|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 260/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 20/8/2023
V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Trường.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Bích Liên.
Bà Dương Thị Kim Hồng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Văn Tưởng - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 280/2023/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 6 năm 2023 về việc: "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn". Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 277/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 7 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 205/2023/QĐST-HNGĐ ngày 03 tháng 8 năm 2023, giữa:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh ngày 15/5/1990.
ĐKHKTT: KDC H cũ, phường H, thành phố C, tỉnh Hải Dương.
Chỗ ở hiện nay: Số nhà B, đường D, thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
Người được chị T ủy quyền về việc giao nhận văn bản: Ông Hà Văn T1, sinh năm 1979. Địa chỉ: Thôn A, xã N, huyện N, tỉnh Hải Dương (theo giấy ủy quyền ngày 23/5/2023).
2. Bị đơn: Anh Hoàng Văn C, sinh ngày 21/7/1987.
Địa chỉ trước khi xuất cảnh: KDC H cũ, phường H, thành phố C, tỉnh Hải Dương. Chỗ ở hiện nay: Nhật Bản.
(Chị T, anh C vắng mặt và đề nghị xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, Nguyên đơn chị Nguyễn Thị T trình bày: Chị và anh Hoàng Văn C kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, thị xã C (nay là phường H, thành phố C), tỉnh Hải Dương ngày 02/3/2012. Vợ chồng chung sống với nhau được một thời gian thì chị sang Trung Quốc, còn anh C đi Malaysia làm ăn. Sau đó anh C tiếp tục đi làm ăn ở một số nước khác, hiện tại chị đã về nước còn anh C đang làm ăn ở Nhật Bản. Vợ chồng sống xa cách, mỗi người một nơi nên nảy sinh nhiều bất đồng, quan điểm sống không phù hợp, mặc dù chị vẫn đi lại gia đình nhà chồng để chăm sóc con cái, nhưng vợ chồng không ai quan tâm đến ai, việc ai người ấy làm, vợ chồng sống ly thân từ năm 2015 cho đến nay. Khi làm thủ tục ly hôn, chị có liên lạc với anh C và anh C cũng nhất trí ly hôn. Do vậy, chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Hoàng Văn C.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Hoàng Thị Yến N, sinh ngày 03/11/2012, hiện con đang ở với chị. Chị đề nghị được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung cho đến khi con đủ 18 tuổi và tự nguyện không yêu cầu anh C phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị xác định vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, chị T ủy quyền cho anh Hà Văn T1 thay chị giao nhận tài liệu tại Tòa án. Sau khi nhận được các tài liệu, anh T1 đã thông báo cho chị biết, chị T vẫn giữ nguyên quan điểm như đã trình bày và đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt.
Do chị T không cung cấp được địa chỉ của anh C nên Tòa án đã tiến hành xác minh tại gia đình anh C. Bà Nguyễn Thị M (là mẹ đẻ anh C) trình bày: Bà không biết địa chỉ cụ thể của anh C ở nước ngoài nên không cung cấp cho Tòa án được. Tuy nhiên anh C vẫn liên lạc với gia đình qua điện thoại. Bà đồng ý nhận các văn bản tố tụng của Tòa án và đã thông báo cho anh C biết. Anh C xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn được, chị T có đơn xin ly hôn, anh hoàn toàn nhất trí. Anh xác định vợ chồng có 01 con chung như chị T trình bày là đúng, anh nhất trí để chị T được chăm sóc, nuôi dưỡng con chung cho đến khi con đủ 18 tuổi, chị T không yêu cầu anh phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung, anh nhất trí. Tài sản chung, nợ chung không có nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết và anh đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt.
Con chung của chị T và anh C là cháu Hoàng Thị Yến N có nguyện vọng được ở với chị T.
Tòa án xác minh tại chính quyền địa phương nơi chị T, anh C sinh sống thể hiện: Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau tại địa phương. Quá trình chung sống chị T và anh C cùng có thời gian đi lao động ở nước ngoài nhưng mỗi người ở một nước khác nhau, vợ chồng sống xa cách mỗi người một nơi, không có sự chia sẻ, gắn bó. Nay chị T có đơn xin ly hôn, địa phương đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương phát biểu quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56, 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án: Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Hoàng Văn C. Về con chung: Giao con chung Hoàng Thị Yến N cho chị T chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi; chấp nhận sự tự nguyện của chị T không yêu cầu anh C phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Chị T phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và xem xét ý kiến của các đương sự, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị T hiện đang sinh sống ở Việt Nam; bị đơn anh Hoàng Văn C có nơi cư trú cuối cùng trước khi xuất cảnh ở khu dân cư H cũ, phường H, thành phố C, tỉnh Hải Dương, hiện anh C đang lao động tại Nhật Bản. Do vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương. Trong quá trình giải quyết vụ án, chị T không cung cấp được địa chỉ cụ thể của anh C. Tòa án đã nhiều lần yêu cầu gia đình anh C cung cấp địa chỉ nhưng gia đình không cung cấp được. Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho bà M là mẹ đẻ anh C để thông báo về việc Tòa án đang giải quyết vụ án ly hôn giữa chị T và anh C đồng thời tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật. Bà M vẫn liên lạc với anh C và đã thông báo việc Tòa án đang giải quyết vụ án ly hôn giữa chị T và anh C. Tại phiên tòa, chị T vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh C vắng mặt và có quan điểm đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt. Do vậy, căn cứ khoản 1 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định của pháp luật.
[2]. Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T và anh Hoàng Văn C kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, thị xã C (nay là phường H, thành phố C), tỉnh Hải Dương ngày 02/3/2012 là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng cùng có thời gian đi lao động ở nước ngoài, tuy nhiên vợ chồng mỗi người ở một nước khác nhau nên có nhiều mâu thuẫn, bất đồng. Hiện tại chị T đã về nước còn anh C vẫn đang làm ăn ở Nhật Bản, vợ chồng không liên lạc, không quan tâm đến nhau và đã sống ly thân từ năm 2015 cho đến nay. Chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh C. Thông qua gia đình anh C cũng xác định tình cảm vợ chồng không còn nên anh nhất trí ly hôn. Hội đồng xét xử xét thấy, mâu thuẫn giữa chị T và anh C đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, có căn cứ chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T.
[2.2] Về quan hệ con chung: Chị Nguyễn Thị T và anh Hoàng Văn C có 01 con chung là Hoàng Thị Yến N, sinh ngày 03/11/2012, hiện con đang ở với chị. Chị T và anh C cùng thống nhất chị T có trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng con chung cho đến khi con thành niên (tròn 18 tuổi), chị T tự nguyện không yêu cầu anh C phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Con chung Hoàng Thị Yến N có nguyện vọng được ở với chị T. Hội đồng xét xử xét thấy, thỏa thuận của các đương sự phù hợp với thực tế, phù hợp với quy định của pháp luật và không trái đạo đức xã hội. Do vậy, cần chấp nhận thỏa thuận của anh chị giao con chung Hoàng Thị Yến N cho chị T chăm sóc nuôi dưỡng cho đến khi con tròn 18 tuổi, anh C không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Chị T, anh C xác định không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[3]. Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm (về Hôn nhân gia đình) theo quy định của pháp luật.
Vì những lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 51; 56; 81; 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị T.
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị T ly hôn anh Hoàng Văn C.
- Về quan hệ con chung: Xử giao cho chị Nguyễn Thị T được chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Hoàng Thị Yến N, sinh ngày 03/11/2012 cho đến khi con tròn 18 tuổi. Chấp nhận sự tự nguyện của chị T tạm thời không yêu cầu anh C phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không có.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm (về Hôn nhân gia đình) và được đối trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu số AA/2022/0000819 ngày 14/6/2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương (do ông Hà Văn T1 nộp thay). Chị T đã nộp đủ án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Anh Hoàng Văn C được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Xuân Trường |
Bản án số 260/2023/HNGĐ-ST ngày 20/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 260/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/08/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Nguyễn Thị T xin ly hôn anh Hoàng Văn C
