TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 260/2023/HS-ST Ngày 08-11-2023 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hiền.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Thảo.
Ông Nguyễn Thanh Cần.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Nhân - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trọng - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 11 năm 2023, tại Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 256/2023/TLST-HS ngày 05 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 265/2023/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo:
Trần Văn L, sinh năm 1997 tại tỉnh Đồng Nai; nơi cư trú: ấp D, xã L, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa (học vấn): 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn D và bà Lê Thị L1; tiền sự: không; nhân thân: không;
Tiền án:
Ngày 24 tháng 9 năm 2018, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai xử phạt 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án hình sự sơ thẩm số 325/2018/HS-ST (BL 79-80); chấp hành xong hình phạt tù ngày 10/02/2019 (BL 72), chưa đóng án phí theo quy định (BL 106).
Ngày 06 tháng 01 năm 2020, bị Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án hình sự sơ thẩm số 01/2020/HS-ST (BL81-85); chấp hành xong hình phạt tù ngày 07/10/2020 (BL 73), chưa đóng án phí theo quy định (BL 106).
Ngày 13/4/2023, bị bắt quả tang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy và ngày 14/4/2023 bị tạm giữ, tạm giam cho đến nay; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Ông Huỳnh Ngọc Anh T; sinh năm 1990; địa chỉ: khu phố E, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận; có đơn xin vắng mặt.
2. Bà Đặng Thị S, sinh năm 1960; địa chỉ: số H T, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; có đơn xin vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Văn L là đối tượng sử dụng ma túy từ năm 2021; loại ma túy L sử dụng là ma tuý đá (Methamphetamine).
Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 13/4/2023, do cần ma túy để sử dụng nên L điều khiển xe mô tô biển số 59S1 – 044.71 đi từ phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai đến khu vực thuộc ngã tư Vũng Tàu, thành phố B, tỉnh Đồng Nai để tìm gặp đối tượng tên H (không rõ nhân thân) mua ma túy về sử dụng. Khi đến nơi, L gặp H và hỏi mua 350.000 đồng ma túy. Sau khi giao tiền và nhận 01 (một) túi nylon miệng kéo dính chứa chất tinh thể màu trắng, 01 (một) gói giấy bạc chứa chất tinh thể màu trắng là ma tuý, L cất vào túi quần phía sau bên phải rồi điều khiển xe đi lên tỉnh Đắk Nông để chơi. Khi đi đến khu phố B, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương thì bị lực lượng tuần tra Công an phường H kiểm tra và phát hiện bên trong túi quần phía sau bên phải của L có 01 (một) túi nylon miệng kéo dính chứa chất tinh thể màu trắng, 01 (một) gói giấy bạc chứa chất tinh thể màu trắng. L khai nhận, chất tinh thể màu trắng là ma túy đá nên lực lượng tuần tra tiến hành niêm phong vật chứng và đưa L đến trụ sở Công an phường H, thành phố T để lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Vật chứng bị thu giữ gồm: 01 (một) túi nylon miệng kéo dính chứa chất tinh thể màu trắng, 01 (một) xe mô tô biển số 59S1 – 044.71 có số máy 55P1031759, số khung RLCE55P10BY031776.
Tại Kết luận giám định số 202/MT - PC09 ngày 18/4/2023 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: 01 (một) túi nylon miệng kéo dính chứa chất tinh thể màu trắng và 01 (một) gói giấy bạc chứa chất tinh thể màu trắng thu giữ của Trần Văn L là chất ma túy, loại Methamphetamine, có trọng lượng 0,8012 gam.
Xe mô tô thu giữ có số máy 55P1031759, số khung RLCE55P10BY031766: qua xác minh xác định xe có biển số 86B1 – 034.91, số máy 55P1031759, số khung RLCE55P10BY031776 do ông Huỳnh Ngọc Anh T (sinh năm 1990, hộ khẩu thường trú: khu phố E, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận) đứng tên đăng ký chủ sở hữu. Ông T khai nhận đã bán xe mô tô trên vào năm 2016 khi làm công nhân tại tỉnh Đồng Nai cho một người bạn tên H1 quê quán tại tỉnh Ninh Thuận.
Đối với biển số 59S1-044.71: qua xác minh xác định xe mô tô biển số 59S1-044.71 do bà Đặng Thị S (sinh năm 1960, hộ khẩu thường trú: số A, đường T, Phường E, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh) đứng tên đăng ký chủ sở hữu. Bà S khai nhận, trong quá trình sử dụng xe đã làm mất biển số 59S1 - 044.71 và bà đã làm lại biển số mới. Bị cáo L khai, xe mô tô biển số 59S1-044.71 do L mua của 01 người nam thanh niên, không rõ nhân thân.
Tại Cáo trạng số 274/CT-VKSTU ngày 03/10/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Trần Văn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên tham gia phiên tòa trình bày lời luận tội trong đó có nội dung: giữ nguyên quyết định cáo trạng đã truy tố đối với các bị cáo; đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về trách nhiệm hình sự: áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn L từ 05 năm đến 06 năm tù.
- Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: áp dụng các Điều 47 và 48 của Bộ luật Hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) túi nylon miệng kéo dính chứa chất tinh thể màu trắng là vật chứng trong vụ án; tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 (một) xe mô tô gắn biển số 59S1-044.71 màu xanh-trắng, số máy 55P1031759, số khung RLCE55P10BY031766 là phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội.
Tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, thống nhất tội danh, khung hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng và không có ý kiến tranh luận.
Bị cáo nói lời sau cùng: bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm chấp hành án xong, về làm lại cuộc đời.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[1.2] Về việc vắng mặt của người tham gia tố tụng: tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là ông Huỳnh Ngọc Anh T và bà Đặng Thị S vắng mặt do có đơn xin vắng mặt. Việc vắng mặt của những người có tên nêu trên không ảnh hưởng đến quá trình xét xử vụ án; quá trình điều tra, những người này cũng đã có lời khai đầy đủ. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự tiến hành xét xử vụ án.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên đã truy tố đối với bị cáo. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: ngày 13/4/2023, tại khu phố B, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương, bị cáo Trần Văn L có hành vi tàng trữ trái phép 0,8012 gam ma túy, loại Methamphetamine nhằm mục đích để sử dụng.
Bị cáo Trần Văn L đã 02 lần bị kết án, chưa được xóa án tích lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội nên bị áp dụng tình tiết định khung tăng nặng “Tái phạm nguy hiểm”. Vì vậy, hành vi của bị cáo thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý các chất gây nghiện của Nhà nước. Về nhận thức, bị cáo biết ma túy (Methamphetamine) là loại chất gây nghiện nguy hiểm do Nhà nước độc quyền và thống nhất quản lý. Vi phạm quy định về chế độ quản lý các chất ma túy không những gây khó khăn cho việc kiểm soát chất ma túy của Nhà nước mà còn đe dọa nghiêm trọng đến an toàn, trật tự công cộng, sức khỏe và sự phát triển lành mạnh của xã hội, là một trong những nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm hình sự khác. Để có ma túy sử dụng mà bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Bị cáo nhận thức rõ việc tàng trữ trái phép chất ma túy là trái pháp luật, nếu bị phát hiện sẽ bị trừng trị nghiêm khắc nhưng vẫn cố ý thực hiện, điều đó cho thấy bị cáo bất chấp hậu quả và xem thường pháp luật. Hiện nay, tình hình vận chuyển, tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy với số lượng lớn đang diễn biến phức tạp tại địa bàn tỉnh Bình Dương nên đối với hành vi của bị cáo cần phải xử phạt mức án nghiêm khắc mới có tác dụng giáo dục, trừng trị đối với bị cáo, góp phần đấu tranh phòng ngừa cho xã hội, đặc biệt là đối với tội phạm ma túy.
[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không phạm phải.
[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, do vậy Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
[6] Đối chiếu với các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất, mức độ hành vi phạm tội cũng như nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét
thấy, mức hình phạt đại diện Viện Kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp.
[7] Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
Đối với 01 (một) bì thư niêm phong ký hiệu 202/PC09 là vật chứng trong vụ án và là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đối với 01 (một) xe mô tô Yamaha Exciter gắn biển số 59S1-044.71 màu xanh-trắng, số máy 55P1-031759, số khung RLCE55P10BY031766, xe không kính chiếu hậu phải, không kiểm tra máy là phương tiện bị cáo sử dụng đi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo không cung cấp được giấy tờ chứng minh xe mô tô nêu trên thuộc quyền sở hữu của bị cáo và Cơ quan điều tra cũng đã thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng để tìm chủ sở hữu theo quy định nhưng không có người nhận nên Hội đồng xét xử tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước theo điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[8] Về án phí sơ thẩm: bị cáo phạm tội và bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Trần Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
1. Về trách nhiệm hình sự:
1.1. Căn cứ vào điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Trần Văn L 05 (năm) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13 tháng 4 năm 2023.
2. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: áp dụng Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; các Điều 47 và 48 của Bộ luật Hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bì thư niêm phong ký hiệu 202/PC09, có chữ ký người bị bắt Trần Văn L; người chứng kiến Lê Quốc H2, Hà Văn M; cán bộ niêm phong Đỗ Minh S1; dấu đỏ của Công an phường H và dấu đỏ niêm phong của Phòng K Công an tỉnh B; bên trong chứa Methamphetamine, theo Kết luận giám định số 2021/KL-KTHS(MT) ngày 18/4/2023 của Phòng K Công an tỉnh B.
Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 (một) xe mô tô Yamaha Exciter gắn biển số 59S1-044.71 màu xanh-trắng, số máy 55P1-031759, số khung RLCE55P10BY031766, xe không kính chiếu hậu phải, không kiểm tra máy
(Theo Biên bản giao nhận vật đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 03/10/2023).
3. Về án phí hình sự sơ thẩm:
Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Bị cáo Trần Văn L phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Hiền |
Bản án số 260/2023/HS-ST ngày 08/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 260/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ ma túy
