Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ A

TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 260/2023/HNGĐ-ST

Ngày: 18-8-2023

V/v “Ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ A, TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Duy Minh.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lê Minh Chiến;
  2. Ông Hồ Xuân Dũng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Mang Đức Kham – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã A, tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã A, tỉnh Bình Định tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Đức Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã A, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 161/2023/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 6 năm 2023 về “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 1300/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 31 tháng 7 năm 2023; giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Lê Thị Quỳnh T, sinh năm: 1975 (Có mặt)

Địa chỉ: Khu V, phường N, thị xã A, tỉnh Bình Định.

Bị đơn: Anh Nguyễn Văn P, sinh năm: 1971 (Có mặt)

Địa chỉ: Khu V, phường N, thị xã A, tỉnh Bình Định.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện, các giai đoạn tố tụng tiếp theo và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Lê Thị Quỳnh T trình bày:

Trước khi cưới, chị và anh Nguyễn Văn P tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn vào ngày 25 tháng 02 năm 2002 tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Bình Định. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống tại nhà cha mẹ chị ở thôn H, xã N (nay là khu vực H, phường N), thị xã A, tỉnh Bình Định. Trong thời gian chung sống, sau khi sinh người con đầu tiên vào năm 2002 thì vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, anh P ghen tuông vô cớ và thường xuyên chửi mắng nhục mạ và đánh chị. Chị cố gắng chịu đựng để nuôi con và nhiều lần khuyên giải nhưng anh P vẫn không thay đổi. Vào năm 2009 chị đã làm đơn khởi kiện ly hôn và đã được Tòa án nhân dân thị xã A thụ lý, nhưng sau đó anh P năn nĩ nên chị đã rút đơn. Tuy nhiên sau đó thì mâu thuẫn vợ chồng vẫn xảy ra thường xuyên như cũ. Vợ chồng hiện nay tuy ở chung nhà nhưng ăn riêng đã hơn một năm nay, không ai quan tâm đến ai. Chị xác định không còn tình cảm và không thể tiếp tục sống chung với anh Nguyễn Văn P nữa nên yêu cầu ly hôn.

Về con chung: Vợ chồng có hai người con chung: Nguyễn Thành L, sinh ngày 19 tháng 6 năm 2002 và Nguyễn Hữu T1, sinh ngày 09 tháng 7 năm 2007. Hiện con lớn Nguyễn Thành L đã đủ 18 tuổi, đang học đại học ở thành phố Hồ Chí Minh và có khả năng lao động được nên không yêu cầu giải quyết; chị yêu cầu nuôi con Nguyễn Hữu T1 (đang ở chung với vợ chồng), không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con.

Chị không tranh chấp về tài sản chung và nợ chung.

Theo các lời khai có tại hồ sơ và tại phiên tòa, bị đơn anh Nguyễn Văn P trình bày:

Trước khi cưới, anh và chị Lê Thị Quỳnh T tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn vào ngày 25 tháng 02 năm 2002 tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Bình Định. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống tại nhà cha mẹ vợ ở thôn H, xã N (nay là khu vực H, phường N), thị xã A, tỉnh Bình Định. Trong thời gian chung sống, sau khi sinh người con đầu tiên vào năm 2002 thì vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, vợ chồng thường kình cãi nhau, tuy nhiên anh vẫn cố gắng chịu đựng để chăm lo cho các con ăn học. Vào năm 2009 chị T đã làm đơn khởi kiện ly hôn và đã được Tòa án nhân dân thị xã A thụ lý, nhưng sau đó vợ chồng hàn gắn lại tình cảm nên chị T rút đơn. Tuy nhiên sau đó thì mâu thuẫn vợ chồng vẫn xảy ra thường xuyên như cũ. Chị T hay chơi số đề, anh khuyên chị T nhiều lần nhưng chị T không nghe dẫn đến vợ chồng thường xuyên kình cãi nhau. Vợ chồng hiện nay tuy ở chung nhà nhưng ăn riêng đã hơn một năm nay, không ai quan tâm đến ai. Anh xác định không còn tình cảm với vợ Lê Thị Quỳnh T nữa. Tuy nhiên do các con còn nhỏ, anh không muốn các con phải thiếu tình cảm của cha và mẹ nên tạm thời anh không đồng ý ly hôn.

Về con chung: Vợ chồng có hai người con chung: Nguyễn Thành L, sinh ngày 19 tháng 6 năm 2002 và Nguyễn Hữu T1, sinh ngày 09 tháng 7 năm 2007. Hiện con lớn Nguyễn Thành L đã đủ 18 tuổi, đang học đại học ở thành phố Hồ Chí Minh; anh đồng ý giao con Nguyễn Hữu T1 cho chị T nuôi. Chị T không yêu cầu anh cấp dưỡng nuôi con nên anh không có ý kiến gì.

Về tài sản chung: Ngày 10 tháng 7 năm 2023, anh có làm đơn yêu cầu phản tố yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung nhưng anh không nộp tiền tạm ứng án phí để Tòa án thụ lý yêu cầu phản tố của anh. Tại phiên tòa anh không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung. Anh không tranh chấp về nợ chung.

Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Lê Thị Quỳnh T được ly hôn anh Nguyễn Văn P. Giao cháu Nguyễn Hữu T1, sinh ngày 09 tháng 7 năm 2007 cho chị T nuôi dưỡng. Chị T không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con nên không xét. Anh P có Đơn yêu cầu phản tố chia tài sản chung và đã được tống đạt Thông báo nộp tiền tạm ứng án phí nhưng anh P không nộp tạm ứng án phí nên không xem xét, giải quyết yêu cầu phản tố của anh P. Chị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Lê Thị Quỳnh T yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Văn P có địa chỉ cư trú tại khu V, phường N, thị xã A, tỉnh Bình Định. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thị xã A, tỉnh Bình Định có thẩm quyền giải quyết vụ án.
  2. Chị Lê Thị Quỳnh T và anh Nguyễn Văn P tự nguyện kết hôn, đăng ký kết hôn vào ngày 25 tháng 02 năm 2002 tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Bình Định. Do đó, theo quy định tại Điều 8 và Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình, quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh P là hợp pháp. Trải qua hơn 20 năm chung sống, vợ chồng đã xảy ra nhiều mâu thuẫn. Chị T và anh P thừa nhận vì mâu thuẫn nên năm 2009 chị T đã yêu cầu ly hôn. Sau khi quay về sống chung thì vợ chồng tiếp tục mâu thuẫn và mặc dù còn sống chung nhưng cả hai đều xác định không còn tình cảm với nhau, không còn quan tâm và thương yêu nhau nữa. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã thực sự trầm trọng, mục đích của hôn nhân nhằm xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc, vợ chồng tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau không đạt được nên căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, yêu cầu ly hôn của chị Lê Thị Quỳnh T là có căn cứ chấp nhận.
  3. Chị T và anh P có hai người con chung gồm: Nguyễn Thành L, sinh ngày 19 tháng 6 năm 2002 và Nguyễn Hữu T1, sinh ngày 09 tháng 7 năm 2007. Hiện con lớn Nguyễn Thành L đã thành niên và có khả năng lao động được nên Hội đồng xét xử không xem xét quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của chị T và anh P. Đối với người con chung Nguyễn Hữu T1, chị T và anh P thống nhất giao cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Nguyện vọng của cháu T1 cũng muốn ở với mẹ. Do đó, việc giao cháu T1 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng là bảo đảm quyền lợi về mọi mặt của cháu T1 và phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử ghi nhận. Đối với nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, chị T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  4. Về tài sản chung và nợ chung: Ngày 10 tháng 7 năm 2023, anh P có đơn yêu cầu phản tố về việc chia tài sản chung khi ly hôn. Sau khi được tống đạt hợp lệ Thông báo nộp tiền tạm ứng án phí thì anh P không nộp cho Tòa án biên lai thu tạm ứng án phí nên Tòa án không có căn cứ thụ lý yêu cầu phản tố của anh P. Căn cứ vào lời khai của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết về tài sản chung giữa chị T và anh P.
  5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, chị Lê Thị Quỳnh T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
  6. Ý kiến của Kiểm sát viên phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

  1. Chị Lê Thị Quỳnh T được ly hôn anh Nguyễn Văn P.
  2. Giao người con chung tên Nguyễn Hữu T1, sinh ngày 09 tháng 7 năm 2007 cho chị Lê Thị Quỳnh T trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Nguyễn Văn P không cấp dưỡng nuôi con.

    Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc làm ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

    Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con khi có yêu cầu theo quy định của pháp luật.

  3. Không giải quyết về tài sản chung và nợ chung.
  4. Về án phí: Chị Lê Thị Quỳnh T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001830 ngày 22 tháng 6 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã A.
  5. Quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND thị xã A;
  • - Chi cục THADS thị xã A;
  • - Ủy ban nhân dân xã P, huyện T (Giấy CNKH số 17/2002);
  • - Phòng KTNV & THA TAND tỉnh Bình Định;
  • - Lưu: Văn phòng; Hồ sơ vụ án;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Duy Minh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 260/2023/HNGĐ-ST ngày 18/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ A, TỈNH BÌNH ĐỊNH về ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 260/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ A, TỈNH BÌNH ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn giữa Lê Thị Quỳnh T và Nguyễn Văn P
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger