|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA VIỄN TỈNH NINH BÌNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 26/2024/ HS-ST
Ngày: 29/5/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA VIỄN, TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lã Hoàng Giáp.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hà Xuân Ninh.
Ông Hoàng Quốc Trị.
-Thư ký phiên toà: bà Bùi Hồng Mơ - Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn tham gia phiên toà: bà Vũ Như Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình; Tòa án nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 21/2024/TLST – HS ngày 19 tháng 4 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2024/TLST – HS ngày 14 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Thành L (Tên gọi khác: không), sinh năm: 1989; Nơi sinh: xã Q, huyện N, tỉnh Ninh Bình; Nơi cư trú: Thôn H, xã Q, huyện N, tỉnh Ninh Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Hữu T và bà Bùi Thị C; Vợ Bùi Thị N, có 02 con; Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 05/01/2024, chuyển tạm giam từ ngày 13/01/2024. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh tỉnh N. (có mặt)
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- + Chị Bùi Thị N, sinh năm 1989; Nơi cư trú: Thôn H, xã Q, huyện N, tỉnh Ninh Bình. (vắng mặt)
- + Anh Lê Văn T1, sinh năm 1988; Nơi cư trú: Xóm D, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình. (vắng mặt)
- Những người tham gia tố tụng khác:
- + Người làm chứng: anh Tống Văn T2, anh Đinh Văn T3. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Thành L sử dụng trái phép chất ma túy từ năm 2021 đến nay. Khoảng 09 giờ ngày 05/01/2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy, L điều khiển xe mô tô Biển kiểm soát 35N1-072.77 đi từ nhà mẹ vợ ở xóm H, xã K, huyện Y đến khu vực huyện G để mua ma túy về sử dụng. Trên đường đi, L rẽ vào nhà Lê Văn T1, sinh năm 1988, trú tại xóm D, xã G, huyện G rủ T1 đi chơi; T1 đồng ý. Sau đó, L điều khiển xe mô tô chở T1 ngồi sau đi đến khu vực đường Đ thuộc địa phận xã G, thì dừng lại. L bảo T1 xuống xe đứng chờ, còn L tiếp tục điều khiển xe mô tô đi đến khu vực đường đê đoạn giáp ranh giữa xã G, huyện G và xã T, huyện N; tại đây, L gặp, hỏi và mua ma tuý của một người đàn ông với số tiền 900.000 đồng; người này cầm tiền và đưa lại L 02 gói nhỏ đều được gói ngoài bằng giấy bạc màu trắng, mở ra kiểm tra bên trong đều chứa chất bột dạng cục màu trắng. Xác định là H, L cầm ở tay trái rồi điều khiển xe mô tô quay lại chỗ T1 đứng chờ. Khoảng 11 giờ 20 phút cùng ngày, khi L điều khiển xe mô tô chở T1 đi đến khu vực cổng chợ thuộc trục đường xóm T, xã G, huyện G thì gặp Tổ công tác Công an xã G làm nhiệm vụ yêu cầu kiểm tra. Biết không thể che giấu hành vi phạm tội của mình, L tự nguyện giao nộp cho lực lượng Công an 02 gói nhỏ chứa ma túy và khai nhận đó là H, L mua về nhằm mục đích sử dụng. Lực lượng Công an thu giữ và niêm phong 02 gói ma túy có đặc điểm nêu trên của L. Ngoài ra, còn thu giữ 01 xe mô tô Biển kiểm soát 35N1-072.77. Sau đó, lực lượng Công an đưa Nguyễn Thành L, Lê Văn T1 cùng vật chứng về trụ sở UBND xã G, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Thành L.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G đã tiến hành cân xác định khối lượng chất bột dạng cục màu trắng trong 02 gói thu giữ của Nguyễn Thành L có khối lượng lần lượt là 0,341 gam, lấy mẫu giám định ký hiệu M1 và 0,221 gam lấy mẫu giám định ký hiệu M2, để gửi đi xác định khối lượng và giám định chất ma túy.
Tại Kết luận giám định số 138/KL-KTHS-MT ngày 11/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh N, kết luận:
Mẫu gửi giám định ký hiệu M1 có khối lượng 0,3397 gam, ký hiệu M2 có khối lượng 0,2189 gam. Tổng khối lượng hai mẫu giám định ký hiệu M1, M2 là 0,5586 gam.
Mẫu gửi giám định ký hiệu M1, M2 đều là ma túy, loại Heroine (H).
Heroine (H1) có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và là chất ma túy được quy định tại Danh mục IA, số thứ tự 9; Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
H2 lại đối tượng giám định gồm: Mẫu ký hiệu M1 còn lại có khối lượng 0,2706 gam, ký hiệu M2 có khối lượng 0,1562 gam, đều là ma túy, loại Heroine (H).
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có khiếu nại, ý kiến gì về kết luận giám định nêu trên.
Tại Bản Cáo trạng số 24/CT-VKS-GV ngày 19/4/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn đã truy tố Nguyễn Thành L ra trước Tòa án nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình để xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình thực hành quyền công tố tại phiên tòa, phát biểu luận tội đã giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng. Sau khi phân tích đánh giá tính chất nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Thành L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với vật chứng của vụ án đã được thu giữ, phù hợp Kết luận giám định số 138/KL-KTHS-MT ngày 11/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh N, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án; đã có đủ cơ sở kết luận: Nguyễn Thành L không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp phép cất giữ, quản lý, mua bán, vận chuyển hoặc sử dụng chất ma túy. Hồi 11 giờ 20 phút ngày 05/01/2024, tại khu vực trục đường xóm T, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình, Nguyễn Thành L có hành vi tàng trữ trái phép 0,5586 gam Heroine với mục đích sử dụng, bị bắt quả tang.
Bộ luật Hình sự quy định:
Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý.
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma tuý thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm :
... c) Heroine, cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
...
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.
Bị cáo Nguyễn Thành L là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự; Hành vi cất giấu trái phép Heroine của bị cáo đã phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Như vậy việc các cơ quan tiến hành tố tụng điều tra, truy tố và xét xử đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[2]. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây dư luận xấu trên địa bàn. Mặt khác ma túy là hiểm họa của loài người, là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và tội phạm khác, bị cáo thiếu ý thức chấp hành pháp luật nên đã đi mua ma túy cất giấu để thỏa mãn nhu cầu bản thân. Chính vì vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi phạm tội mà mình đã gây ra. Hành vi phạm tội của bị cáo là cố ý thuộc trường hợp nghiêm trọng.
[3]. Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Thành L thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có. Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt.
Căn cứ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian tương xứng để giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt và phòng ngừa chung cho xã hội.
[4]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội không có mục đích vụ lợi, không có thu nhập ổn định, do đó Hội đồng xét xử xét thấy không cần áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.
[5]. Biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Đối với 01 phong bì ghi số 138/KL-KTHS-MT, bên trong gồm: Mẫu ký hiệu M1 còn lại có khối lượng 0,2706 gam, ký hiệu M2 có khối lượng 0,1562 gam, đều là ma túy, loại Heroine (H), toàn bộ vỏ bao gói niêm phong; 01 phong bì dán kín niêm phong theo quy định, bên trong gồm: 02 mảnh giấy bạc màu trắng, 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu; là vật chứng của vụ án bị cấm lưu hành, không có giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 xe mô tô Biển kiểm soát 35N1-072.77 đã qua sử dụng, quá trình điều tra xác định là tài sản của chị Bùi Thị N (là vợ của L). Ngày 05/01/2024, L sử dụng xe mô tô đi mua ma túy, chị N không biết, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G trả lại xe mô tô trên cho chị N; do vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
[6]. Về nguồn gốc số ma túy và người bán ma túy, bị cáo khai mua của một người đàn ông không quen biết nên không đủ căn cứ để xác minh, làm rõ, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Đối với Lê Văn T1 là người đi cùng Nguyễn Thành L ngày 05/01/2024; T1 không biết việc L mua và tàng trữ trái phép chất ma tuý nên cơ quan cảnh sát điều tra không có căn cứ xử lý đối với T1, do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[7]. Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
[8]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51của Bộ luật Hình sự.
Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự ; Điều 106; Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự ;
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Thành L phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"; Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành L 20 (hai mươi) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 05/01/2024.
- Biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì ghi số 138/KL-KTHS-MT, bên trong gồm: Mẫu ký hiệu M1 còn lại có khối lượng 0,2706 gam, ký hiệu M2 có khối lượng 0,1562 gam, đều là ma túy, loại Heroine (H), toàn bộ vỏ bao gói niêm phong; 01 phong bì dán kín niêm phong theo quy định, bên trong gồm: 02 mảnh giấy bạc màu trắng, 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu.
(Chi tiết các vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G và Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Gia Viễn ngày 06/5/2024).
- Án phí: Bị cáo Nguyễn Thành L phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 29/5/2024. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Lã Hoàng Giáp |
Bản án số 26/2024/ HS-ST ngày 29/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA VIỄN, TỈNH NINH BÌNH về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 26/2024/ HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA VIỄN, TỈNH NINH BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thành L - TTMT
