|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 260/2025/HS-ST Ngày: 12 - 11 - 2025 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đặng Thuỳ Trang
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Bích
Ông Nguyễn Văn Quản
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phương Thuý – Thư ký Toà án nhân dân Khu vực 7, Thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Hoàng Hồ Thanh Thanh – Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân Khu vực 7, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai trực tiếp vụ án hình sự thụ lý số 221/2025/TLST-HS ngày 21 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1010/2025/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Tấn H – sinh năm: 1968 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi ĐKTT: Số C đường C, phường B, Quận P (nay là phường C), Thành phố Hồ Chí Minh, đã bị xoá hộ khẩu; nơi cư trú hiện nay: Số A đường T, phường E, Quận G (nay là phường A), Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn N (đã chết) và bà Nguyễn Thị S (đã chết); Vợ: Trần Thị Cẩm Q và có 03 con, lớn nhất sinh năm 1992, nhỏ nhất sinh năm 2003.
Tiền sự: Không
Tiền án: Ngày 20/9/2022, Toà án nhân dân Quận Bình Tân cũ xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 185/2022/HSST; chấp hành xong hình phạt tù ngày 20/5/2023, nộp tiền án phí ngày 04/7/2023.
Nhân thân:
- - Ngày 18/4/1987, Công an Q1 cũ, Thành phố Hồ Chí Minh bắt về hành vi “Vi phạm luật bầu cử”.
- - Ngày 22/10/1987, Toà án nhân dân Quận Phú Nhuận cũ xử phạt 12 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo Bản án số 156/HSST; chấp hành xong hình phạt tù ngày 18/4/1988, nộp tiền án phí ngày 24/11/1987.
- - Ngày 20/7/1988, Công an Quận P cũ bắt về hành vi “Trốn khỏi nơi giam giữ”, được tạm giam để đảm bảo thi hành bản án số 156/HSST ngày 22/10/1987.
- - Ngày 03/7/1991, Ủy ban nhân dân Quận C1 cũ, Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định số 161 về việc Cưỡng bức lao động trong thời hạn 24 tháng do có hành vi “Trộm cắp tài sản của công dân”; đã chấp hành xong.
- - Ngày 08/6/1993, Toà án nhân dân Quận Phú Nhuận cũ xử phạt 24 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo Bản án số 53/HSST; chấp hành xong ngày 02/9/1994.
- - Ngày 09/5/2000, Toà án nhân dân Quận Phú Nhuận cũ xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân” theo Bản án số 47/HSST; chấp hành xong hình phạt tù ngày 04/5/2001; nộp tiền án phí ngày 08/6/2001.
- - Ngày 19/9/2003, Toà án nhân dân Quận Phú Nhuận cũ xử phạt 01 năm 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 66/HSST; chấp hành xong hình phạt tù ngày 07/01/2005, nộp tiền án phí ngày 31/12/2004.
- - Ngày 16/5/2011, Toà án nhân dân Quận Gò Vấp cũ, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 85/2011/HSST; đã chấp hành xong.
- - Ngày 08/11/2011, Toà án nhân dân Quận Phú Nhuận cũ xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 121/HSST; chấp hành xong ngày 15/01/2013; nộp án phí ngày 18/9/2012.
- - Ngày 17/01/2025, Toà án nhân dân Quận Bình Thạnh cũ xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 28/2025/HSST.
Bị cáo hiện đang chấp hành hình phạt tù tại Trại tạm giam Đại Bình; được di lý về tạm giam tại Phân trại tạm giam Thông Tây Hội - Trại tạm giam số 2, Công an Thành phố H từ ngày 23/5/2025; có mặt.
- Bị hại:
+ Anh Lỡ Quốc C, sinh năm: 2001; địa chỉ: 4 H, phường B, Quận G (nay là phường T), Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.
+ Anh Trương Quốc N1, sinh năm: 2001; địa chỉ: B đường A, khu phố H, phường T, thành phố T (nay là phường T), Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ 00 ngày 30/5/2024, Nguyễn Tấn H mang theo 02 đoản kim loại, đi bộ từ phòng trọ ở địa chỉ số A T, phường E, Quận G (nay là phường A), Thành phố Hồ Chí Minh. Khi đến địa chỉ số A đường L, phường A, Quận G (nay là phường G), Thành phố Hồ Chí Minh thì thấy trước cửa nhà có dựng 02 chiếc xe môtô, gồm xe môtô hiệu Honda Blade, biển số 77G1-714.19 của anh Lỡ Quốc C và xe môtô hiệu Honda Wave màu trắng đen bạc, biển số 77G1-851.51 của anh Trương Quốc N1. Hài quan sát xung quanh thấy không có ai trông coi nên đến vị trí hai chiếc xe lần lượt dùng tay, bẻ khóa cổ của hai chiếc xe rồi dùng đoản phá khoá đút vào ổ khoá mỗi xe vặn, khởi động xe để lấy trộm nhưng không có xe nào khởi động được nên H bỏ đi.
Cùng ngày, H bị Công an Quận B bắt vì trước đó có hành vi trộm cắp xe môtô trên địa bàn Quận B.
Tại Công an Quận B, Nguyễn Tấn H khai nhận hành vi vi phạm tội trên địa bàn Quận G như trên nên Công an Quận B tiến hành đưa Nguyễn Tấn H đến địa chỉ số A đường L, phường A, Quận G xác định địa điểm và thông báo Công an phường A, Quận G (nay là phường G), lập hồ sơ nguồn tin về tội phạm.
Ngày 11/9/2024, anh Lỡ Quốc C và anh Trương Quốc N1 đến Cơ quan điều tra trình báo vụ án.
* Vật chứng của vụ án:
- 01 ổ khoá xe mô tô bên trong bị cạy phá, là ổ khoá xe mô tô hiệu Honda Blade, biển số 77G1-714.19 của anh Lỡ Quốc C (do anh C giao nộp).
* Tại Kết luận định giá tài sản số 26/KL-HĐĐGTS ngày 07/02/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận G đã kết luận: “01 xe môtô hai bánh hiệu Honda Blade, biển số 77G1-714.19, số khung RLHJA3651LY000648, số máy JA36E0838500 đã qua sử dụng trị giá 11.600.000đồng và 01 xe môtô hai bánh hiệu Honda Wave, biển số 77G1-851.51, số khung RLHJA3927MY001323, số máy JA39E2115672 đã qua sử dụng, trị giá 12.500.000đồng. Tổng trị giá tài sản là 24.100.000đồng” (bút lục 25, 26).
Tại phiên toà bị cáo Nguyễn Tấn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.
Công bố lời khai của bị hại như bị cáo đã khai; các bị hại Lỡ Quốc C và Trương Quốc N1 không yêu cầu bị cáo bồi thường.
* Tại Cáo trạng số 22/CT-VKS-KV7 ngày 18/10/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 7 đã truy tố bị cáo Nguyễn Tấn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
* Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 giữ nguyên quan điểm như cáo trạng truy tố đối với bị cáo Nguyễn Tấn H và đề nghị:
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm r, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 ; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Tấn H từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Không áp dụng hình phạt bổ sung.
- Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại không có yêu cầu bồi thường nên không xem xét giải quyết.
- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị: Tịch thu tiêu huỷ 01 ổ khoá xe môtô bên trong bị cạy phá, là ổ khoá xe môtô hiệu Honda Blade, biển số 77G1-714.19.
Bị cáo không tranh luận và không nói lời nói sau cùng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về chứng cứ xác định có tội: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp lời khai của bị hại; phù hợp kết luận định giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ mà Cơ quan điều tra thu thập trong hồ sơ vụ án nên có đủ căn cứ xác định:
Vào khoảng 14 giờ 00 phút ngày 30/5/2024 tại địa chỉ số A đường L, phường A, Quận G (nay là phường G), Thành phố Hồ Chí Minh, Nguyễn Tấn H đã có hành vi lén lút trộm cắp 01 xe môtô hiệu Honda Blade, biển số 77G1-714.19 của anh Lỡ Quốc C, trị giá 11.600.000đồng và 01 xe môtô hiệu Honda Wave màu trắng đen bạc, biển số 77G1-851.51 của anh Trương Quốc N1, trị giá 12.500.000đồng; tổng trị giá tài sản là 24.100.000đồng.
Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp nên hành vi của bị cáo Nguyễn Tấn H đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 đã truy tố là đúng người, đúng tội và phù hợp với quy định của pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Tính chất vụ án tuy ít nghiêm trọng nhưng hành vi phạm tội của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm mất trật tự trị an tại địa phương và gây tâm lý lo ngại trong nhân dân. Vì vậy, cần thiết phải xử phạt bị cáo một mức án nghiêm để giáo dục cải tạo bị cáo và đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Tại Bản án số 185/2022/HSST ngày 20/9/2022 của Toà án nhân dân Quận Bình Tân cũ xử phạt bị cáo 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 20/5/2023 nên lần phạm tội này bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự “Tái phạm”. Bản án số 28/2025/HSST ngày 17/01/2025 của Toà án nhân dân Quận Bình Thạnh cũ không dùng để tính tại phạm hoặc tái phạm nguy hiểm.
Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; sau khi vụ án xảy ra, bị cáo đã tự nguyện khai nhận về hành vi của mình khi chưa bị phát giác với Cơ quan điều tra Quận B nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nhưng nhân thân xấu, nhiều lần bị xử phạt về tội “Trộm cắp tài sản” và có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nên cần xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc để giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng chống tội phạm nói chung. Tại Bản án số 28/2025/HSST ngày 17/01/2025, Toà án nhân dân Quận Bình Thạnh (nay là Toà án nhân dân Khu vực 5), Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt bị cáo 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” nên cần áp dụng Điều 56 Bộ luật Hình sự để tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại anh Lỡ Quốc C và anh Trương Quốc N1 không có yêu cầu bồi thường nên không xem xét, giải quyết.
[7] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền. Xét tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[8] Về vật chứng, xử lý vật chứng: Đối với 01 ổ khoá xe môtô bên trong bị cạy phá, là ổ khoá xe môtô hiệu Honda Blade, biển số 77G1-714.19 của anh Lỡ Quốc C, không còn giá trị nên tịch thu tiêu huỷ.
[9] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tấn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm r, s khoản 1 Điều 51; các điểm r, s khoản 1 Điều 51; các điều 38, 56 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Tấn H 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp với hình phạt 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” của Bản án số 28/2025/HSST ngày 17/01/2025 của Toà án nhân dân Quận Bình Thạnh (nay là Toà án nhân dân Khu vực 5), Thành phố Hồ Chí Minh. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 04 (bốn) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/6/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu huỷ 01 ổ khoá xe môtô bên trong bị cạy phá (Theo quyết định chuyển vật chứng số 08/QĐ-VKS-KV7 ngày 18/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7, Thành phố Hồ Chí Minh).
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo Nguyễn Tấn H phải nộp 200.000đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Đặng Thuỳ Trang |
6
Bản án số 260/2025/HS-ST ngày 12/11/2025 của Toà án nhân dân Khu vực 7, Thành phố Hồ Chí Minh về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 260/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Toà án nhân dân Khu vực 7, Thành phố Hồ Chí Minh
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Tấn H - Trộm cắp tài sản
