|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 260/2024/HNGĐ-ST Ngày: 19-7-2024 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con giữa anh Hưng và chị Thuỷ |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lương Thị Kim Huế
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Vũ Anh Tuấn
Ông Triệu Văn Giản
- Thư ký phiên toà: Ông Chu Trần Khánh Vinh – Thư ký Toà án nhân dân
thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định
tham gia phiên toà: Ông Trần Anh Đức - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý 166/2024/TLST- HNGĐ ngày 23 tháng 5 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 44/QĐST-HNGĐ ngày 03 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Trần Xuân H, sinh năm 1977; Nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Số E đường C, phường L, thành phố N, tỉnh Nam Định. Số Căn cước công dân [...].
Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Minh T, sinh năm 1981; Nơi cư trú cuối cùng: Số E đường C, phường L, thành phố N, tỉnh Nam Định. Hiện đã bị Tòa án nhân dân thành phố Nam Định tuyên bố mất tích theo Quyết định số 05/2024/QĐST-VDS ngày 16-04-2024 của Tòa án nhân dân thành phố Nam Định. Số căn cước công dân [...].
(tại phiên tòa có mặt anh H, vắng mặt chị T do đã bị tuyên bố mất tích)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
-
Tại đơn khởi kiện tranh chấp về hôn nhân và gia đình đề ngày 06-5-2024, Biên bản lấy lời khai ngày 23-5-2024 trong quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa nguyên đơn là anh Trần Xuân H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Nguyễn Thị Minh T kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường L, thành phố N, tỉnh Nam Định vào ngày 05-7-2011. Sau khi kết hôn vợ chồng hạnh phúc đến khoảng năm 2017 thì chị T tự ý bỏ đi và không liên lạc gì với gia đình. Đến ngày 14-6-2024 chị T đã bị Tòa án nhân dân thành phố Nam Định tuyên bố là người mất tích. Nay anh H xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên có nguyện vọng xin được ly hôn với chị T.
Về con chung: Anh H xác nhận vợ chồng có hai con chung là Trần Ngọc T1, sinh ngày 31-3-2009, giới tính nam và Trần Ngọc Đăng K, sinh ngày 31-8-2011, giới tính nam. Hiện tại hai con đang ở với anh H. Về việc nuôi con: anh H có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không đề nghị chị T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và vay nợ chung của vợ chồng: Anh H xác nhận vợ chồng không có tài sản chung nên không đề nghị Tòa án giải quyết.
- Đối với bị đơn là chị Nguyễn Thị Minh T theo Quyết định giải quyết việc dân sự số 05/2024/QĐST-VDS ngày 16-04-2024 của Tòa án nhân dân thành phố Nam Định đã tuyên bố chị Nguyễn Thị Minh T là người mất tích; Quyết định này đã có hiệu lực pháp luật. Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã tiến hành tống đạt bằng hình thức niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án, nhưng chị T không đến Tòa án để làm bản tự khai, không tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cũng không tham gia phiên tòa nên chị T không có quan điểm để giải quyết vụ án.
- Tại biên bản thu thập tài liệu, chứng cứ ngày 24-5-2024 tại Ủy ban nhân dân phường L xác nhận: Vợ chồng anh H và chị Thủy c sống hạnh phúc đến khoảng năm 2015 thì chị T bỏ đi và không rõ địa chỉ ở đâu. Nay anh H có đơn yêu cầu giải quyết ly hôn với chị T, đề nghị Tòa án giải quyết theo qui định của pháp luật. Về con chung: Vợ chồng anh H và chị T có hai con chung là Trần Ngọc T1, sinh ngày 31-3-2009, giới tính N và Trần Ngọc Đăng K, sinh ngày 31-8-2011, giới tính N. Hiện nay đang ở với anh H.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định căn cứ Điều 21, Điều 262 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nhận xét đánh giá: Về quá trình tiến hành tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật. Về việc chấp hành pháp luật của các đương sự như sau: Nguyên đơn đã thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với bị đơn đã bị Tòa án tuyên bố mất tích nên quá trình giải quyết vụ án đã không cung cấp bản tự khai, không tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, 02 lần vắng mặt tại phiên tòa mà không có lý do. Như vậy bị đơn đã từ bỏ các quyền và nghĩa vụ của mình. Về việc giải quyết vụ án: Quan hệ hôn nhân giữa anh H và chị T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 xử cho ly hôn giữa anh H và chị T. Về con chung: Do chị T là người mất tích nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của anh H giao cả hai con là Trần Ngọc T1, sinh ngày 31-3-2009, giới tính N và Trần Ngọc Đăng K, sinh ngày 31-8-2011, giới tính: Nam cho anh Trần Xuân H trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con: Anh H không yêu cầu chị T cấp dưỡng. Về tài sản chung và vay nợ chung: anh H không đề nghị giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà Hội đồng xét xử nhận định:
- Về thủ tục tố tụng: Chị Nguyễn Thị Minh T đã bị Tòa án tuyên bố mất tích, đã được tống đạt các văn bản tố tụng bằng hình thức niêm yết hợp lệ nhưng tại phiên tòa lần 2 vẫn vắng mặt nên Tòa án xét xử vắng mặt theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Trần Xuân H và chị Nguyễn Thị Minh T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND phường L, thành phố N, tỉnh Nam Định nên hôn nhân giữa anh H và chị T là hôn nhân hợp pháp.
- Về mâu thuẫn vợ chồng: Sau khi kết hôn anh và chị Thủy c sống hòa thuận hạnh phúc đến năm 2015 thì chị T bỏ địa phương đi biệt tích cho đến nay, anh H đã tìm kiếm nhưng không có tin tức gì. Ngày 14-6-2024 Tòa án nhân dân thành phố Nam Định đã có Quyết định giải quyết việc dân sự số 05/2024/QĐST-VDS tuyên bố chị Nguyễn Thị Minh T là người mất tích. Nay anh H xác định tình cảm vợ chồng không còn và có nguyện vọng được ly hôn với chị T. Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa anh H và chị T đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó Hội đồng xét xử có căn cứ cho ly hôn giữa anh H và chị T theo quy định tại khoản 2 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 và khoản 2 Điều 68 Bộ luật Dân sự
- Về việc nuôi con: Anh H có nguyện vọng được nuôi dưỡng hai con Trần Ngọc T1, sinh ngày 31-3-2009, giới tính N và Trần Ngọc Đăng K, sinh ngày 31-8-2011, giới tính: Nam. Hội đồng xét xử nhận thấy hiện tại các con chung đang ở cùng với anh H và do anh H trực tiếp chăm sóc. Các cháu Trần Ngọc T1 và Trần Ngọc Đăng K cũng có nguyện vọng được ở với bố nếu bố mẹ ly hôn. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng vào các Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 giao 02 con là Trần Ngọc T1, sinh ngày 31-3-2009, giới tính N và Trần Ngọc Đăng K, sinh ngày 31-8-2011, giới tính: Nam cho anh H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con: Anh H tự nguyện không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con nên chấp nhận sự tự nguyện của anh H là phù hợp với qui định của pháp luật.
- Về tài sản chung và vay nợ chung của vợ chồng: Anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Trần Xuân H là nguyên đơn trong vụ án nên phải chịu toàn bộ án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 68 Bộ luật Dân sự2015; khoản 2 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa anh Trần Xuân H và chị Nguyễn Thị Minh T.
-
Về nuôi con chung: Giao 02 con chung là Trần Ngọc T1, sinh ngày 31-3-2009, giới tính N và Trần Ngọc Đăng K, sinh ngày 31-8-2011, giới tính: Nam cho anh Trần Xuân H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Về cấp dưỡng nuôi con: Chấp nhận sự tự nguyện của anh H không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con.
Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Không ai được hạn chế, cản trở các quyền này.
Người không trực tiếp nuôi con chung có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi con, không được lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc giáo dục, nuôi dưỡng con của người trực tiếp nuôi con chung
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Trần Xuân H phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Khấu trừ khoản tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) anh Trần Xuân H đã nộp tại biên lai số 0002127 ngày 22-5-2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nam Định.
- Về quyền kháng cáo: Anh Trần Xuân H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Chị Nguyễn Thị Minh T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Thị Kim Huế |
CÁC THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Bản án số 260/2024/HNGĐ-ST ngày 19/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 260/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ án Hôn nhân gia đình giữa anh Trần Xuân Hưng và chị Nguyễn Thị Minh Thuỷ
