Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH YÊN BÁI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2024/HS-PT

Ngày: 30 – 8 – 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH YÊN BÁI

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Trung Hải.

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Vân

Bà Hoàng Hải Anh

Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thùy Dương - Thư ký TAND tỉnh Yên Bái.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Yên Bái tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Huế - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Yên Bái, xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 32/2024/TLPT-HS ngày 22 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo Lê Quý Đ do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 38/2024/HS-ST ngày 19-6-2024 của Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái.

Bị cáo có kháng cáo: Lê Quý Đ, sinh ngày 18 tháng 4 năm 2003 tại tỉnh Yên Bái. Nơi đăng ký thường trú: Thôn L, xã M, huyện T, tỉnh Yên Bái; nơi ở hiện tại: Tổ A, phường Y, thành phố Y, tỉnh Yên Bái; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông: Lê Mạnh T; con bà: Nguyễn Thị L; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” tại phường Y, thành phố Y, tỉnh Yên Bái. Có mặt

Trong vụ án còn có bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, không liên quan đến nội dung kháng cáo nên Tòa án không triệu tập đến phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 50 phút, ngày 12 tháng 02 năm 2024, Lê Quý Đ điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA SH màu đỏ, đen; biển kiểm soát 21B1- 366.91 chở chị Phạm Thanh L1 tham gia giao thông trên đường N trong tình trạng đã sử dụng rượu với nồng độ cồn là 0,053mg/lít khí thở. Khi đi đến đoạn đường thuộc tổ A, phường N, thành phố Y, khu vực Ngân hàng A - Chi nhánh B thì Đ phát hiện phía trước cách khoảng 30 m có tổ công tác của Đội cảnh sát giao thông trật tự - Công an thành phố Y đang làm nhiệm vụ. Do đã uống rượu và sợ bị thổi nồng độ cồn sẽ bị xử phạt nên Đ quay xe lại rồi điều khiển xe mô tô đi ngược chiều trên đoạn đường có gắn biển báo "Cấm đi ngược chiều". Anh Trần Trung Đ1 là thành viên của tổ kiểm tra đã ra hiệu lệnh cho Đ dừng xe nhưng Đường không chấp hành mà tăng ga điều khiển xe mô tô chạy thẳng về phía anh Đ1 đang đứng. Xe mô tô của Đ đâm vào chân phải của anh Đ1 làm anh Đ1 bị ngã xuống đường và bị thương tích.

Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 41/KLTTCT-TTPY ngày 02/4/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh Y đã kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Trần Trung Đ1 tại thời điểm giám định là 29% (hai mươi chín phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại thông tư.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 38/2024/HS-ST ngày 19-6-2024 của Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái đã quyết định:

  • - Tuyên bố bị cáo Lê Quý Đ phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • - Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lê Quý Đ 03 (ba) năm tù.
  • - Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về việc chịu án phí sơ thẩm và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 27-6-2024, bị cáo Lê Quý Đ có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo.

* Tại phiên tòa phúc thẩm:

  • - Bị cáo vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Yên Bái phát biểu quan điểm giải quyết vụ án có nội dung được tóm tắt như sau:
    • + Về hình thức: Đơn kháng cáo của bị cáo Đ trong hạn luật định và hợp lệ, nên cần được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
    • + Về nội dung: Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo; đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để xử phạt bị cáo Lê Quý Đ 03 (ba) năm tù là có căn cứ, đúng pháp luật.

Tại Tòa án cấp phúc thẩm, bị cáo Đ đã nộp tài liệu cho thấy bị cáo đã nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm và đã lập công chuộc tội. Đây là những tình tiết giảm nhẹ mới quy định tại điểm u khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần áp dụng thêm cho bị cáo. Do bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên kháng cáo của bị cáo là có căn cứ cần được chấp nhận. Từ những phân tích trên, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, sửa bản án sơ thẩm theo hướng cho bị cáo được hưởng án treo.

Bị cáo Đ không có kiến tranh luận gì. Khi nói lời sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  • [1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo Lê Quý Đ đảm bảo về hình thức, trong hạn luật định, nên được chấp nhận để xem xét theo trình tự phúc thẩm.
  • [2] Xét kháng cáo của bị cáo Đ, Hội đồng xét xử thấy:
  • Khi quyết định hình phạt, Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo Đ đã gây ra cho xã hội, đã xem xét nhân thân và đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ mà bị cáo được hưởng quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo với mức hình phạt 03 năm tù là thỏa đáng, đúng quy định của pháp luật.

    Tại Tòa án cấp phúc thẩm, bị cáo Đ giao nộp giấy xác nhận về việc bị cáo đã phát hiện đối tượng trộm cắp tài sản và báo cho lực lượng Công an kịp thời bắt giữ, xử lý về hình sự. Mặt khác, bị cáo cũng đã nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm. Điều đó thể hiện ý thức chấp hành án và việc tích cực lập công chuộc tội của bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ mới quy định tại điểm u khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần được áp dụng thêm cho bị cáo. Do bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trong đó có 03 tình tiết quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên đủ điều kiện được hưởng chế định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự. Kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo là có căn cứ, cần được chấp nhận.

  • [3] Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
  • [4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự.

QUYẾT ĐỊNH

  1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Quý Đ, sửa bản án hình sự sơ thẩm số: 38/2024/HS-ST ngày 19 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái về phần hình phạt như sau.
  2. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; các điểm b, s, u khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự:

    Xử phạt bị cáo Lê Quý Đ 03 (Ba) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (Năm) năm, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (30/8/2024).

    Giao bị cáo Lê Quý Đ cho Ủy ban nhân dân phường Y, thành phố Y, tỉnh Yên Bái giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo Đ có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

    Trường hợp bị cáo Đ thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật Hình sự.

  3. Về án phí phúc thẩm: Áp dụng điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Lê Quý Đường k phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
  4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - Vụ GĐKT1 – TANDTC;
  • - VKSND tỉnh Yên Bái;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Yên Bái;
  • - Phòng HSNV Công an tỉnh Yên Bái;
  • - TA, KS, CA, THADS thành phố Yên Bái;
  • - Ủy ban nhân dân phường Yên Ninh;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Lưu HS + THA+ HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà

Trần Trung Hải

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 26/2024/HS-PT ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH YÊN BÁI về cố ý gây thương tích (hình sự phúc thẩm)

  • Số bản án: 26/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích (Hình sự phúc thẩm)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 30/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH YÊN BÁI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Lê Quý Đ kháng cáo xin được hưởng án treo
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger