Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN SÓC SƠN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2024/DSST

Ngày 30/7/2024

Về việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Bích Nguyệt

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Dương Văn Xuyên

2. Bà Phạm Thị Thanh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hà Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Ông Đỗ Xuân Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 64/2024/TLST-DS ngày 18 tháng 3 năm 2024, về việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2024/QĐXX-ST ngày 10 tháng 6 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 12/2024/QĐST-DS ngày 02/7/2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP P (O).

Địa chỉ: D (Tầng trệt, lửng, 1,2 của tòa nhà) và 45 đường L, phường B, Quận A, thành phố Hồ Chí Minh.

Do ông Trịnh Văn T - Chủ tịch HĐQT là người đại diện theo pháp luật.

Người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng TMCP P:

  1. Tổng giám đốc, Phó tổng giám đốc;
  2. Giám đốc/Quyền giám đốc Khối;
  3. Giám đốc/Quyền giám đốc Phòng xử lý nợ;
  4. T1 phòng/Quyền trưởng phòng Thu hồi nợ - Khối bán lẻ (RB);
  5. Giám đốc/Quyền giám đốc Trung tâm thu hồi nợ - Khối khách hàng đại chúng (COMB);
  6. Giám đốc/Quyền giám đốc/Giám đốc/Quyền phó giám đốc Trung tâm thẻ;
  7. Giám đốc/Quyền giám đốc/Người đứng đầu cảu Chi nhánh/Phòng giao dịch/Trung tâm kinh doanh;
  8. Giám đốc/Quyền giám đốc Trung tâm khách hàng doanh nghiệp L (CIB), Trung tâm khách hàng vừa và nhỏ (SME), Trung tâm bản lẻ (RB) tại Chi nhánh, Phòng G, Trung tâm kinh doanh.

(Theo Giấy ủy quyền số 16/2023/UQ-CT.HĐ QT ngày 14/3/2023 của ông Trịnh Văn T).

Người được ông Mai Văn H ủy quyền lại:

  1. Ông Vũ Xuân T2 - sinh năm 1994 - Chuyên viên thu hồi nợ RB;
  2. Ông Lê Sỹ T3 - sinh năm 1993 - Chuyên viên thu hồi nợ RB;
  3. Ông Phan Lạc M - sinh năm 1994 - Chuyên viên thu hồi nợ RB.

(Theo Giấy ủy quyền số 11/2024/UQ-OCB ngày 11/01/2024 của ông Mai Văn H).

Bị đơn: Anh Lê Văn B, sinh năm 1984

HKTT: Thôn T, xã M, huyện S, thành phố Hà Nội.

Hiện chấp hành án tại: Đ K2 P, Trại giam V, xã Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Nguyễn Thị T4 - sinh năm 1961
  2. Anh Hồ Văn T5 - sinh năm 1983 (con bà T4)
  3. Anh Hồ Văn H1 - sinh năm 1986 (con bà T4)
  4. Chị Nguyễn Thị T6 - sinh năm 1987 (vợ anh T5)
  5. Cháu Hồ Bảo Y - sinh năm 2008 (con anh T5, chị T6)
  6. Cháu Hồ Bảo A - sinh năm 2011 (con anh T5, chị T6)
  7. Cháu Hồ Bảo A1 - sinh năm 2022 (con anh T5, chị T6)

Đều trú tại: Thôn Đ, xã M, huyện S, Hà Nội

(Anh T7, chị T6 là người đại diện theo pháp luật của cháu Hồ Bảo Y, Hồ Bảo A, Hồ B).

Có mặt: Ông T2, anh T7.

Vắng mặt: Những người tham gia tố tụng còn lại.

NỘI DUNG VỤ ÁN

I. Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, đại diện hợp pháp của nguyên đơn - Ngân hàng TMCP P (O) trình bày:

Do cần tiền để mua bất động sản nên anh Lê Văn B đã ký kết Hợp đồng tín dụng để vay tiền của Ngân hàng TMCP P như sau:

Ngày 23/11/2021 hai bên ký Hợp đồng tín dụng số ố_ngày_HĐTD" 0043/2021/HĐTD-OCB-CN, (Hợp đồng sửa đổi, bổ sung số 0043/2021/SĐBS-HĐTD ngày 29/11/2021); ế ước nhận nợ số ố ngày Khế ước_nhận_nợ" 0043.01/2021/KUNN-OCB-CN ngày 24/11/2021

  • Số tiền vay: ố_tiền_vay" 2.300.000.000 đồngằng_chữ" Hai tỷ ba trăm triệu đồng
  • Mục đích vay: ục_đích_vay" mua bất động sản
  • Thời hạn vay: ời hạn_vay" 240 tháng
  • Lãi suất vay: ất_trong_hạn" 8,5%/năm cố định trong 24 tháng đầu. Từ tháng thứ 25 trở đi: áp dụng lãi suất cho vay điều chỉnh định kỳ 06 tháng/lần (gọi là Kỳ điều chỉnh lãi suất), kỳ điều chỉnh lãi đầu tiên vào ngày 24/11/2023 theo công thức lãi suất như sau: Lãi suất cho vay (điều chỉnh) = Lãi suất cơ sở (1) + Biên độ tối thiểu (2). Trong đó: Lãi suất cơ sở (1): là lãi suất cơ sở kỳ hạn 13 tháng theo biểu lãi suất được Tổng Giám Đốc ban hành từng thời kỳ. Biên độ tối thiểu (2): tối thiểu 3,5%/năm
  • Lãi suất quá hạn: ất_quá_hạn" Bằng 150% lãi suất vay trong hạn.

Để đảm bảo cho khoản vay trên, ngày 29/11/2021, anh Lê Văn B đã ký kết Hợp đồng thế chấp tài sản số ố ngày HĐBĐ" công chứng: 4478/HĐTC, quyển số 04/2021, TP/CC-SCC/HĐGD ại òng_phòng_công_chứng" Văn phòng C, T Hợp đồng này thì anh Lê Văn B thế chấp cho Ngân hàng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tọa lạc tại ịa chỉ đất" thửa đất số: 240, tờ bản đồ số: 14, địa chỉ: thôn T, xã M, huyện S, H_chứng_nhận" Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số V 801583, số vào số cấp GCN QSDĐ số: 2135.QSDĐ do UBND huyện S, Tp . cấp ngày 29/12/2003 cho hộ gia đình ông Hồ Văn H2 và ngày 25/11/2021Văn phòng đăng ký đất đai Hà Nội, chi nhánh S xác nhận chuyển nhượng toàn bộ quyền sử dụng đất cho anh Lê Văn B theo Hợp đồng số 3490 lập ngày 22/11/2021 tại Văn phòng C1, huyện S, Hà Nội. Hồ sơ số 211122-0103; địa chỉ: Thôn T, xã M, huyện S, Hà Nội. Tổng giá trị tài sản đảm bảo: 2.943.000.000 đồng. Tài sản bảo đảm đã đăng ký thế chấp theo quy định của pháp luật.

Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, anh Lê Văn B đã trả được cho Ngân hàng TMCP P tổng số tiền 570.352.293 đồng (trong đó: nợ gốc là 220.432.000 đồng, nợ lãi là 349.742.552, tiền phạt là 177.741 đồng).

Do anh Lê Văn B vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên toàn bộ khoản vay đã bị chuyển nợ quá hạn từ ngày 10/11/2023.

Tạm tính đến ngày 30/7/2024 anh Lê Văn B còn nợ Ngân hàng TMCP P tổng số tiền 2.270.970.404 đồng (trong đó: nợ gốc là 2.079.568.000 đồng; nợ lãi trong hạn: 12.123.706 đồng; nợ lãi quá hạn: 179.278.698 đồng).

Nay Ngân hàng TMCP P yêu cầu Tòa án Toà án giải quyết:

  1. Buộc anh Lê Văn B phải trả cho Ngân hàng TMCP P số tiền nợ của Hợp đồng tín dụng số ố_ngày_HĐTD" 0043/2021/HĐTD-OCB-CN ngày 23/11/2021, (Hợp đồng sửa đổi, bổ sung số 0043/2021/SĐBS-HĐTD ngày 29/11/2021); ế ước nhận nợ số ố ngày Khế ước nhận_nợ" 0043.01/2021/KUNN-OCB-CN ngày 24/11/2021 ạm tính đến ngày 30/7/2024 là 2.270.970.404 đồng (trong đó: nợ gốc là 2.079.568.000 đồng; nợ lãi trong hạn: 12.123.706 đồng; nợ lãi quá hạn: 179.278.698 đồng). Anh Lê Văn B phải chịu tiền lãi, phí phát sinh theo Hợp đồng tín dụng số MERGEFIELD "Số_ngày__HĐTD" 0043/2021/HĐTD-OCB-CN ngày 23/11/2021, (Hợp đồng sửa đổi, bổ sung số 0043/2021/SĐBS-HĐTD ngày 29/11/2021); ế ước nhận nợ số MERGEFIELD "Số_ngày Khế ước nhận nợ" 0043.01/2021/KUNN-OCB-CN ngày 24/11/2021 ừ ngày 31/7/2024 cho đến khi anh Lê Văn B hoàn thành nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP P.
  2. Nếu anh Lê Văn B không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ nêu trên thì Ngân hàng TMCP P có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mại, xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất (kể cả tài sản phát sinh sau khi thế chấp) tọa lạc tại thửa đất sốịa chỉ đất" : 240, tờ bản đồ số: 14, địa chỉ: thôn T, xã M, huyện S, H_chứng_nhận" Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số V 801583, số vào sổ cấp GCN QSDĐ số: 2135.QSDĐ do UBND huyện S, Tp . cấp ngày 29/12/2003 cho hộ gia đình ông Hồ Văn H2 và ngày 25/11/2021n phòng Đ, chi nhánh S xác nhận chuyển nhượng toàn bộ quyền sử dụng đất cho anh Lê Văn B theo Hợp đồng số 3490 lập ngày 22/11/2021 tại Văn phòng C1, huyện S, Hà Nội. Hồ sơ số 211122-0103; địa chỉ: Thôn T, xã M, huyện S, Hà Nội đã thế chấp theo Hợp đồng thế chấp số công chứng 4478/HĐTC, quyển số 04/2021, TP/CC-SCC/HĐGD ngày 29/11/2021.

- Toàn bộ số tiền thu được từ việc phát mại tài sản bảo đảm được thực hiện cho nghĩa vụ trả nợ của anh B đối với Ngân hàng TMCP P. Trường hợp số tiền thu được từ việc phát mại tài sản bảo đảm không đủ để thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thì anh B phải tiếp tục chịu trách nhiệm trả số nợ còn lại cho Ngân hàng TMCP P.

Về án phí: Anh B phải chịu theo quy định của pháp luật.

Đối với chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, Ngân hàng tự nguyện chịu, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

II. Bị đơn: Tại biên bản lấy lời khai ngày 17/5/2024, anh Lê Văn B trình bày:

Do cần tiền để mua đất nên anh đã ký kết Hợp đồng tín dụng để vay tiền của Ngân hàng TMCP P. Cụ thể là ngày 23/11/2021 hai bên ký Hợp đồng tín dụng số ố_ngày_HĐTD" 0043/2021/HĐTD-OCB-CN, ngày 29/11/2021 ký Hợp đồng sửa đổi bổ sung số 0043/2021/SĐBS-HĐTD và ngày 24/11/2021ký Khế ước nhận nợ số MERGEFIELD "Số_ngày_Khế ước nhận nợ" 0043.01/2021/KUNN-OCB-CN Tổng số tiền anh vay là ố_tiền_vay" 2.300.000.000 đồngđể mua chính thửa đất mà anh đã thế chấp cho Ngân hàng.

Ngày 29/11/2021, anh đã ký kết Hợp đồng thế chấp tài sản số ố_ngày_HĐBĐ" công chứng: 4478/HĐTC, quyển số 04/2021, TP/CC-SCC/HĐGD ại òng_phòng_công_chứng" Văn phòng C, Hà NộiTheo Hợp đồng này thì anh thế chấp cho Ngân hàng chính thửa đất mà anh đã mua là ịa_chỉ_đất" thửa đất số: 240, tờ bản đồ số: 14, địa chỉ: thôn T, xã M, huyện S, Hà Nội

Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng do công việc của anh gặp nhiều khó khăn nên anh đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ được quy định trong Hợp đồng tín dụng số ố_ngày_HĐTD" 0043/2021/HĐTD-OCB-CN ngày 23/11/2021, Hợp đồng sửa đổi bổ sung số 0043/2021/SĐBS-HĐTD ngày 29/11/2021 Khế ước nhận nợ số MERGEFIELD "Số_ngày_Khế_ước_nhận nợ" 0043.01/2021/KUNN-OCB-CN ngày 24/11/2021

Theo thông báo của Ngân hàng thì tính đến ngày 03/01/2024 anh còn nợ Ngân hàng O tổng số tiền là 2,112,331,168 đồng, trong đó:

  • Nợ gốc: 2,112,331,168 đồng;
  • Nợ lãi: 32,763,168 đồng;

thì anh cũng không có ý kiến gì.

Nay Ngân hàng yêu cầu anh thanh toán toàn bộ số tiền trên và lãi phát sinh kể từ ngày 04/01/2024 cho đến khi tất toán khoản vay, nếu không sẽ phát mại tài sản bảo đảm để thu hồi nợ thì anh xin có ý kiến như sau:

Bản thân anh hiện đang chấp hành án nên không thể có khả năng trả ngay toàn bộ số nợ cho Ngân hàng nên anh đồng ý để Ngân hàng phát mại nhà đất đã thế chấp để thu hồi nợ. Nếu toàn bộ số tiền thu được từ việc phát mại tài sản bảo đảm không đủ để thanh toán toàn bộ số nợ thì anh cũng nhất trí là có nghĩa vụ trả nốt số nợ còn lại cho Ngân hàng.

Anh và anh Lê Văn B (con ông Hồ Văn H2) là bạn bè cùng thôn chơi với nhau, vì vậy sau khi anh nhận chuyển nhượng thửa đất thì anh vẫn để cả gia đình ông H2 ở trên thửa đất anh đã mua, khi nào anh cần đến sẽ yêu cầu họ chuyển đi sau. Khi anh nhận chuyển nhượng đất thì trên đất đã có nhà và các tài sản gắn liền với đất (các tài sản này đều thuộc tài sản thế chấp). Anh cũng không để ý là sau khi anh ký thế chấp thửa đất cho Ngân hàng thì gia đình ông H2 có xây dựng kiến thiết thêm gì trên đất không, anh không thấy gia đình thông báo gì với anh. Tuy nhiên, nếu có thì Tòa án cứ đối chiếu quy định, thỏa thuận tại Hợp đồng thế chấp mà anh đã ký kết với Ngân hàng để giải quyết, anh không có ý kiến khác.

Do ông Hồ Văn H2 đã chết nên trên nhà đất thế chấp có những người sau sinh sống:

  1. Bà Nguyễn Thị T4 - sinh năm 1961 (vợ ông H2)
  2. Anh Hồ Văn T5 - sinh năm 1983 (con ông H2, bà T4)
  3. Anh Hồ Văn H1 - sinh năm 1986 (con ông H2, bà T4)
  4. Chị Nguyễn Thị T6 - sinh năm 1987 (vợ anh T5)
  5. Cháu Hồ Bảo Y - sinh năm 2008 (con anh T5)
  6. Cháu Hồ Bảo A - sinh năm 2011 (con anh T5)
  7. Cháu Hồ Bảo A1 - sinh năm 2022 (con anh T5)

Ngoài ra không có ai khác.

Anh không có ý kiến gì đối với Hợp đồng tín dụng, Hợp đồng thế chấp mà anh đã ký kết để vay tiền của Ngân hàng vì các hợp đồng đó là do anh ký kết hoàn toàn tự nguyện, anh cũng không có yêu cầu phản tố trong vụ án.

Do anh đang chấp hành án nên anh xin vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án, kể cả khi hòa giải, xét xử, anh xin giữ nguyên ý kiến đã trình bày.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

- Anh Hồ Văn T5 có ý kiến:

Gia đình anh có thửa đất số ịa_chỉ_đất" 240, tờ bản đồ số: 14, địa chỉ: thôn T (nay là thôn Đ), xã M, huyện S, Tp . được cấp ấy_chứng_nhận" Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số V 801583, số vào sổ cấp GCN QSDĐ số: 2135.QSDĐ do UBND huyện S, Tp . cấp ngày 29/12/2003 do bố anh là Hồ Văn H2 đứng tên chủ ộ (bố anh đã chết ngày 31/3/2023).

Anh và anh Lê Văn B là bạn bè cùng thôn chơi với nhau. Trước đây khi bố anh còn sống thì có vay của anh B một số tiền để chữa bệnh, anh không biết cụ thể là bao nhiêu (vì bố anh bị bệnh ung thư gan). Sau đó do anh B đề nghị là sang tên sổ đỏ của gia đình anh cho anh B để anh B thế chấp Ngân hàng để vay tiền thì gia đình anh đã ký sang tên sổ đỏ đất cho anh B. Về mặt thực tế thì cả gia đình anh vẫn ở trên thửa đất này từ trước đến nay, kể cả sau khi đã ký sang tên cho anh B.

Anh cũng không biết anh B đã thế chấp thửa đất cho Ngân hàng để vay số tiền là bao nhiêu, anh cũng không biết quá trình trả nợ của anh B như thế nào.

Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu anh B trả toàn bộ số nợ còn thiếu, nếu không sẽ phát mại nhà đất thế chấp để thu hồi nợ thì anh có ý kiến đề nghị cho gia đình anh B trả dần cho Ngân hàng mỗi tháng 3.000.000 đồng đề chờ anh B chấp hành án xong thì anh B sẽ giải quyết khoản nợ với Ngân hàng.

Anh đề nghị không phát mại nhà đất gia đình anh đang ở vì ngoài nơi ở này ra thì gia đình anh không còn nơi ở nào khác.

Nguồn gốc thửa đất là của bố mẹ anh có từ trước khi anh em anh được sinh ra. Toàn bộ tài sản trên đất là của bố mẹ anh làm nên, anh em anh không có công sức đóng góp gì. Trên đất hiện có những người sau sinh sống:

  1. Bà Nguyễn Thị T4 - sinh năm 1961 (mẹ anh)
  2. Anh
  3. Anh Hồ Văn H1 - sinh năm 1986 (em trai anh)
  4. Chị Nguyễn Thị T6 - sinh năm 1987 (vợ anh)
  5. Cháu Hồ Bảo Y - sinh năm 2008 (con anh)
  6. Cháu Hồ Bảo A - sinh năm 2011 (con anh)
  7. Cháu Hồ Bảo A1 - sinh năm 2022 (con anh)

Ngoài ra không có ai khác.

Anh không có ý kiến gì đối với Hợp đồng tín dụng, Hợp đồng thế chấp mà anh B đã ký kết để vay tiền của Ngân hàng vì các hợp đồng đó là do anh B ký kết, gia đình anh không tham gia ký kết, anh cũng không có yêu cầu độc lập trong vụ án.

- Bà Nguyễn Thị T4 có lời khai:

Bà là vợ của ông Hồ Văn H2 là người đại diện chủ hộ đứng tên trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với thửa đất số 240 tờ bản đồ số 14 thôn T (nay thuộc thôn Đ), xã M, S, Hà Nội được Ủy ban nhân dân huyện S cấp ngày 29/12/2003.

Nguồn gốc thửa đất là ông bà đổi phần đất của cha ông của ông H2 để lại lấy thửa đất ở vị trí này thuộc khu đất giãn dân. Toàn bộ tài sản trên đất đều là của vợ chồng bà làm nên, không có công sức đóng góp của ai khác.

Năm 2021, anh Lê Văn B có sang hỏi mượn sổ đỏ của gia đình bà đi cắm để vay tiền và hẹn sau 01 năm sẽ trả lại cho gia đình bà nên gia đình bà đã đồng ý. Gia đình bà đã ra Văn phòng công chứng ở thị trấn S, huyện S để ký cho anh B mượn sổ đỏ vay tiền, cụ thể ngày nào ký, ký ở Văn phòng công chứng nào và ký vào các văn bản nào thì bà không biết vì anh B là bạn của anh Hồ Văn T5 (con trai bà). Từ sau khi gia đình bà ký tại Văn phòng công chứng thì gia đình bà vẫn ở trên đất này.

Trên thửa đất hiện có bà, vợ chồng anh T5, anh Hồ Văn H1 và các con của anh T5 sinh sống, ngoài ra không có ai khác.

Chồng bà đã chết ngày 31/3/2023. Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu anh B trả nợ cho Ngân hàng, nếu không sẽ phát mại thửa đất để thu hồi nợ thì bà đề nghị Tòa án chờ anh B đi chấp hành án về để giải quyết vì gia đình bà chỉ cho anh B mượn sổ đỏ chứ không chuyển nhượng đất cho anh B.

Năm 2023, vợ chồng bà có bỏ tiền làm tầng hai của ngôi nhà trên đất và làm mái vẩy bằng tôn ở trước nhà, không có công sức đóng góp của ai khác.

- Anh Hồ Văn H1: Tại Biên bản lấy lời khai ngày 15/5/2024, anh H1 có ý kiến: Anh không biết và không liên quan đến việc anh B vay tiền của Ngân hàng, vì vậy đề nghị Tòa án làm việc với anh B, anh không có ý kiến gì vì xác định không liên quan. Nhà đất của gia đình anh vẫn diện tích như cũ, không có thay đổi, riêng tầng hai của ngôi nhà và mái vẩy trước nhà là mẹ anh bỏ tiền ra làm từ năm 2023. Anh xin phép đi làm và từ chối không ký biên bản.

- Chị Nguyễn Thị T6: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án không lấy được lời khai của chị T6, chị T6 không đến Toà án làm việc, không có ý kiến bằng văn bản gửi Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Thẩm phán thực hiện đúng quy định của pháp luật; tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thực hiện đúng theo trình tự tố tụng quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự. Đồng thời đại diện Viện kiểm sát cũng phát biểu quan điểm về việc chấp hành quy định của pháp luật của những người tham gia tố tụng.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Căn cứ khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; khoản 1 Điều 147; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • Căn cứ khoản 2 khoản 3 Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng;
  • Căn cứ Điều 317, khoản 6 Điều 320, 463, khoản 1 và khoản 5 Điều 466; Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • Căn cứ Điểm b khoản 2 Điều 8 Nghị quyết số 01/2029/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.
  • Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về án phí: bị đơn là anh Lê Văn B phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét, đánh giá tại phiên tòa; căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng:

[1.1]. Việc bị đơn là anh Lê Văn B và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị T4, anh Hồ Văn H1, chị Nguyễn Thị T6 vắng mặt tại phiên tòa:

Anh Lê Văn B, bà Nguyễn Thị T4 đã có đơn xin vắng mặt. Trong suốt quá trình Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án, mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định nhưng anh Hồ Văn H1, chị Nguyễn Thị T6 không đến Tòa án để làm việc. Tòa án đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa cho tất cả các đương sự nhưng anh Hồ Văn H1, chị Nguyễn Thị T6 vẫn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do và không thuộc trường hợp vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[1.2]. Về điều kiện khởi kiện: Bên vay là anh Lê Văn B vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số ố_ngày_HĐTD" 0043/2021/HĐTD-OCB-CN ngày 23/11/2021, Hợp đồng sửa đổi bổ sung số 0043/2021/SĐBS-HĐTD ngày 29/11/2021 và ế ư ớc nhận nợ s ố ố ngày Khế ước_nhận_nợ" 0043.01/2021/KUNN-OCB-CN ngày 24/11/2021 đã ký kết với Ngân hàng. Vì vậy, Ngân hàng có quyền khởi kiện để thu hồi nợ theo thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ đã được các bên ký kết.

[1.3]. Về quan hệ tranh chấp:

Ngân hàng Thương mại Cổ phần P (O) có đăng ký kinh doanh số 0300852005 do Sở Kế hoạch đầu tư thành phố H cấp lần đầu ngày 10/5/1996, thay đổi lần thứ 38 ngày 13/4/2022, địa chỉ trụ sở chính tại: Số D (Tầng trệt, tầng lửng, tầng 1, tầng 2 của Tòa nhà) và số D L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh do ông Trinh Văn T8 - Chủ tịch Hội đồng Quản trị là người đại diện theo pháp luật.

Xét Ngân hàng Thương mại Cổ phần P (O) là pháp nhân có đăng ký kinh doanh, anh Lê Văn B ký kết Hợp đồng tín dụng vay vốn Ngân hàng với mục đích: mua bất động sản. Vì vậy, quan hệ pháp luật được xác định là tranh chấp dân sự về hợp đồng tín dụng theo quy định tại khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[1.4]. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Anh Lê Văn B có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở tại huyện S, thành phố Hà Nội. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Ngân hàng khởi kiện anh Lê Văn B tại Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn và Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.

[2]. Về nội dung:

[2.1]. Về hợp đồng tín dụng:

Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình, Ngân hàng TMCP P đã xuất trình Hợp đồng tín dụng số ố_ngày_HĐTD" 0043/2021/HĐTD-OCB-CN ngày 23/11/2021, Hợp đồng sửa đổi bổ sung số 0043/2021/SĐBS-HĐTD ngày 29/11/2021 và ế ước nhận nợ số ố_ngày Khế ước_nhận_nợ" 0043.01/2021/KUNN-OCB-CN ngày 24/11/2021 mà nguyên đơn và bị đơn đã ký kết.

Đồng thời cũng xuất trình Hợp đồng thế chấp tài sản ngày 29/11/2021, số MERGEFIELD "Số_ngày_HĐBĐ" công chứng: 4478/HĐTC, quyển số 04/2021, TP/CC-SCC/HĐGD ại òng_phòng_công_chứng" Văn phòng C, thành phố H nội dung anh B thế chấp cho Ngân hàng TMCP P ịa_chỉ_đất" thửa đất số: 240, tờ bản đồ số: 14, địa chỉ: thôn T, xã M, huyện S, H_chứng_nhận" Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số V 801583, số vào sổ cấp GCN QSDĐ số: 2135.QSDĐ do UBND huyện S, Tp. cấp ngày 29/12/2003 cho hộ gia đình ông Hồ Văn H2 và đình ông Hồ Văn H2 đã chuyển nhượng toàn bộ thửa đất cho anh Lê Văn B theo Hợp đồng số 3490 lập ngày 22/11/2021 tại Văn phòng C1, huyện S, Hà Nội.

Ngân hàng TMCP P và anh Lê Văn B ký kết hợp đồng tín dụng và Hợp đồng thế chấp trên cơ sở tự nguyện, nội dung thỏa thuận giữa các bên không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội; thỏa thuận về lãi luất (lãi trong hạn và lãi quá hạn); Lãi suất nợ lãi chậm trả và cách tính tiền lãi vay được ghi nhận trong hợp đồng là phù hợp với quy định của pháp luật, cụ thể: Khoản 2, khoản 3 Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng, quy định về lãi suất cho vay và cách tính tiền lãi vay; khoản 5 Điều 466 Bộ luật Dân sự và điểm b khoản 2 Điều 8 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, quy định về lãi suất nợ lãi chậm trả. Như vậy, Hợp đồng tín dụng số ố_ngày_HĐTD" 0043/2021/HĐTD-OCB-CN ngày 23/11/2021, Hợp đồng sửa đổi bổ sung số 0043/2021/SĐBS- HĐTD ngày 29/11/2021 và ếước nhận nợ số MERGEFIELD "Số_ngày_Khế ước nhận nợ" 0043.01/2021/KUNN-OCB-CN ngày 24/11/2021 đã phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên ngay sau khi ký kết. Anh Lê Văn B đã được Ngân hàng giải ngân toàn bộ số tiền vay.

Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, anh Lê Văn B đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng đã chuyển các khoản nợ của anh Lê Văn B sang nợ quá hạn từ ngày 10/11/2023.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bà Nguyễn Thị T4, anh Hồ Văn H1, chị Nguyễn Thị T6 không đến Tòa án làm việc, không đến tham gia phiên họp về việc kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và không đến tham gia tố tụng tại phiên tòa.

Theo quy định tại khoản 4 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự: “Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ án dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc”.

Vì vậy, căn cứ khoản 1, khoản 5 Điều 466 Bộ luật dân sự để buộc anh Lê Văn B phải trả cho Ngân hàng TMCP P toàn bộ số nợ gốc, nợ lãi theo Hợp đồng tín dụng đã ký tạm tính đến ngày 30/7/2024 và các khoản lãi, tiền phạt phát sinh theo lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số MERGEFIELD "Số_ngày_HĐTD" 0043/2021/HĐTD-OCB-CN ngày 23/11/2021, Hợp đồng sửa đổi bổ sung số 0043/2021/SĐBS-HĐTD ngày 29/11/2021 và ếước nhận nợ số MERGEFIELD "Số_ngày_Khế_ước_nhận_nợ" 0043.01/2021/KUNN-OCB-CN ngày 24/11/2021 kể từ ngày 31/7/2024 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ là phù hợp.

Kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật nếu anh B không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên thì Ngân hàng có quyền đề nghị Cơ quan thi hành án kê biên và phát mại tài sản bảo đảm để thu hồi nợ là:

+ Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với thửa đất số ịa_chỉ_đất" thửa đất số: 240, tờ bản đồ số: 14, địa chỉ: thôn T, xã M, huyện S, H "Theo_giấy_chứng_nhận" Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số V 801583, số vào sổ cấp GCN QSDĐ số: 2135.QSDĐ do UBND huyện S, Tp . cấp ngày 29/12/2003 cho hộ gia đình ông Hồ Văn H2 và đình ông Hồ Văn H2 đã chuyển nhượng toàn bộ thửa đất cho anh Lê Văn B theo Hợp đồng số 3490 lập ngày 22/11/2021 tại Văn phòng C1, huyện S, Hà Nội.

Đối với tài sản được hình thành sau khi thế chấp là tầng hai của ngôi nhà và mái vẩy bằng tôn trước nhà, xét thấy:

Tại Khoản 3 Điều 2 của Hợp đồng thế chấp ngày 29/11/2021 quy định:

“a. Toàn bộ hoa lợi lợi tức và các quyền phát sinh từ tài sản thế chấp cũng thuộc tài sản thế chấp.

d. Trường hợp tài sản thế chấp được đầu tư thêm làm phát sinh tài sản mới hoặc tài sản tăng thêm do đầu tư thì tài sản mới và tài sản tăng thêm này cũng thuộc tài sản thế chấp”.

Bà Nguyễn Thị T4 và các thành viên trong gia đình đã ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất cho anh Lê Văn B, sau khi đã chuyển nhượng bà T4 xây thêm tầng hai của ngôi nhà và làm mái vẩy bằng tôn trước nhà là làm trên đất của người khác, bà T4 cũng không xin phép, thông báo cho anh Lê Văn B biết là lỗi của bà Nguyễn Thị T4.

Vì vậy cần phát mại toàn bộ tài sản trên đất bao gồm cả tầng hai của ngôi nhà và mái vẩy bằng tôn trước nhà để thực hiện nghĩa vụ trả nợ của anh Lê Văn B đối với Ngân hàng TMCP P là phù hợp.

- Toàn bộ số tiền thu được từ việc phát mại tài sản bảo đảm được thực hiện cho nghĩa vụ trả nợ của anh B đối với Ngân hàng TMCP P. Trường hợp số tiền thu được từ việc phát mại tài sản bảo đảm không đủ để thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thì anh B phải tiếp tục chịu trách nhiệm trả nốt toàn bộ số nợ còn lại cho Ngân hàng TMCP P là phù hợp.

[3]. Về án phí dân sự:

Anh Lê Văn B phải chịu án phí do yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng được chấp nhận.

Ngân hàng TMCP P không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, được trả lại tiền tạm ứng án phí đã nộp do yêu cầu khởi kiện được Tòa án chấp nhận.

[4]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[5]. Quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn tại phiên tòa: Phù hợp với quy định của pháp luật và kết quả nghị án của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH :

- Căn cứ khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; khoản 1 Điều 147; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ khoản 2 khoản 3 Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng;

- Căn cứ Điều 317, khoản 6 Điều 320, 463, khoản 1 và khoản 5 Điều 466; Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điểm b khoản 2 Điều 8 Nghị quyết số 01/2029/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;

Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP P (O).
  2. Buộc anh Lê Văn B phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP P toàn bộ số tiền nợ gốc, nợ lãi theo Hợp đồng tín dụng số ố_ngày_HĐTD" 0043/2021/HĐTD-OCB-CN ngày 23/11/2021; Hợp đồng sửa đổi bổ sung số 0043/2021/SĐBS-HĐTD ngày 29/11/2021 và hế ư ớc nhận nợ s ố ố ngày_Khế ước_nhận_nợ" 0043.01/2021/KUNN-OCB-CN ngày 24/11/2021 tạm tính đến ngày 30/7/2024 là 2.270.970.404 đồng (trong đó: nợ gốc là 2.079.568.000 đồng; nợ lãi trong hạn: 12.123.706 đồng; nợ lãi quá hạn: 179.278.698 đồng).

    - Buộc anh Lê Văn B phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP P các khoản lãi, tiền phạt phát sinh theo lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số ố_ngày__HĐTD" 0043/2021/HĐTD-OCB-CN ngày 23/11/2021; Hợp đồng sửa đổi bổ sung số 0043/2021/SĐBS-HĐTD ngày 29/11/2021 và hế ước nhận nợ số MERGEFIELD "Số_ngày_Khế ước nhận nợ" 0043.01/2021/KUNN-OCB-CN ngày 24/11/2021 kể từ ngày 31/7/2024 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.

    - Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật nếu anh Lê Văn B không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên thì Ngân hàng TMCP P có quyền đề nghị Cơ quan thi hành án kê biên và phát mại tài sản bảo đảm để thu hồi nợ là:

    Quyền sử dụng đất và toàn bộ tài sản gắn liền với đất đối với thửa đất sốịa_chỉ_đất" : 240, tờ bản đồ số 14, thôn T, xã M, huyện S, H_chứng_nhận" Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số V 801583, số vào sổ cấp GCN QSDĐ số: 2135.QSDĐ do UBND huyện S, Tp . cấp ngày 29/12/2003 cho hộ gia đình ông Hồ Văn H2 và đình ông Hồ Văn H2 đã chuyển nhượng toàn bộ thửa đất cho anh Lê Văn B theo Hợp đồng số 3490 lập ngày 22/11/2021 tại Văn phòng C1, huyện S, Hà Nội (có sơ đồ kèm theo).

    - Toàn bộ số tiền thu được từ việc phát mại tài sản bảo đảm được thực hiện cho nghĩa vụ trả nợ của anh Lê Văn B đối với Ngân hàng TMCP P. Trường hợp số tiền thu được từ việc phát mại tài sản bảo đảm không đủ để thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thì anh Lê Văn B phải tiếp tục chịu trách nhiệm trả số nợ còn lại cho Ngân hàng TMCP P.

    Trường hợp, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh mức lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng, tổ chức tín dụng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng, tổ chức tín dụng cho vay.

  3. Về án phí sơ thẩm:

    - Anh Lê Văn B phải chịu 77.419.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm để sung ngân sách Nhà nước.

    - Trả lại Ngân hàng TMCP P số tiền tạm ứng án phí 34.451.000 đồng đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0022412 ngày 15/3/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sóc Sơn.

    Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Ngân hàng TMCP P, anh Hồ Văn T5 có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Lê Văn B, bà Nguyễn Thị T4, anh Hồ Văn H1, chị Nguyễn Thị T6 có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND huyện Sóc Sơn;
  • - TAND TP. Hà Nội;
  • - Chi cục THADS huyện Sóc Sơn;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Bích Nguyệt

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 26/2024/DSST ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 26/2024/DSST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger