|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - hạnh phúc |
|
Bản án số: 260/2025/DS-PT Ngày: 30/6/2025 V/v: “Tranh chấp kiện đòi tài sản là quyền sử dụng đất” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Nam Phương.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Xuân Quang.
Ông Dương Lê Bửu Thiện.
- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Kim Hải - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Sương - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 6 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 71/2025/DS-PT ngày 17/02/2025 về việc “Tranh chấp kiện đòi tài sản là quyền sử dụng đất”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 149/2025/QĐ-PT ngày 24/4/2025, thông báo về việc thay đổi thời gian xét xử số 498/TB-TA ngày 29/5/2025 và thông báo về việc mở lại phiên tòa số 550/TB-TA ngày 10/6/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1962 và bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1968.
Địa chỉ: 1369/158/16 L, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh). SĐT: 0964.157.xxx
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: ông Phạm Trung T2, sinh năm 1986.
Địa chỉ: đường Đ, ấp P, xã Đ, huyện N (nay là xã Đ), tỉnh Đồng Nai. SĐT: 0909.079.xxx và 0979 867 764
- Bị đơn: Ông Huỳnh Văn S, sinh năm 1974.
Địa chỉ: tổ A, ấp T, xã X, huyện T (nay là phường B), tỉnh Đồng Nai. SĐT: 0387.942.xxx
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Phạm Thị Cẩm H, sinh năm 1969.
- Bà Huỳnh Tuyết S1, sinh năm 2005.
- Cháu Vũ Hoàng Nhã U, sinh năm 2022.
Cùng địa chỉ: tổ A, ấp T, xã X, huyện T (nay là phường B), tỉnh Đồng Nai.
(Bà Huỳnh Tuyết S1 là mẹ ruột và là người đại diện theo pháp luật của cháu Vũ Hoàng Nhã U).
Người đại diện theo ủy quyền của bà Phạm Thị Cẩm H: Bà Huỳnh Tuyết S1, sinh năm 2005; Địa chỉ: tổ A, ấp T, xã X, huyện T (nay là phường B), tỉnh Đồng Nai.
- Ông Liêu Hữu T3, sinh năm 1953.
Địa chỉ: ấp T, xã X, huyện T (nay là phường B), tỉnh Đồng Nai.
- Ông Trần Tấn T4, sinh năm 1982.
Địa chỉ: tổ A, ấp T, xã X, huyện T (nay là phường B), tỉnh Đồng Nai. Điện thoại: 0986.525.xxx
- Bà Trần Thị H1, sinh năm 1972.
Địa chỉ: tổ A ấp T, xã X, huyện T (nay là phường B), tỉnh Đồng Nai. Điện thoại: 0977.314.xxx
- Bà Nguyễn Thị Mỹ L, sinh năm 1971.
Địa chỉ: B, ấp B, xã Q, huyện T (nay là xã G), tỉnh Đồng Nai.
- Bà Nguyễn Thị Tuyết T5, sinh năm 1973.
Địa chỉ: tổ G, ấp L, xã H, huyện T (nay là xã D), tỉnh Đồng Nai.
Do có kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị T1.
(Ông T2, ông S, bà S1, ông T3, ông T4, bà L có mặt, các đương sự khác vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Bản án sơ thẩm:
+/ Theo đơn khởi khởi kiện đề ngày 11/11/2022 các lời khai tiếp theo nguyên đơn ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị T1 (do ông Phạm Trung T2 là người đại diện theo ủy quyền) trình bày:
Ngày 24/12/2021 ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị T1 có ký hợp đồng chuyển nhượng thửa đất số 152, tờ bản đồ số 10 tại xã X, huyện T từ bà Phạm Thị N và bà Nguyễn Thị Mỹ L. Ngày 11/01/2022 ông T, bà T1 được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất trên. Sau khi được cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất ông T, bà T1 về xem đất để làm hàng rào thì phát hiện gia đình ông Huỳnh Văn S đang sinh sống ở trên một phần thửa đất của ông T, bà T1. Qua hòa giải, làm việc tại UBND xã X thì ông T, bà T1 biết được ông S trước đó đã mua lại của ông Liêu Hữu T3 một phần đất có diện tích là 175 m2 thuộc một phần thửa 152, tờ bản đồ số 10. Ông T, bà T1 đã nhiều lần yêu cầu ông S cùng gia đình dời khỏi phần đất trên và hoàn trả mặt bằng nhưng ông S không đồng ý.
Nay ông T, bà T1 yêu cầu Tòa án buộc ông S cùng những người trong gia đình ông S trả lại diện tích là 175 m2 đất thuộc một phần thửa 152, tờ bản đồ số 10 (theo trích lục và đo hiện trạng thửa đất bản đồ địa chính số: 2267/2023 diện tích đất được giới hạn bởi các mốc (2, 3, a, 1, 2) do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ - chi nhánh T8 phát hành ngày 21/7/2023) cho ông T, bà T1. Ông T, bà T1 không đồng ý hỗ trợ, đền bù cho ông S và gia đình chi phí cho việc di dời, tháo dỡ công trình và tài sản trên đất.
+/ Về chi phí tố tụng: chi phí xem xét thẩm định tại chổ, đo đạc tài sản tổng số tiền ông T, bà T1 đã nộp tạm ứng là 4.945.800 đồng (bốn triệu, chín trăm bốn mươi lăm ngàn, tám trăm đồng) và tạm ứng chi phí định giá là 25.000.000đ (hai lăm triệu đồng). Tổng số tiền tạm ứng là 29.945.800đ (hai mươi chín triệu, chín trăm bốn mươi lăm ngàn, tám trăm đồng), trường hợp yêu cầu khởi kiện được chấp nhận thì ông T, bà T1 yêu cầu ông S phải thanh toán toàn bộ chi phí trên lại theo quy định.
Ông T, bà T1 đề nghị Tòa án căn cứ Chứng thư thẩm định giá số 40/TĐG-CT ngày 05/02/2024 của Công ty cổ phần T9 đối với đất tranh chấp và tài sản trên đất để làm cơ sở giải quyết vụ án.
Đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Liêu Hữu T3, bà Nguyễn Thị Ngọc H2 với bà Nguyễn Thị Tuyết T5 và các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của các chủ sử dụng đất sau này liên quan đến diện tích 175 m2 đất đang tranh chấp thì ông T, bà T1 không có ý kiến hay tranh chấp gì, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nếu có yêu cầu thì ông T, bà T1 sẽ khởi kiện bằng vụ án khác. Ngoài ra, ông T, bà T1 không còn ý kiến hay yêu cầu gì khác.
+/ Theo bản tự khai ngày 20/02/2023 các lời khai tiếp theo bị đơn ông Huỳnh Văn S trình bày:
Khoảng năm 2009 ông S có nhận chuyển nhượng diện tích 175 m2 đất thuộc thửa 152 tờ bản đồ số 10 tại xã X, huyện T của ông Liêu Hữu T3 theo giấy viết tay sang nhượng đất đề ngày 11/4/2009, giữa hai bên đã thực hiện xong việc giao nhận tiền và diện tích đất chuyển nhượng. Sau khi mua diện tích đất trên từ ông T3 thì ông S đã xây dựng căn nhà cấp bốn, ông S cùng gia đình sinh sống ổn định và không ai tranh chấp từ thời điểm mua đất đến khoảng đầu năm 2022 khi ông T, bà T1 tranh chấp với ông tại UBND xã X. Do không đủ diện tích tách thửa và không có điều kiện kinh tế nên diện tích 175 m2 đất thuộc thửa 152 tờ bản đồ số 10 từ thời điểm mua của ông T3 đến nay ông S chưa làm thủ tục để được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nay ông T, bà T1 yêu cầu ông S cùng gia đình trả lại diện tích 175 m2 đất thuộc thửa 152 tờ bản đồ số 10 tại
xã X, huyện T cho ông T, bà T1 thì ông S không đồng ý. Ông S đề nghị Tòa án bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Trường hợp Tòa án chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn thì ông S không yêu cầu Tòa án giải quyết bồi thường thiệt hại về tài sản trên đất trong vụ án này, nếu có yêu cầu thì ông S sẽ khởi kiện bằng vụ án khác.
Đối với tranh chấp về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông S với ông Liêu Hữu T3 đối với diện tích 175 m2 đất thì ông S không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này, nếu có yêu cầu thì ông S sẽ khởi kiện bằng vụ án khác.
Đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Liêu Hữu T3, bà Nguyễn Thị Ngọc H2 với bà Nguyễn Thị Tuyết T5 và các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của các chủ sử dụng đất sau này liên quan đến diện tích 175 m2 đất đang tranh chấp thì ông S không có ý kiến hay tranh chấp và không yêu cầu Tòa án giải quyết, nếu có thì ông S sẽ khởi kiện bằng vụ án khác.
Chứng thư thẩm định giá số 40/TĐG-CT ngày 05/02/2024 của Công ty cổ phần T9 đối với đất tranh chấp và tài sản trên đất thì ông S đồng ý và không có ý kiến hay yêu cầu gì.
Ngoài ra, ông S không còn ý kiến hay yêu cầu gì khác.
+/ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị Cẩm H, chị Huỳnh Tuyết S1 và cháu Vũ Hoàng Nhã U (chị S1 là mẹ và là người đại diện theo pháp luật của cháu U và là người đại diện theo ủy quyền của bà H) trình bày:
Về nguồn gốc diện tích 175 m2 đất thuộc một phần thửa 152 tờ bản đồ số 10 tại xã X như ông Huỳnh Văn S trình bày là đúng, bà Phạm Thị Cẩm H và chị Huỳnh Tuyết S1 đồng ý với ý kiến, yêu cầu của ông S trong quá trình giải quyết vụ án.
Trường hợp Tòa án chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn thì bà H, chị S1 cùng con của chị S1 đồng ý thực hiện theo các quyết định của cơ quan có thẩm quyền khi vụ án được giải quyết bằng quyết định hay bản án có hiệu lực pháp luật. Bà H và chị S1 không yêu cầu Tòa án giải quyết bồi thường thiệt hại về tài sản trong vụ án này, nếu có thì bà H và chị S1 sẽ khởi kiện bằng vụ án khác.
Đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Liêu Hữu T3, bà Nguyễn Thị Ngọc H2 với bà Nguyễn Thị Tuyết T5 và các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của các chủ sử dụng đất sau này liên quan đến diện tích 175 m2 đất đang tranh chấp thì bà H và chị S1 không có ý kiến hay tranh chấp gì, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nếu có thì bà H và chị S1 sẽ khởi kiện bằng vụ án khác.
Chứng thư thẩm định giá số 40/TĐG-CT ngày 05/02/2024 của Công ty cổ phần T9 đối với đất tranh chấp và tài sản trên đất thì bà H, chị S1 đồng ý và không có ý kiến hay yêu cầu gì.
Ngoài ra, bà H và chị S1 không còn ý kiến hay yêu cầu gì khác.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 32/2024/DS-ST ngày 09 tháng 9 năm 2024 của
Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất đã quyết định:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a, c khoản 1 Điều 39; 68, 77, 91; khoản 4, Điều 147; 158; 266 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Áp dụng Điều 129, 158, 182, 183, 186, 188, 189, 190, 221, 223, 398 và 688 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 166, 170 Luật Đất đai năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí; điểm a.4 và điểm a.6 tiểu mục 2.3 Mục 2 của Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao
Tuyên xử:
Bác toàn yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị T1 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” với ông Huỳnh Văn S và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị Cẩm H, chị Huỳnh Tuyết S1 và cháu Vũ Hoàng Nhã U về việc yêu cầu ông S và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trả lại diện tích 175 m2 đất thuộc một phần thửa 152 tờ bản đồ số 10 tại xã X, huyện T (theo Trích lục và đo hiện trạng thửa đất bản đồ địa chính số: 2267/2023 diện tích đất được giới hạn bởi các mốc (2, 3, a, 1, 2) do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ - chi nhánh T8 phát hành ngày 21/7/2023) và tháo dỡ toàn bộ tài sản trên đất.
Ngoài ra bản án còn quyết định về trách nhiệm nộp án phí, chi phí tố tụng, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự theo luật định.
Ngày 24/9/2024, nguyên đơn ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị T1, kháng cáo toàn bộ Bản án số 32/2024/DS-ST ngày 09 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai. Yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Phạm Trung T2 cho rằng trước đây hai bên có ngồi lại với nhau để bàn bạc là nguyên đơn sẽ hỗ trợ cho bị đơn 300.000.000 đồng hoặc nguyên đơn sẽ đổi một miếng đất khác. Bên phía bị đơn yêu cầu được hỗ trợ 800.000.000 đồng nên cuối cùng hai bên không thống nhất được. Đề nghị Tòa án xét xử theo quy định pháp luật.
* Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
Việc tuân theo pháp luật của Tòa án và nhưng người tham gia tố tụng được thực hiện đầy đủ.
Việc kháng cáo được thực hiện đúng theo quy định pháp luật nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Về đường lối: Ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị T1 khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Huỳnh Văn S phải trả lại diện tích đất 175 m² thuộc một phần thửa 152, tờ bản đồ số 10 tại xã X, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Về nguồn gốc diện tích đất tranh chấp: Diện tích 175 m² đất
đang tranh chấp thuộc một phần thửa 152, tờ bản đồ số 10 tại xã X có tổng diện tích 1175,1 m² đất được tách từ thửa 124, tờ bản đồ số 10. Thửa 124, tờ bản đồ số 10 được tách từ thửa 12, tờ bản đồ số 10 do ông Liêu Hữu T3, bà Nguyễn Thị Ngọc H2 đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có diện tích 7.527 m² đất (BL 199). Ngày 11/4/2009, ông T3 đã ký giấy sang nhượng diện tích 175 m² đất trên cho ông Huỳnh Văn S, hai bên đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thỏa thuận theo giao kết, cụ thể ông S đã thanh toán tiền 30.000.000 đồng và ông T3 đã giao đất cho ông S quản lý, sử dụng và xây dựng nhà cấp bốn cùng gia đình sinh sống ổn định từ năm 2009, không ai tranh chấp, không bị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai (BL 101). Theo ông Liêu Hữu T3, bà Nguyễn Thị Tuyết T5 xác nhận, do ông T3 đã chuyển nhượng diện tích 175 m² đất cho ông Huỳnh Văn S, nên ông T3, bà H2 chỉ thỏa thuận chuyển nhượng cho bà T5 diện tích 5.476 m² đất (trong tổng diện tích đất ông T3, bà H2 được cấp sổ đỏ là 5.649 m² đất) thể hiện qua hợp đồng đặt cọc lập ngày 14/5/2018 (BL 66). Sau khi thống nhất, giữa ông T3, bà T5 và ông S cùng có mặt để xác định diện tích đất, ranh mốc giới đất ông T3 bán cho ông S và phần diện tích đất còn lại ông T3, bà H2 chuyển nhượng cho bà T5. Do diện tích đất ông S nhận chuyển nhượng từ ông T3 không đủ điều kiện để tách thửa nên ông T3, bà T5 và ông S cùng thống nhất diện tích 175 m² đất của ông S nằm trong tổng diện tích 5.649 m² đất ông T3 chuyển nhượng cho bà T5 và sau này nếu bà T5 có chuyển nhượng cho người khác thì giữa bà T5 và chủ sử dụng đất mới cũng phải chừa lại phần diện tích 175 m² đất của ông S. Các bên cùng thống nhất nên ngày 05/6/2018 ông T3, bà H2 và bà Nguyễn Thị Tuyết T5 đã ký hợp đồng chuyển nhượng toàn bộ thừa 124, tờ bản đồ số 10 có diện tích 5.649 m² đất tại Văn phòng C. Tiếp sau đó, bà T5 đã chuyển nhượng thửa 124, tờ bản đồ số 10 có diện tích 5.649 m² đất cho ông Trần Tấn T4. Khoảng 05, 06 tháng sau ông T4 đã chuyển nhượng lại thửa 124, tờ bản đồ số 10 có diện tích 5.649 m² đất cho bà Trần Thị H1. Theo ông T4, bà H1 xác nhận, quá trình nhận chuyển nhượng thửa đất trên thì giữa bà T5 với ông T4 và giữa ông T6 với bà H1 cũng tiến hành chỉ ranh tại thực địa diện tích đất của ông S đang quản lý, sử dụng với phần diện tích đất còn lại bà T5 chuyển nhượng cho ông T4 và sau này ông T4 chuyển nhượng cho bà H1. Tại thời điểm chỉ ranh có mặt ông T4, bà T5, bà H1, ông T3 và ông S (BL 73, 76). Thời gian sau này, bà H1 chuyển nhượng thửa 124, tờ bản đồ số 10 cho bà Nguyễn Thị Thanh T7 thì bà H1 cùng bà T7 và ông S tiếp tục chỉ ranh tại thực địa diện tích đất của ông S đang quản lý, sử dụng với phần diện tích đất còn lại bà H1 chuyển nhượng cho bà T7. Sau này bà T7 chuyển nhượng lại cho người khác có thông báo về phần diện tích đất ông S đang quản lý, sử dụng như trên hay không thì bà H1 không nắm được (BL 76). Quá trình nhận chuyển nhượng diện tích 1175,1 m² đất thuộc thửa 152, tờ bản đồ số 10 từ bà Nguyễn Thị Mỹ L, bà Phạm Thị N nguyên đơn ông T, bà T1 không xem xét thực địa để xác định vị trí, ranh giới và diện tích đất có đủ điều kiện chuyển nhượng theo quy định mà chỉ mua bán trên sổ đỏ đất dẫn đến không biết diện tích đất nhận chuyển nhượng đã có 01 phần diện tích đất của ông S tồn tại trên đất trước đó. Điều này đã được phía nguyên đơn và bà L thừa nhận tại bản tự khai cũng như tại phiên tòa sơ thẩm (BL 49, 79). Tuy nhiên, diện tích đất tranh chấp 175 m² ông Huỳnh Văn S nhận chuyển nhượng từ ông Liêu Hữu T3 ngày 11/4/2009 tại thời điểm
chuyển nhượng Ủy ban nhân dân tỉnh Đ đã có Quyết định số 49/2008/QĐ- UBND ngày 19/8/2008 quy định diện tích tối thiểu được phép tách thửa đối với từng loại đất trên địa bàn tỉnh Đồng Nai. Đối chiếu quy định này, diện tích ông S nhận chuyển nhượng từ ông T3 không đủ điều kiện được tách thửa theo quy định của UBND tỉnh Đ. Do đó, căn cứ Công văn số 163/TANDTC- PC ngày 10/9/2024 của Tòa án nhân dân tối cao giải đáp một số vướng mắc trong xét xử thì hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Huỳnh Văn S và ông Liêu Hữu T3 vô hiệu. Do đó, cần sửa bản án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị T1 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” với ông Huỳnh Văn S và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị Cẩm H, chị Huỳnh Tuyết S1 và cháu Vũ Hoàng Nhã U. Buộc ông Huỳnh Văn S và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị Cẩm H, chị Huỳnh Tuyết S1 và cháu Vũ Hoàng N1 Uyên trả lại diện tích 175 m² đất thuộc một phần thửa 152 tờ bản đồ số 10 tại xã X, huyện T cho ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị T1. Đồng thời, buộc ông T và bà T1 thanh toán cho ông S 590.605.000 đồng theo chứng thư thẩm định giá của công ty cổ phần T9. Dành quyền khởi kiện cho ông T và bà T1 đối với bà Phạm Thị N và bà Nguyễn Thị Mỹ L khi có yêu cầu.
Từ những phân tích nêu trên: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị T1. Áp dụng khoản 2 điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự. Sửa Bản án sơ thẩm số 32/2024/DS-ST ngày 09/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Về quan hệ tranh chấp, Tòa án cấp sơ thẩm xác định đúng pháp luật. Riêng tư cách đương sự cần phải xác định những người mua bán đất liên quan đến diện tích đất 175 m² của bị đơn là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.
Đơn kháng cáo của ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị T1 trong thời hạn luật định, đã nộp tiền tạm ứng án phí đúng quy định của pháp luật nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về nội dung vụ án:
Xét đơn kháng cáo của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy: ông Liêu Hữu T3 có diện tích đất 5.649 m². Ông T3 bán 175 m² đất trong diện tích đất này cho ông Huỳnh Văn S vào năm 2009 bằng giấy viết tay với giá 30.000.000 đồng. Sau đó ông T3 bán toàn bộ diện tích đất 5.649 m² cho bà Nguyễn Thị Tuyết T5, ông T3 bà T5 và ông S có ra thực địa để chỉ 175 m² đất của ông S. Bà Nguyễn Thị Tuyết T5 bán 5.649 m² đất cho ông Trần Tấn T4, các bên cũng nói rõ là trừ 175 m² đất của ông S. Ông Trần Tấn T4 bán 5.649 m² đất cho bà Trần Thị H1 và ông T4 cũng nói rõ trừ 175 m² đất của ông S cho bà H1 biết. Bà Trần Thị H1 bán 5.649 m² đất cho ông V, bà T7. Bà H1 cũng nói rõ là trừ 175 m² đất của ông S. Ông V, bà T7 tách
5.649 m² đất thành 05 thửa gồm thửa 152, 153, 154, 155 và 156. Trong đó thửa 152 có diện tích 1.175 m², diện tích đất 175 m² của ông S nằm trong thửa 152 này. Ông V, bà T7 bán 1.175 m² đất (có phần đất của ông S) cho bà Phạm Thị N và bà Nguyễn Thị Mỹ L. Theo lời khai của bà L thì ông V, bà T7 không nói gì đến 175 m² đất của ông S, khi mua chỉ xem trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà không đi xem thực địa đất. Năm 2021, bà Phạm Thị N và bà Nguyễn Thị Mỹ L bán 1.175 m² đất cho ông T, bà T1 và các bên chỉ xem trên giấy tờ liên quan đến đất nên mua bán. Ông T và bà T1 sau đó phát hiện trên đất có nhà ông S nên khởi kiện.
Xét thấy tại thời điểm ký kết hợp đồng thì hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông T3 và ông Sáng lập ngày 11/4/2009 bằng giấy tay là vi phạm điều kiện về hình thức, ông S cũng có lỗi là một thời gian dài không thực hiện khai báo để làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định, mặt khác tại thời điểm chuyển nhượng (tháng 4/2009) Ủy ban nhân dân tỉnh Đ đã có quyết định số 49/2008/QĐ-UBND ngày 19/8/2008 quy định về diện tích tối thiểu được hợp tách thửa đối với từng loại đất trên địa bàn tỉnh Đồng Nai. Đối chiếu các quy định trên thì diện tích đất ông S nhận chuyển nhượng từ ông T3 không đủ điều kiện được tách thửa. Do đó, căn cứ vào Công văn số 163/TANDTC-PC ngày 10/9/2024 của Tòa án nhân dân Tối cao giải đáp một số vướng mắc trong xét xử thì hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Huỳnh Văn S và ông Liêu Hữu T3 là vô hiệu.
Từ những nhận định trên: Xét yêu cầu khởi kiện của ông T và bà T1 về việc yêu cầu Tòa án buộc ông S và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà H, bà S1, cháu U trả lại diện tích đất 175 m² thuộc một phần thửa đất 152 tờ bản đồ số 10 xã X, huyện T (theo trích lục và đo hiện trạng thửa đất bản đồ địa chính số 2267/2023) diện tích đất được giới hạn bởi các mốc 2, 3, a, 1, 2 do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ chi nhánh T8 phát hành ngày 21/7/2023 là có căn cứ để chấp nhận.
Như đã phân tích ở trên, nguyên đơn ông Nguyễn Văn T cũng có phần lỗi không xem xét đất kỹ trước khi sang nhượng nên buộc ông T, bà T1 phải có trách nhiệm trả lại giá trị nhà và đất cho bị đơn ông Huỳnh Văn S là 590.605.000 đồng (theo chứng thư thẩm định giá số 40/TĐG-CT ngày 05/02/2024 của Công ty Cổ phần T9).
Để đảm bảo quyền lợi của ông T, dành quyền khởi kiện của ông T đối với bà Phạm Thị N và bà Nguyễn Thị Mỹ L là người trực tiếp sang nhượng quyền sử dụng đất cho ông T và bà T1 bằng một vụ kiện dân sự khác khi có yêu cầu.
Do kháng cáo của ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị T1 được chấp nhận nên sửa bản án sơ thẩm số 32/2024/DS-ST ngày 09/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai.
[3] Về quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tỉnh Đồng Nai phù hợp với chứng cứ, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận nên ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị T1 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị T1. Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 32/2024/DS-ST ngày 09/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai.
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a, c khoản 1 Điều 39; 68, 77, 91; khoản 4, Điều 147; 158; 266 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Áp dụng Điều 129, 158, 182, 183, 186, 188, 189, 190, 221, 223, 398 và 688 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 166, 170 Luật Đất đai năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị T1 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” với ông Huỳnh Văn S và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị Cẩm H, bà Huỳnh Tuyết S1 và cháu Vũ Hoàng Nhã U. Buộc ông Huỳnh Văn S, bà Phạm Thị Cẩm H, bà Huỳnh Tuyết S1 và cháu Vũ Hoàng N1 Uyên trả lại diện tích đất 175 m² thuộc một phần thửa đất số 152 tờ bản đồ số 10 tại xã X, huyện T (nay là phường B), tỉnh Đồng Nai (theo trích lục và đo hiện trạng thửa đất bản đồ địa chính số 2267/2023) diện tích đất được giới hạn bởi các mốc 2, 3, a, 1, 2 do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ chi nhánh T8 phát hành ngày 21/7/2023 cho ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị T1.
Buộc ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị T1 phải thanh toán cho ông Huỳnh Văn S, bà Phạm Thị Cẩm H, bà Huỳnh Tuyết S1 và cháu Vũ Hoàng N1 Uyên 590.605.000 đồng (Năm trăm chín mươi triệu sáu trăm lẻ năm nghìn đồng). Dành quyền khởi kiện cho ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị T1 đối với bà Phạm Thị N và bà Nguyễn Thị Mỹ L khi có yêu cầu.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Về chi phí tố tụng: Ông Huỳnh Văn S, bà Phạm Thị Cẩm H, bà Huỳnh Tuyết S1 và cháu Vũ Hoàng Nhã U phải chịu toàn bộ số tiền chi phí tố tụng là 29.945.800 đồng (Hai mươi chín triệu chín trăm bốn mươi lăm ngàn tám trăm đồng). Do ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị T1 đã nộp toàn bộ chi phí tố tụng nên ông Huỳnh Văn S, bà Phạm Thị Cẩm H, bà Huỳnh Tuyết S1 và cháu Vũ Hoàng Nhã U phải trả lại cho ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn
Thị T1 29.945.800 đồng (Hai mươi chín triệu chín trăm bốn mươi lăm ngàn tám trăm đồng).
- Về án phí: Ông Huỳnh Văn S phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại cho ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị T1 số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) ông bà đã nộp tại biên lai thu số 0009087 ngày 28 tháng 11 năm 2022 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai.
Ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị T1 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Trả lại cho ông Nguyễn Văn T 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) và bà Nguyễn Thị T1 số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) ông bà đã nộp tại biên lai thu số 0008222 ngày 18 tháng 10 năm 2024 và 0008223 ngày 18 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai.
- Trường hợp Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Nam Phương |
Bản án số 260/2025/DS-PT ngày 30/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp kiện đòi tài sản là quyền sử dụng đất
- Số bản án: 260/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp kiện đòi tài sản là quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 30/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Thi - Sáng
