|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH TỈNH PHÚ THỌ Bản án số: 26/2024/HNGĐ-ST Ngày: 27 tháng 9 năm 2024. V/v “Tranh chấp hôn nhân gia đình”. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tòa phiên tòa: Ông Đinh Việt G
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lâm Quang Tụng.
2. Bà Nguyễn Thị Minh Huyền
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Phú – Thư ký Tòa án nhân dân
huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ tham
gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 97/2023/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 6 năm 2024 về việc "Tranh chấp về hôn nhân gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 8 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 16/2024/QĐ-TA ngày 12/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ, giữa:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1994.
Nơi cư trú: Khu F, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ.
Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1990.
Nơi cư trú: Khu F, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ.
(Chị H có đơn xin xét xử vắng mặt, anh T vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, quá trình tố tụng tại Tòa án nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1990 tự do tìm hiểu, đăng ký kết hôn tại UBND xã T ngày 28/02/2018. Sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống tại khu F, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ được một thời gian đến tháng 3/2023 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống. Nay chị thấy tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không hạnh phúc nên chị xin được ly hôn anh T.
- Về con chung: Chị H xác định vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Hoàng P, sinh ngày 23/01/2019. Khi ly hôn chị xin được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng và giáo dục cháu Nguyễn Hoàng P cho đến khi con chung thành niên có khả năng lao động tự túc được. Chị tự nguyện không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị.
- Về tài sản chung, về nợ chung, công sức đóng góp: Chị Hàng không đề nghị Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Nguyễn Văn T: Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án bao gồm Thông báo về việc thụ lý vụ án; Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.... để anh T biết và thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình nhưng anh đều vắng mặt trong các buổi làm việc của Tòa án nên không có quan điểm trình bày.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh.
Về việc tuân theo pháp luật: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định của pháp luật, không có vi phạm gì.
Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
X:
Chấp yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H. Cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Văn T.
Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị H được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Nguyễn Hoàng P, sinh ngày 23/01/2019 cho đến khi cháu P thành niên, có khả năng lao động tự túc được. Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị H vì chị H tự nguyện không yêu cầu.
Anh T có quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung không ai được ngăn cấm, cản trở.
Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp: Chị H không đề nghị Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về tố tụng: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết về việc xin ly hôn với anh Nguyễn Văn T, nơi cư trú: Khu F, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Do vậy, đây là tranh chấp về Hôn nhân gia đình theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Nguyên đơn chị Nguyễn Thị H có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Nguyễn Văn T đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng anh T vắng mặt tại phiên tòa vì vậy Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt chị H và anh T là phù hợp quy định tại Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2]. Về nội dung:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn T tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn ngày 28/02/2018 tại UBND xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ nên đây là hôn nhân hợp pháp. Nguyên đơn là chị H xác định trong quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống. Anh T không đến Tòa án làm việc nên không có quan điểm trình bày gì. Qua xác minh tại khu dân cư và UBND xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ cung cấp: Chị H và anh T đăng ký kết hôn ngày 28/02/2018 tại UBND xã T. Về nguyên nhân mâu thuẫn của chị H và anh T thì chính quyền địa phương đều không nắm rõ, nay chị H khởi kiện xin ly hôn anh T thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tòa án đã gặp và làm việc với bà Lê Thị S là mẹ đẻ của anh Nguyễn Văn T, bà S cho biết anh T hiện đang ở cùng bà tại khu F, xã T, tỉnh Phú Thọ, hàng ngày anh T đi làm việc và tối anh mới có mặt ở nhà, bà đồng ý nhận các văn bản tố tụng của Tòa án và cam kết giao đến tay anh T. Về mâu thuẫn của vợ chồng anh T chị H cụ thể như thế nào bà không nắm rõ nhưng bà xác định anh chị có mâu thuẫn và có lần anh T đã vứt quần áo của chị H ra sân, sau đó chị H đã về nhà mẹ đẻ để ở từ khoảng tháng 7/2023 đến nay. Chị H xin ly hôn anh T bà xác định đây là việc riêng của anh chị nên không can thiệp và đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử xét thấy cuộc sống vợ chồng giữa chị H và anh T có xảy ra mâu thuẫn, vợ chồng đã sống ly thân một thời gian, hai vợ chồng không còn quan tâm đến nhau. Như vậy tình trạng hôn nhân của chị H và anh T đã đến mức trầm trọng, không thể khắc phục, đời sống chung thực tế đã không còn, mục đích hôn nhân không đạt được do đó cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H là phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
- Về con chung: Chị H xác định vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Hoàng P, sinh ngày 23/01/2019. Hiện nay cháu P đang ở cùng chị. Khi ly hôn chị H xin được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng và giáo dục con chung là cháu Nguyễn Hoàng P cho đến khi con chung thành niên có khả năng lao động tự túc được. Chị tự nguyện không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị. Hiện chị H đang làm tại Công ty TNHH N, thu nhập bình quân khoảng 10.000.000đ/01 tháng. Anh T không đến Tòa án làm việc nên không có ý kiến gì. Xét thấy, hiện nay cháu P đang ở cùng chị H, cháu P còn nhỏ nên cần sự quan tâm chăm sóc của người mẹ. Vì vậy để tránh sự xáo trộn cuộc sống và đảm bảo các điều kiện tốt nhất cho con chưa thành niên phát triển toàn diện nên cần giao cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Nguyễn Hoàng P là phù hợp. Anh T không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị H vì chị H tự nguyện không yêu cầu.
[3] Về tài sản chung; về công nợ; về công sức đóng góp: Chị H không đề nghị Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét xét giải quyết.
[4] Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[5] Xét thấy quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh là phù hợp nên cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
-
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H.
Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị H ly hôn với anh Nguyễn Văn T.
Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị H được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Nguyễn Hoàng P, sinh ngày 23/01/2019 cho đến khi cháu P thành niên, có khả năng lao động tự túc được. Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị H vì chị H tự nguyện không yêu cầu.
Anh T có quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung không ai được ngăn cấm, cản trở.
Về tài sản chung, về nợ chung, công sức đóng góp: Chị H không đề nghị Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
-
Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự đã nộp là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001246 ngày 20/6/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phù Ninh. Chị H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm
-
Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành án tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án; tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đinh Việt Giang |
Bản án số 26/2024/HNGĐ-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp hôn nhân gia đình
- Số bản án: 26/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
