|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 260/2024/HS-PT Ngày: 18/6/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Nam Phương.
Các thẩm phán: Bà Phạm Thị Xuân Đào.
Bà Lê Thị Ký.
- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Kim Hải - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Tống Thị Thu Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 6 năm 2024, tại Hội trường số 4 trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 167/2024/TLPT-HS ngày 24 tháng 4 năm 2024, đối với bị cáo Lê Trần Anh T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 41/2024/HS-ST ngày 22/01/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
- Bị cáo có kháng cáo: Lê Trần Anh T, sinh năm 1999 tại Đồng Nai; Nơi cư trú: 293/82, khu phố E, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Trình độ học vấn: Lớp 09/12 ; Nghề nghiệp: Công nhân. Họ tên cha: Lê Tấn T1, sinh năm 1970; Họ tên mẹ: Trần Thị Thanh H, sinh năm 1977; Bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền án, tiền sự : Không
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Bản án sơ thẩm và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Trần Anh T là nhân viên giao hàng (shipper) của Công ty TNHH MTV C chi nhánh B, địa chỉ: số A đường Đ, Tổ E, khu phố H, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (Công ty C), được bố trí làm việc tại địa điểm kinh doanh Chi nhánh 3 LK8, khu phố G, phường T, thành phố B và được phân công nhiệm vụ đi giao các đơn hàng cho khách và thu tiền do khách hàng thanh toán để nộp về cho Công ty vào cuối ca làm việc trong ngày theo quy định. Trong quá trình làm việc, ngày 11/01/2021 T đã nhận 09 đơn hàng của Công ty C (gồm các đơn hàng có mã vận đơn: 802009942288, 812057083348, 812057631215, 842068907629, 812057501712, 842068483497, 812057923373, 842069381305 và 842068692948) để đi giao cho khách. Cùng ngày, T đã giao thành công được 09 đơn hàng và thu được tổng số tiền 27.457.693 đồng (Hai mươi bảy triệu, bốn trăm năm mươi bảy nghìn, sáu trăm chín mươi ba đồng) nhưng T đã lợi dụng nhiệm vụ được phân công và dùng thủ đoạn khai báo gian dối trên phần mềm (App) quản lý giao hàng của Công ty (được cài đặt trên điện thoại cá nhân của T) thể hiện kết quả chưa giao được 09 đơn hàng trên để chiếm đoạt số tiền 27.457.693 đồng (Hai mươi bảy triệu, bốn trăm năm mươi bảy nghìn, sáu trăm chín mươi ba đồng) tiêu xài hết, thì bị Công ty C kiểm tra phát hiện, tố cáo Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B khởi tố, điều tra xử lý.
Tại Bản án số 41/2024/HS-ST ngày 22/01/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai:
Áp dụng khoản 1 Điều 353; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về án phí.
Tuyên bố bị cáo Lê Trần Anh T phạm tội “Tham ô tài sản”. Xử phạt bị cáo Lê Trần Anh T: 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào tù chấp hành án.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về phần án phí, quyền kháng cáo theo quy định.
Ngày 02/02/2024, Bị cáo kháng cáo đối với Bản án số 41/2024/HS-ST ngày 22/01/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai để xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa bị cáo Lê Trần Anh T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và khẳng định cấp sơ thẩm xử bị cáo về tội “Tham ô tài sản” là có cơ sở đúng pháp luật. Tại tòa bị cáo tiếp tục kháng cáo và đề nghị Hội đồng xét xử giảm án cho bị cáo.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai:
Bị cáo đã khai nhận tội, cấp sơ thẩm xử bị cáo về tội “Tham ô tài sản” là đúng pháp luật. Cấp sơ thẩm đã xem xét toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo, xử bị cáo mức án 02 năm 03 tháng tù giam là đúng và tương xứng hành vi phạm tội của bị cáo. Mức án trên là không nặng, bị cáo kháng cáo xin giảm án nhưng không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ gì mới nên đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Quá trình tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, Hội đồng xét xử đánh giá các quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng pháp luật.
Kháng cáo của bị cáo trong hạn luật định nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Về nội dung vụ án:
Lê Trần Anh T là nhân viên giao hàng (shipper) của Công ty TNHH MTV C chi nhánh B, địa chỉ: số A đường Đ, Tổ E, khu phố H, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (Công ty C). Bị cáo được phân công nhiệm vụ đi giao các đơn hàng cho khách và thu tiền do khách hàng thanh toán để nộp về cho Công ty vào cuối ca làm việc trong ngày theo quy định. Bị cáo đã nhận 09 đơn hàng và đã giao thành công được 09 đơn hàng, thu được tổng số tiền 27.457.693 đồng (Hai mươi bảy triệu, bốn trăm năm mươi bảy nghìn, sáu trăm chín mươi ba đồng) nhưng bị cáo không nộp về Công ty mà chiếm đoạt. Hành vi bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tham ô tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 353 Bộ luật hình sự. Cấp sơ thẩm xử bị cáo Lê Trần Anh T về tội danh và điều luật như trên là đúng pháp luật.
[2] Xét nội dung kháng cáo:
Hành vi của bị cáo Lê Trần Anh T đã phạm vào khoản 1 Điều 353 Bộ luật hình sự. Tại khoản 1 Điều 353 Bộ luật hình sự có mức án từ 02 năm đến 07 năm tù giam. Bị cáo chiếm đoạt số tiền 27.457.693 đồng, cấp sơ thẩm xử bị cáo 02 năm 03 tháng tù giam là tương xứng với tính chất mức độ phạm tội của bị cáo, đã xem xét nhân thân, thành khẩn khai báo, đã thực hiện bồi thường là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Bị cáo kháng cáo xin giảm án nhưng không cung cấp được tỉnh tiết giảm nhẹ nào mới nên cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[3] Xét quan điểm và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[4] Về án phí HSPT: Kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, 356 Bộ luật tố tụng hình sự.
Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Lê Trần Anh T, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Căn cứ khoản 1 Điều 353; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Lê Trần Anh T 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù giam về tội “Tham ô tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Nam Phương |
Bản án số 260/2024/HS-PT ngày 18/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự phúc thẩm (tham ô tài sản)
- Số bản án: 260/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Tham ô tài sản)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 18/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo phạm tội Tham ô tài sản
