của chị A, D đã cung cấp số tài khoản của chị A tại Ngân hàng T1 số 19035814585017 để nhận số tiền chuyển đổi. Diệu biết số tài khoản này của chị A do trước đây thường xuyên chuyển khoản tiền cho nhau. Vào lúc 10 giờ 30 phút ngày 10/12/2023, tài khoản số 9759666888 của Ngân hàng T1 đã chuyển số tiền 34.163.000 đồng vào tài khoản số 19035814585017 của Kim A. Sau đó, D không tiếp tục việc chuyển đổi tiền nữa vì biết rằng không thể chuyển tiền vào tài khoản của mình.
Khi thấy việc chuyển đổi tiền thẻ tín dụng không thực hiện được, D đã nghĩ ra cách mua điện thoại bằng thẻ tín dụng của chị A rồi bán lại điện thoại đó để lấy tiền tiêu xài. Ngày 11/12/2023, D điều khiển xe gắn máy hiệu Honda Vision màu trắng, biển số 49N1-135.05 đến cửa hàng điện thoại Ken Iphone tại địa chỉ số B đường C, Phường B, quận B để mua 02 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 15 Pro Max. Diệu trao đổi với nhân viên cửa hàng tên Nguyễn Thị Mỹ D1 và được báo giá mỗi chiếc điện thoại là 38.700.000 đồng. Diệu định mua 02 chiếc điện thoại bằng thẻ tín dụng của chị A nhưng số tiền trong thẻ không đủ hạn mức để thanh toán nên D đã mua 01 chiếc Iphone 15 Pro Max. Lúc thanh toán, chủ cửa hàng tên Lưu Thị T có đề nghị quẹt thử thẻ với số tiền 60.000.000 đồng xem có được không. Sau đó chị T cà thẻ thực hiện thanh toán thành công với số tiền này nhưng chị D1 yêu cầu phải có căn cước công dân của chủ thẻ hoặc giấy tờ tùy thân để xuất hóa đơn và giao hàng. Do không có các giấy tờ trên nên D hẹn lại và kết bạn qua ứng dụng Zalo với chị D1. Sau đó, D quay về phòng trọ và phát hiện trong túi xách của chị A có hộ chiếu của chị A nên D đã chụp ảnh hộ chiếu này và gửi qua Z cho chị D1, sau đó nhận được tin nhắn hẹn đến cửa hàng để lấy điện thoại đã mua. Khi D đến cửa hàng K2, cửa hàng đã giao cho D một chiếc Iphone 15 Pro Max 1TB và 20.100.000 đồng tiền mặt. Số tiền 60.000.000 đồng đã được thanh toán bao gồm giá chiếc Iphone 15 Pro Max là 38.700.000 đồng, phí cà thẻ là 1.200.000 đồng, còn lại 20.100.000 đồng tiền mặt. Sau khi nhận điện thoại và tiền mặt, D tìm cửa hàng khác để bán lại chiếc điện thoại vừa mua. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, D đến cửa hàng Đ tại địa chỉ số A đường N, Phường A, quận G và gặp chị Đặng Kiều M (quản lý cửa hàng). Sau khi kiểm tra điện thoại và thấy chưa kích hoạt, chị M đồng ý mua chiếc điện thoại trên với giá 32.000.000 đồng, thanh toán qua chuyển khoản từ tài khoản số 19034012548012 - Ngân hàng T1 - tên Nguyễn Văn Quốc A1 (chồng của chị M) đến tài khoản số [...] - Ngân hàng S - tên Đàm Thị Diệu . Sau khi nhận tiền, D đã đến ATM của Ngân hàng S tại địa chỉ số B đường N, Phường A, quận G để rút số tiền 32.000.000 đồng. Tổng số tiền mặt D có trong người là 52.100.000 đồng, cộng thêm 2.000.000 đồng tiền riêng của D.
Ngay trong tối ngày 11/12/2023, D đã dùng số tiền 54.000.000 đồng để trả nợ cho người tên Vũ Văn L (người quen cùng quê) tại khu vực đường T, quận G. Đến ngày 16/12/2023, chị Lê Thị Kim A phát hiện bị mất thẻ tín dụng và số tiền trong thẻ nên có hỏi D thì lúc này D thừa nhận đã lấy trộm thẻ và thực hiện hành vi như trên. Chị A yêu cầu D trả lại số tiền đã chiếm đoạt, tuy nhiên D không có khả năng trả ngay và xin trả dần thì chị A đồng ý. Tuy nhiên đến ngày 26/02/2024, chị A nhận được thông tin từ chủ nhà trọ là ông Trần Hữu K1 là D chuyển trọ đi nơi khác nên chị Kim A đã trình báo sự việc đến Công an P, quận G. (BL: 47 – 60; 122)
Vật chứng vụ án:
- - 01 (một) USB chứa dữ liệu ghi hình D đến mua điện thoại tại cửa hàng K2 (kèm theo hồ sơ vụ án).
- - 01 (một) xe gắn máy hiệu Honda Vision biển số 49N1 – 135.05, số khung: RLHJF5814GY821529, số máy: JF66E-0566436. Kết quả xác minh chiếc xe trên do Đàm Thị D đứng tên chủ sở hữu. (BL: 88 – 89)
- - 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax (thu giữ của Đàm Thị D).
- - 01 (một) nón bảo hiểm và 01 áo thun màu hồng (thu giữ của Đàm Thị D).
- - 01 (một) thẻ tín dụng Ngân hàng V1 số 5268879900609978 tên Lê Thị Kim A.
Trách nhiệm dân sự: ông Đàm Đức K (anh ruột của Đàm Thị D) đã thay D bồi thường số tiền 60.000.000 đồng cho chị Lê Thị Kim A. Chị Kim A đã nhận bồi thường và không có yêu cầu gì khác.
Tại bản cáo trạng số 229/CT-VKS ngày 13/08/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp truy tố bị cáo Đàm Thị D về tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” theo điểm b, đ khoản 2 Điều 290 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát luận tội, đưa ra quan điểm xét xử và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, đ khoản 2 Điều 290; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
- Xử phạt bị cáo Đàm Thị D từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
Về xử lý vật chứng:
- - Tịch thu lưu theo hồ sơ vụ án 01 USB chứa dữ liệu ghi hình Diệu đến mua điện thoại tại cửa hàng K2 (kèm theo hồ sơ vụ án).
- - Tịch thu sung công quỹ nhà nước chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax,
- - Trả lại chiếc xe gắn máy hiệu Honda Vision biển số 49N1 – 135.05, số khung: RLHJF5814GY821529, số máy: JF66E-0566436. 01 nón bảo hiểm và 01 áo thun màu hồng cho bị cáo Đàm Thị D .
- - Trả lại cho chị Lê Thị Kim A thẻ tín dụng Ngân hàng V1 số 5268879900609978 tên Lê Thị Kim A.
- - Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo;
Luật sư bào chữa cho bị cáo Đàm Thị D trình bày: Thống nhất với tội danh và điều luật mà Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo D, nhưng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo các tình tiết sau: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, mới phạm tội lần đầu, đã bồi thường khắc phục hậu quả cho bị hại, bị cáo nhất thời phạm tội. Từ những phân tích trên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo D được hưởng mức án dưới khung hình phạt để bị cáo có điều kiện hòa nhập xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận G, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Tại phiên toà hôm nay, sau khi Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp công bố bản cáo trạng thì bị cáo Đàm Thị D đã khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu.
[2] Lời khai nhận của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị hại, phù hợp với kết luận điều tra của cơ quan điều tra Công an quận G, với bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp và với các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở pháp lý để cho rằng bị cáo Đàm Thị D phạm tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” tội phạm và hình phạt trừng trị được quy định tại Điều 290 của Bộ luật Hình sự.
[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Lợi dụng lúc chị Kim A đi tắm bị cáo đã lấy thẻ tín dụng của chị Kim A sau đó tìm cách chiếm đoạt số tiền trong thẻ tín dụng của bị hại. Lần thứ nhất vào ngày 10/12/2023, bị cáo D đã sử dụng thẻ tín dụng của chị Lê Thị Kim A đưa cho một người (không rõ lai lịch) làm dịch vụ chuyển đổi tiền từ thẻ tín dụng sang tiền mặt hoặc chuyển khoản ngân hàng để quẹt thẻ chuyển số tiền 34.891.000 đồng trong thẻ tín dụng của chị Kim A đến tài khoản ngân hàng của D để chiếm đoạt nhưng không thành công do dịch vụ yêu cầu phải có căn cước công dân của chủ thẻ hoặc phải chuyển vào tài khoản cùng tên với chủ thẻ thì mới thực hiện được. Lần thứ hai vào ngày 11/12/2023, D đã dùng thẻ tín dụng của chị Lê Thị Kim A để thực hiện giao dịch thanh toán mua 01 điện thoại di động hiệu Iphone 15 Promax 1TB và rút số tiền 20.100.000 đồng. Tổng số tiền bị cáo D chiếm đoạt của chị Kim A là 60.000.000 đồng. Nên Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp truy tố bị cáo Đàm Thị Diệu V tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” theo điểm b, đ khoản 2 Điều 290 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có cơ sở.
[4] Hành vi của bị cáo đã xâm hại đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản được pháp luật và nhà nước bảo hộ. Mặt khác, còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Chỉ vì muốn có tiền tiêu xài mà không phải thông qua lao động chân chính, bị cáo lao vào con đường phạm tội bất chấp hậu quả xảy ra. Do đó hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giúp bị cáo nhận thức được hành vi sai trái của mình và phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.
Tuy nhiên khi lượng hình cần xem xét cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ như tại Cơ quan điều tra và qua diễn biến tại phiên tòa ngày hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, gia đình bị cáo đã thay bị cáo bồi thường khắc phục hậu quả cho bị hại, bị cáo chưa có tiền sự, tiền án, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do bị cáo có hai tình tiết giảm nhẹ nên Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án dưới khung hình phạt.
[5] Về hình phạt bổ sung quy định tại khoản 4 Điều 290 của Bộ luật Hình sự, xét tính chất vụ án và hoàn cảnh của bị cáo khó khăn nên Hội đồng xét xử quyết định miễn phạt bổ sung cho bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự:
Tại phiên tòa ngày hôm nay, bị hại là bà Lê Thị Kim A vắng mặt nhưng qua hồ sơ thể hiện bị hại đã được anh bị cáo là ông Đàm Đức K bồi thường số tiền 60.000.000 đồng và bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và không có yêu cầu gì thêm, nên hội đồng xét xử không xem xét.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là ông Đàm Đức K tại phiên tòa, không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền đã bồi thường cho bị hại, nên hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về xử lý vật chứng:
- - Đối với 01 USB chứa dữ liệu ghi hình bị cáo D đến mua điện thoại tại cửa hàng K2 là vật chứng vụ án, nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu theo hồ sơ vụ án.
- - Đối với chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax bị cáo xử dụng làm phương tiện liên lạc qua zalo để đi chiếm đoạt tài sản nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu sung công quỹ nhà nước.
- - Đối với xe gắn máy hiệu Honda Vision biển số 49N1 – 135.05, số khung: RLHJF5814GY821529, số máy: JF66E-0566436, 01 nón bảo hiểm và 01 áo thun màu hồng là tài sản riêng của bị cáo không liên quan đến vụ án nên hội đồng xét xử quyết định trả lại cho bị cáo Đàm Thị Diệu .
- - Đối với thẻ tín dụng Ngân hàng V1 số 5268879900609978 tên Lê Thị Kim A là tài sản của bị hại, nên Hội đồng xét xử nghĩ nên trả lại cho chị Kim A.
- - Xét lời bào chữa của luật sư bào chữa cho bị cáo D là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b, đ khoản 2 Điều 290; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Tuyên bố bị cáo Đàm Thị D phạm tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”;
Xử phạt bị cáo Đàm Thị D 01(một) năm tù.
Thời hạn tù được tính kể từ ngày 20/03/2024.
Căn cứ Điều 47, 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung 2017.
- - Tịch thu lưu theo hồ sơ vụ án 01 USB chứa dữ liệu ghi hình vụ việc.
- - Tịch thu sung công quỹ nhà nước chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax.
- - Trả lại chiếc xe gắn máy hiệu Honda Vision biển số 49N1 – 135.05, số khung: RLHJF5814GY821529, số máy: JF66E-0566436, 01 nón bảo hiểm và 01 áo thun màu hồng cho bị cáo Đàm Thị D
- - Trả lại cho chị Lê Thị Kim A thẻ tín dụng Ngân hàng V1 số 5268879900609978 tên Lê Thị Kim A.
(Theo phiếu nhập kho vật chứng số 184/PNK ngày 02/8/2024 của cơ quan cảnh sát điều tra công an quận G).
Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng .
Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính kể từ ngày tuyên án.
Bị hại vắng mặt tại phiên toà có thời hạn kháng cáo là 15 ngày được tính kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết.
Căn cứ Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại Điều 6, Điều 7, 7a, 7b, Điều 9 Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014, thời hiệu thi hành được thực hiện tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Tường Linh |
Bản án số 260/2024/HS-ST ngày 24/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản (criminal case)
- Số bản án: 260/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản (Criminal Case)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đàm Thị D phạm tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản
