|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
|
Bản án số: 260/2024/HS-ST
Ngày 10 - 9 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Nam.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Từ Anh Tuấn
- Bà Nguyễn Thị Thu Vân
Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Ngọc Linh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Lê Thanh Tùng, Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 237/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 7 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 245/2024/QĐXXST-HS ngày 01/8/2024, đối với bị cáo:
Vi Thị L, sinh ngày 23 tháng 02 năm 1996 tại tỉnh Nghệ An; thường trú: Xóm B, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Thái; tôn giáo: Không; giới tính: Nữ; con ông Vi Văn T, sinh năm 1970 và bà Vi Thị H, sinh năm 1976; bị cáo có 02 em ruột (lớn sinh năm 1997, nhỏ sinh năm 2002); có 04 con (lớn nhất sinh năm 2018, nhỏ nhất sinh năm 2023);
Tiền án:
- + Năm 2021, bị Tòa án nhân dân nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xử phạt 01 năm 02 tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại bản án số 384/2021/HSST ngày 31/12/2021, đã nộp án phí ngày 14/02/2022. Bị cáo chưa chấp hành án.
- + Năm 2022, bị Tòa án nhân dân nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương xử phạt 05 năm 06 tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại bản án số 53/2021/HSST ngày 10/3/2022, đã nộp án phí ngày 10/11/2022. Bị cáo chưa chấp hành án.
- + Năm 2022, bị Tòa án nhân dân nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương xử phạt 08 năm tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại bản án số 210/2022/HSST ngày 27/7/2022, nộp án phí ngày 10/11/2022. Bị cáo chưa chấp hành án.
Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 21/10/2019, bị phòng C Công an tỉnh B ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 41 ngày 21/10/2019 về hành vi “Bán dâm”. Bị cáo đã nộp phạt ngày 29/10/2019.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú ngày 27/12/2023. Ngày 28/12/2023 đi chấp hành án phạt tù tại Trại giam A cho đến nay. Có mặt.
- Người chứng kiến: Bùi Tấn T1, sinh năm 1998. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bản thân Vi Thị L là đối tượng nghiện ma tuý từ năm 2019 cho đến nay, L ở trọ tại phòng trọ số D, nhà trọ số H, đường N, khu phố T, phường T, thành phố D. Tháng 9/2023, L chuyển sang ở phòng trọ cùng với Trần Văn P là bạn trai của L tại phòng trọ số 2, nhà trọ số A, khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương nhưng vẫn giữ lại phòng số 4, nhà trọ số H, đường N, khu phố T, phường T, thành phố D. Ngày 15/12/2023, L và P xảy ra mâu thuẫn, nên L sử dụng điện thoại di động của mình nhãn nhiệu Oppo F11 (điện thoại này đã bị bể nên L đã bán cho người đàn ông thu mua điện thoại hỏng) và sử dụng sim rác (L không nhớ số điện thoại) để liên hệ người bán ma túy (không rõ nhân thân, lai lịch) đặt mua 10 viên ma túy loại hồng phiến với giá 800.000 đồng. Sau đó, người nam thanh niên (không rõ nhân thân, lai lịch) bán ma tuý hẹn L đến khu vực đường M - T thuộc khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương để lấy ma túy. Khi gặp người đàn ông bán ma túy, L trả 800.000 đồng cho người bán ma tuý được 01 túi nilong miệng kéo dính đựng 10 viên nén (gồm 08 viên nén màu đỏ và 02 viên nén màu xanh) sau đó L về lại phòng trọ số 2, nhà trọ số A, khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương để sử dụng. Tại đây, L đổ ma tuý ra để sử dụng, vừa sử dụng hết 01 viên nén màu đỏ thì P về đến phòng trọ, do sợ P biết việc L sử dụng ma túy nên L đã lấy một mảnh giấy bạc gói số ma túy còn lại là 07 viên nén màu đỏ và 02 viên nén màu xanh cất giấu vào ngăn kéo dưới cùng của tủ quần áo bằng nhựa phía đầu giường để không cho P biết. Khoảng 23 giờ 10 phút ngày 16/12/2023, Công an thành phố D, tỉnh Bình Dương phối hợp Công an phường T tiến hành kiểm tra hành chính nhà trọ A, khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Qua kiểm tra, phát hiện tại phòng trọ số B, Trần Văn P có biểu hiện nghi vấn sử dụng trái phép chất ma tuý, kết quả xét nghiệm Trần Văn P dương tính với Methamphetamine. Tại Công an phường T, thành phố D, tỉnh Bình dương, P khai nhận bản thân sử dụng trái phép chất ma tuý từ năm 2020 cho đến nay. Phòng trọ số 2 nhà trọ A, khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương do P thuê ở, đến khoảng tháng 9/2023 thì P cho bạn gái của P tên Vi Thị L ở chung. Cùng ngày, Công an thành phố D, tỉnh Bình Dương tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trần Văn P, tại phòng trọ số B nhà T, khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Qua khám xét, lực lượng Công an phát hiện trên đầu giường trong phòng trọ có 01 tủ quần áo bằng nhựa được khoan gắn vào tường, tại ngăn tủ dưới cùng có 01 gói giấy bạc bên trong chứa 09 (chín) viên nén (gồm 07 viên nén màu đỏ và 02 viên nén màu xanh) nghi là chất ma tuý. Qua làm việc, P khai nhận không biết gì về số viên nén nói trên, phòng trọ chỉ có P, L và 03 người con nhỏ sinh sống. Đến 14 giờ 00 phút ngày 18/12/2023, Vi Thị L đến Cơ quan Công an thành phố D, tỉnh Bình Dương đầu thú và khai nhận số viên nén mà lực lượng Công an thu giữ trong tủ nhựa tại phòng trọ số B nhà T, khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương là của L cất giấu để sử dụng.
Vật chứng thu giữ: 09 (chín) viên nén (07) viên nén màu đỏ và 02 viên nén màu xanh).
Tại Bản kết luận giám định số 38/MT-PC09 ngày 25/12/2023 của Phòng C Công an tỉnh B, kết luận mẫu tinh thể gửi giám định là ma túy, mẫu viên nén màu xanh, gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,1492 gam (M2); Mẫu viên nén màu đỏ, có khối lượng 0,7030 gam (M1) tìm không thấy trong danh mục chất ma túy.
Ngày 27/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D đã ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, định khởi tố bị can đối với Vi Thị L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Cáo trạng số: 252/CT-VKS-DA ngày 24 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Vi Thị L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại Điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo Vi Thị L từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù.
Xử lý vật chứng:
- - Đối với mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong ghi số 38/PC09 có khối lượng M1 = 0,4960 gam cần tịch thu tiêu hủy.
- - Đối với hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” của Trần Văn P. Ngày 27/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D, tỉnh Bình Dương đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 69/QĐ-XPVPHC xử phạt số tiền 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm nghìn đồng).
- - Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Vi Thị L hiện chưa rõ nhân thân, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D, tỉnh Bình Dương tiếp tục điều tra, xử lý sau.
Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo không có ý kiến tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát về điều luật áp dụng, khung hình phạt, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm dân sự, nhân thân và xử lý vật chứng. Đồng thời tại lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
- Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Căn cứ lời khai của bị cáo và chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, xác định: Ngày 15/12/2023, tại phòng trọ số B nhà trọ A, khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương, Vi Thị L có hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” có khối lượng 0,1492gam ma túy loại Methamphetamine.
Hành vi trên của Vi Thị L đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại Điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do đó, Cáo trạng số 252/CT - VKS ngày 24 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An và luận tội của Kiểm sát viên truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
- Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện là nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm đến sự quản lý của Nhà nước về ma túy. Bị cáo là người đã thành niên nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo hình phạt tù có thời hạn, mới tương xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, đủ để giáo dục, cải tạo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp tái phạm theo quy định tại Điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đầu thú tình tiết trên được quy định tại Điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, là người nghiện ma túy.
- Về xử lý vật chứng: Đối với mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong ghi số 38/PC09 có khối lượng M1 = 0,4960 gam. Đây là vật chứng của vụ án, là vật cấm lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy.
- Xét đề nghị Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo là phù hợp nên chấp nhận.
- Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Đ a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Vi Thị L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng Điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Vi Thị L 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 14 (mười bốn) năm 08 (tám) tháng tù tại Bản án số 210/2022/HS-ST ngày 27/7/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, buộc bị cáo Vi Thị L phải chấp hành hình phạt chung là 16 (mười sáu) năm 02 (hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/12/2023, được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 30/4/2021 đến ngày 01/5/2021 và 01 ngày 14/10/2021.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- - Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bì thư đã được phòng C niêm phong có ghi ký hiệu 38/PC09, giấy niêm phong có chữ ký của Phạm Hải P1 (cán bộ đội CSKTMT Công an thành phố D), Trần Hoàng H1 (cán bộ Phòng C Công an tỉnh B), Trần Văn P (người chứng kiến), bên trong chứa 0,4960 gam ma tuý, loại Methamphetamine là mẫu vật còn lại sau giám định (theo biên bản đóng gói niêm phong và kết luận giám định số 38/KL- KTHS(MT) ngày 25/12/2023 của Phòng C Công an tỉnh B).
Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/8/2024.
- Về án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Bị cáo Vi Thị L phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Viết Nam |
Bản án số 260/2024/HS-ST ngày 10/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 260/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
