Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRẢNG BOM

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 260/2023/HS-ST

Ngày: 28/11/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Bá Đức.
  • - Các Hội thẩm nhân dân:
    1. Ông Doãn Đức Hùng.
    2. Ông Đặng Quang Hoạch.
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Hồng Phúc – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai: Bà Phạm Thị Kiều Diễm - Kiểm sát viên.

Trong ngày 28 tháng 11 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 256/2023/HSST ngày 18 tháng 10 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 230/2023/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 10 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 224/2023/HSST-QĐ ngày 07 tháng 11 năm 2023, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn H, sinh năm 1995; tại Thái Bình; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Xóm A, thôn N, xã B, huyện T, tỉnh Thái Bình; nơi cư trú: Ấp Đ, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên Chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn R, sinh năm 1957 và bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1960; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị giam giữ từ ngày 27/5/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại giam Công an tỉnh Đ (Có mặt).

- Bị hại: Ông Đinh Văn C, sinh năm 1988.

Hộ khẩu thường trú: F1/029, ấp N, xã Q, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

Chỗ ở hiện nay: Đường T, ấp C, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai (Có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Hồng L, sinh năm 1982.

Địa chỉ: Ấp C, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai (Vắng mặt).

- Người làm chứng: Bà Phạm Thị Thùy T (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn H, sinh năm 1995, trú tại: ấp Đ, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai làm nghề môi giới mua bán chuối. H có quen biết và đã thực hiện môi giới cho ông Đinh Văn C là chủ xưởng thu mua chuối “Vệ Quyền” ở ấp C, xã B, huyện T mua chuối được vài lần. Hình thức môi giới là H sẽ đi tìm các vườn có chuối theo yêu cầu và báo lại cho ông C biết. Nếu ông C đồng ý mua thì H sẽ làm hợp đồng mua bán chuối với chủ vườn. Do H mới chỉ thực hiện môi giới cho ông C mua một số vườn chuối nhỏ giá trị hợp đồng thấp nên ông C thực hiện chuyển tiền trực tiếp vào tài khoản ngân hàng cho H để Hiếu chủ đ thanh toán tiền cho các chủ vườn. Sau đó ông C cử đội chặt chuối xuống để thu hoạch và mang về. H được hưởng lợi nhuận từ chênh lệch giá mua chuối ông C giao cho H và giá chuối H thương lượng, thoả thuận được với các chủ vườn chuối.

Do không có tiền tiêu xài nên vào ngày 14/4/2023 H nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của ông C thông qua việc môi giới để ông C mua chuối. H sử dụng tài khoản Messenger của H có tên là “Hiếu N” đăng lên nhóm chat Messenger tên “Hội mua bán chuối xuất khẩu Đồng Nai” để hỏi mua chuối và được bà Nguyễn Thị Hồng L, sinh năm 1982; địa chỉ: Ấp C, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai nhắn tin trên nhóm nói có vườn chuối ở xã S, huyện Đ muốn bán. Đến chiều ngày 14/4/2023, H đến vườn chuối của bà L ở xã S, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai để xem chuối. Tại đây H đã gọi video qua phần mềm Zalo với ông C để ông C xem vườn trực tiếp, đồng thời H nói với ông C vườn chuối có khoảng 30 tấn, bán với giá là 13.100 đồng/1kg. Ông C đã đồng ý mua và nói H làm hợp đồng với bà L. Bà L yêu cầu phải đặt cọc trước số tiền 100.000.000 đồng vào số tài khoản 249653977 mở tại ngân hàng V đứng tên Phạm Thị Thùy T (là con gái của bà L) thì mới cho cắt chuối. H đã gọi điện thoại Zalo báo lại cho ông C biết thì ông C nói đặt cọc trước số tiền 50.000.000 đồng cho bà L, đồng thời hẹn ngày hôm sau (ngày 15/4/2023) sẽ trực tiếp xuống xem vườn, nếu chuối đẹp thì sẽ tiếp tục đặt cọc thêm 50.000.000 đồng nữa. Khi đó ông C hỏi H số tài khoản của bà L để đặt cọc, tuy nhiên do đã có ý định chiếm đoạt tiền của ông C từ trước nên H đã nói ông C chuyển tiền vào tài khoản của H tại Ngân hàng V1 số 1015753913 để H xin chủ vườn thêm chút tiền hoa hồng. Ông C tưởng thật nên đã chuyển vào tài khoản của H số tiền 50.000.000 đồng. Sau khi nhận được số tiền trên, H không chuyển cho bà L mà sử dụng để tiêu xài cá nhân hết.

Đến ngày 15/4/2023, H cùng với ông C xuống vườn chuối của bà L để xem trực tiếp. Quá trình xem vườn, ông C đã trao đổi, thống nhất mua chuối trong vườn của bà L với giá là 13.100 đồng/1kg, số lượng khoảng 30 tấn. Sau khi xem vườn xong, ông C và H đi về, trên đường về ông C đưa thêm cho H số tiền mặt là 50.000.000 đồng để đặt cọc mua vườn chuối của bà L.

Khi về đến nhà, H lên mạng xã hội Facebook tìm kiếm và tham gia vào nhóm “làm Bill chuyển khoản mọi ngân hàng giống thật 99%” và thuê một người có tài khoản Messeger ở trong nhóm (H khai không nhớ tên) làm cho H hình ảnh một lệnh chuyển tiền thành công từ tài khoản ngân hàng của H qua tài khoản của chị Phạm Thị Thùy T, số tài khoản: 249653977 mở tại ngân hàng V, số tiền chuyển là 100.000.000 đồng, H trả cho người làm hình ảnh trên số tiền 50.000 đồng bằng hình thức mua thẻ cào điện thoại và chụp ảnh gửi cho người này. Sau khi làm xong, người này đã gửi hình ảnh lệnh chuyển tiền giả cho H qua M và H đã chuyển hình ảnh này qua tài khoản Zalo cho ông C, bà L, thông báo đã chuyển tiền thành công.

Đến sáng ngày 18/4/2023, ông C cho người xuống vườn chuối của bà L để cắt chuối. Do chưa nhận được tiền đặt cọc nên bà L đã điện thoại hỏi H thì H nói dối bà L đã chuyển số tiền 100.000.000 đồng vào tài khoản của chị T (con gái bà L). Do tin tưởng nên bà L vẫn cho ông C cắt chuối ở vườn. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày khi người của ông C đã chặt được số lượng chuối là 10 tấn và cho xe chở chuối về xưởng thì bà L đã điện thoại yêu cầu H phải tiếp tục thanh toán thêm số tiền 130.000.000 đồng (tương đương số tiền chuối đã cắt và chuyển đi vào ngày 18/4/2023), còn số tiền đặt cọc vẫn giữ nguyên. H đã điện thoại nói ông C chuyển khoản thêm số tiền 130.000.000 đồng vào tài khoản của H. Ông C tưởng thật nên đã chuyển tiền vào tài khoản của H. Sau khi nhận được số tiền 130.000.000 đồng từ ông C, H không chuyển cho bà L mà sử dụng để tiêu xài cá nhân hết.

Đến tối ngày 18/4/2023, với hình thức tương tự như trên, H tiếp tục thuê người làm giả hình ảnh lệnh chuyển tiền thành công từ tài khoản ngân hàng của H đến tài khoản ngân hàng của Phạm Thị Thùy T số tiền là 130.000.000 đồng. H đã trả cho người làm hình ảnh trên số tiền 100.000 đồng bằng hình thức chuyển khoản vào tài khoản số: 2000123456 đứng tên “Nguyen Ho Tuan Tinh” mở tại Ngân hàng TMCP Á – Phòng giao dịch Bà Đ. Sau đó H tiếp tục dùng hình ảnh lệnh chuyển tiền giả này gửi vào tài khoản zalo của bà L và ông C.

Sau khi bị Nguyễn Văn H chiếm đoạt tài sản, ông C đã trả cho bà L số tiền mua chuối là 230.000.000 đồng, đồng thời làm đơn tố cáo H đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[2]. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai nhận của bị cáo tại Cơ quan điều tra; lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của các bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào các ngày 14/4, 15/4 và 18/4/2023, Nguyễn Văn H đã dùng thủ đoạn gian dối lừa ông Đinh Văn C là chủ xưởng thu mua chuối “Vệ Quyền” ở ấp C, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai chuyển tiền vào tài khoản của bị cáo để đặt cọc và thanh toán tiền mua chuối tại vườn của bà Nguyễn Thị Hồng L, sau đó H thuê người làm giả hình ảnh các lệnh chuyển tiền thành công vào tài khoản của con gái bà L tên Phạm Thị Thùy T để cho ông C tin tưởng chuyển tiền. Tổng số tiền bị cáo chiếm đoạt của ông C là 230.000.000 đồng (Hai trăm ba mươi triệu đồng). Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Văn H đã phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[3]. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tài sản của người khác, gây mất an ninh, trật tự tại địa phương. Bị cáo phạm tội nhiều lần nên cần áp dụng điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử khi lượng hình cũng cần xem xét đến việc các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại và bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên cần áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo để xem xét giảm nhẹ cho bị cáo khi quyết định hình phạt thể hiện sự nhân đạo của pháp luật Nhà nước ta.

[4]. Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị cáo đã bồi thường cho ông C và ông C đã làm đơn bãi nại và không yêu cầu bị cáo bồi thường gì. Đối với bà Nguyễn Thị Hồng L sau khi bán chuối cho ông C, ông C đã thanh toán đủ tiền cho bà L nên bà L không yêu cầu gì trong vụ án.

[5]. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[6]. Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Xiaomi Redmi 5 plus đã qua sử dụng.
  • Tịch thu tiêu hủy 01 sim điện thoại có số seri: 89840 48000 01147 6334.

[7]. Đối với tài khoản Messerger bị cáo H thuê làm giả lệnh chuyển tiền thành công số tiền 100.000.000 đồng, bị cáo H khai không nhớ tên, Cơ quan điều tra tiến hành kiểm tra trích xuất dữ liệu điện thoại của bị cáo H liên quan đến việc thuê người làm giả lệnh chuyển tiền tuy nhiên sau khi thực hiện xong hành vi, bị cáo H đã xóa toàn bộ dữ liệu, tin nhắn nên Cơ quan điều tra Công an huyện T tách ra làm rõ xử lý sau.

Đối với người mà bị cáo H thuê làm giả lệnh chuyển tiền thành công số tiền 130.000.000 đồng, bị cáo H khai sau khi thuê người này làm giả hình ảnh trên, H trả tiền công cho người này bằng hình thức chuyển khoản vào tài khoản số 2000123456 mở tại Ngân hàng TMCP Á – Phòng giao dịch Bà Đ số tiền 100.000 đồng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã tiến hành xác minh xác định số tài khoản trên là của Nguyễn Hồ Tuấn T2, sinh năm 2000, hộ khẩu thường trú tại thôn I xã K, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Hiện nay T2 không có mặt tại địa phương nên chưa làm việc được nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T tách ra tiếp tục làm rõ, xử lý sau.

[8]. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:

  • Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
  • Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn H 07 (bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 27/5/2023.

2. Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Xiaomi Redmi 5 plus đã qua sử dụng.
  • Tịch thu tiêu hủy 01 sim điện thoại có số seri: 89840 48000 01147 6334.

(Hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trảng Bom theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 17/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trảng Bom).

3. Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14: Buộc các bị cáo Nguyễn Văn H phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Bị cáo, ông C được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bà L vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND huyện Trảng Bom;
  • - Công an huyện Trảng Bom;
  • - THADS huyện Trảng Bom;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Trần Bá Đức

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 260/2023/HS-ST ngày 28/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (vụ án hình sự)

  • Số bản án: 260/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Vụ án hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: BA - HS - Nguyễn Văn Hiếu - K3Dd174 - T11-2022
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger