|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CON CUÔNG TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 44/2023/HS-ST Ngày: 30-10-2023 |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CON CUÔNG, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Bảo.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Thế Hiền và bà La Thị Huyền.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân
huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Con Cuông tham gia phiên tòa:
Bà Phan Thị Thanh Hoa - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 10 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 40/2023/TLST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2023/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: La Văn C - Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 12/12/1997, tại huyện C, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Bản K, xã C, huyện C, tỉnh Nghệ An; Dân tộc: Đan Lai; Quốc tịch: Việt Nam; T: Không; Trình độ học vấn: 6/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông La Văn H, sinh năm 1959, con bà Vi Thị T (đã chết); Ông hiện trú tại bản K, xã C, huyện C, tỉnh Nghệ An; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 23/4/2015, bị Tòa án nhân thân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An xử phạt 30 tháng tù về tội “Cướp tài sản” tại bản án số 13/2015/HSST. Chấp hành xong ngày 01/12/2016. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 31 tháng 8 năm 2023 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bào chữa cho bị cáo La Văn C có ông Phạm Thế K - Trợ giúp viên thuộc trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh N
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 09 giờ 00 phút, ngày 31/8/2023, La Văn C bắt xe khách từ xã C, huyện C, tỉnh Nghệ An lên xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An để tìm mua ma túy về sử dụng. Khi đến nơi C xuống xe, đi bộ trên đường và gặp một người đàn ông không quen biết, C hỏi người đàn ông đó “Có ma túy bán không?” Thì người đàn ông đó trả lời “Có”, La Văn C đưa cho người đàn ông đó 200.000 đồng, người đàn ông đó cầm tiền rồi đưa cho C 01 gói nhỏ được gói bằng mảnh giấy thiếc màu vàng, bên trong có chứa ma túy. Sau khi mua xong, La Văn C bắt xe khách đi về xã Y, huyện C, tỉnh Nghệ An. Khi đến khu vực thị trấn C, huyện C, tỉnh Nghệ An do lên cơn nghiện nên C xuống xe, cầm gói ma túy và 01 bơm kim tiêm chưa qua sử dụng rồi đi bộ tìm nơi sử dụng. Đến khoảng 12 giờ 35 phút cùng ngày 31/8/2023, khi La Văn C đang đi khu vực xóm C thuộc khối E, thị trấn C, huyện C thì bị Công an huyện C kiểm tra, phát hiện và thu giữ trong lòng bàn tay bên phải của C đang cầm 01 gói nhỏ được gói bằng mảnh giấy thiếc màu vàng bên trong có chứa chất bột màu trắng (nghi là ma túy) và 01 bơm kim tiêm chưa qua sử dụng. Tổ công tác đã lập biên bản, niêm phong vật chứng và đưa đối tượng về trụ sở Công an huyện C để làm việc.
Tại kết luận giám định số 896/KL-KTHS(Đ2-MT) ngày 04/9/2023 của phòng K1 - Công an tỉnh N kết luận: “Mẫu chất bột màu trắng thu giữ của La Văn C gửi đến giám định là ma túy; loại Heroine, có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất. Số chất bột màu trắng thu giữ của La Văn C có tổng khối lượng là 0,15gam."
Cáo trạng số: 42/CT – VKS - CC, ngày 09/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Con Cuông truy tố bị cáo La Văn C về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
Tại phiên tòa bị cáo La Văn C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và xin giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Con Cuông giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo La Văn C mức án từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam; Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo; Tịch thu, tiêu hủy toàn bộ vật chứng; Miễn toàn bộ án phí cho bị cáo.
Người bào chữa cho bị cáo có ý kiến: Đồng ý với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhưng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo đó là: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải. Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại vùng kinh tế đặc biệt khó khăn nên hiểu biết về pháp luật còn hạn chế. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng mức án nhẹ nhất, miễn hình phạt bổ sung, miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của hành vi tố tụng và quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử:
- Trong quá trình điều tra: Cơ quan điều tra, Điều tra viên được phân công điều tra đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng về việc kiểm tra, xác minh, thu thập chứng cứ, lập hồ sơ giải quyết nguồn tin về tội phạm; lập hồ sơ vụ án; hỏi cung bị can; xử lý vật chứng; giao nhận các văn bản tố tụng đúng thời hạn theo quy định của pháp luật.
- Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đã thực hiện nghiêm túc hoạt động kiểm sát điều tra; giao nhận các văn bản tố tụng đúng thời hạn theo quy định của pháp luật; tham gia phiên tòa đúng thời gian, địa điểm; công bố bản cáo trạng; tham gia xét hỏi, luận tội, tranh luận và phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án đồng thời thực hiện việc kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án cũng như người tham gia tố tụng trong giai đoạn xét xử.
Do các hành vi tố tụng và quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên và Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đều tuân thủ quy định của Bộ luật tố tụng hình sự nên hợp pháp và được sử dụng làm chứng cứ để Hội đồng xét xử xem xét.
[2] Về nội dung: Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là thống nhất với nhau và phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người chứng kiến, kết quả giám định và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 12 giờ 35 phút ngày 31/8/2023, tại khu vực xóm C, thuộc khối E, thị trấn C, huyện C, tỉnh Nghệ An, La Văn C đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,15 gam ma túy Heroine với mục đích để sử dụng.
[3] Tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an trên địa bàn và là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Vì vậy cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm minh, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm cảo tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.
Xét trong quá trình điều tra, cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải. Vì vậy cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo như lời người bào chữa là có căn cứ.
[4] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo là người nghiện ma túy, không có việc làm và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo.
Trong quá trình điều tra, theo lời khai của La Văn C thì số ma túy mà Công an huyện C, tỉnh Nghệ An thu giữ là do C mua của một người đàn ông không rõ tên, tuổi tại xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, xác minh người đàn ông đó khi nào có kết quả sẽ xử lý sau.
[5] Về vật chứng: Cơ quan Công an huyện C, tỉnh Nghệ An thu giữ 0,15 gam ma túy Heroine và đã lấy toàn bộ đi giám định. Số vật chứng còn lại gồm: 01 bơm kim tiêm; 01 mảnh giấy thiếc màu vàng; 01 phong bì bưu điện đã mở niêm phong nay không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
[6] Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế khó khăn, đã có đơn xin miễn tiền án phí nên Tòa án miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo La Văn C 01 năm 03 tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 31/8/2023 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”..
Vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu, tiêu hủy: 01 bơm kim tiêm; 01 mảnh giấy màu trắng; 01 phong bì thư bưu điện đã mở niêm phong. Toàn bộ vật chứng có đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 09/10/2023 giữa cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C và Chi cục thi hành án dân sự huyện Con Cuông.
Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Bị cáo có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Trần Văn Bảo |
Bản án số 44/2023/HS-ST ngày 30/10/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CON CUÔNG, TỈNH NGHỆ AN về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 44/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/10/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CON CUÔNG, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TMCP Quân Đội - ông Lang Văn Thắng - Tranh chấp hợp đồng tín dụng
