TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 26/2024/HNGĐ-PT
Ngày: 27/8/2024
V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn".
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM.
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA.
- Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hà.
Các thẩm phán: Bà Lê Thị Phương Thanh.
Bà Trương Thị Anh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Kim Oanh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Văn Chùy - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử phúc thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình phúc thẩm thụ lý số 17/2024/TLPT-HNGĐ ngày 08 tháng 7 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”. Do bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 05/2024/HNGĐ-ST ngày 24 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 17/2024/QĐXXPT-HNGĐ ngày 30 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 08/2024/HNGĐPT-QĐ ngày 15/8/2024, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Chị Mai Thị H, sinh năm 1992. Có mặt.
Nơi cư trú: Lô A L, khu phố D, phường P, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa.
* Bị đơn: Anh Nguyễn Mạnh L, sinh năm 1990. Có mặt.
Nơi cư trú: Tổ A, phường B, quận L, thành phố Hà Nội.
Nơi tạm trú: Lô A L, khu phố D, phường P, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa.
Người đại diện theo ủy quyền của anh Nguyễn Mạnh L: ông Phạm Thanh B, sinh năm 1955. Có mặt.
Địa chỉ: Số E H, phường C, quận H, thành phố Hà Nội.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho anh Nguyễn Mạnh L: Luật sư Trần Thế A - Thuộc Công ty L3 - Đoàn Luật sư thành phố H. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
1
Địa chỉ: Văn phòng tầng 8, Tòa nhà T, số C T, phường T, quận Đ, thành phố Hà Nội.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Mai Thị H trình bày
Về hôn nhân: chị và anh Nguyễn Mạnh L kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và được sự đồng ý của hai bên gia đình, đăng ký kết hôn tại UBND phường B, quận L, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận kết hôn số 69/2015 ngày 04/5/2015. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính tình vợ chồng không hòa hợp, không có tiếng nói chung, không tôn trọng lẫn nhau, bất đồng quan điểm sống nên dẫn đến xích mích, cãi cọ lẫn nhau khiến cuộc sống chung không còn hạnh phúc. Mặc dù đã hết sức cố gắng nhưng đến nay vợ chồng không còn cảm thông, yêu thương nhau nữa, nên mâu thuẫn vợ chồng ngày càng căng thẳng, mệt mỏi, đã sống ly thân nhau, mạnh ai người nấy sống, không ai quan tâm đến ai, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng thực sự không còn, không còn khả năng đoàn tụ và không thể tiếp tục chung sống cùng nhau, nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh L.
Về con chung: chị và anh Nguyễn Mạnh L có 01 con chung là Nguyễn Gia B1, sinh ngày 19/11/2016. Nếu ly hôn chị xin được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Gia B1 đến tuổi thành niên và có khả năng lao động, yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị mỗi tháng 3.000.000₫.
Về tài sản: vợ chồng có những tài sản chung như sau:
- 01 quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại Lô đất số 0155, thuộc MBQH số 01/QH-XD ngày 24/02/2010 của UBND thị xã B duyệt MBQH khu dân cư B, phường P, thị xã B, diện tích sử dụng 103m² (trên đất có ngôi nhà 3 tầng), có tứ cận: phía Đông giáp đường; phía Tây giáp lô 156; phía Nam giáp lô 154; phía Bắc giáp đường (thửa đất này vợ chồng chị mua của C tay TNHH Tông công ty T và XD Đông Bắc, chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất).
- 01 xe ô tô tải BKS 29C 95914 mua năm 2017, trị giá khoảng 700.000.000đ.
Chị đề nghị Tòa án phân chia tài sản chung của vợ chồng theo quy định pháp luật.
Quá trình giải quyết vụ án, ngày 27/02/2024 chị Mai Thị H có đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện, không yêu cầu Tòa án giải quyết phân chia tài sản chung của vợ chồng nữa.
Tại đơn đề nghị ngày 19/3/2024, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, anh Nguyễn Mạnh L trình bày:
Anh đã nhận được giấy triệu tập số 04/TABS ngày 08/3/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Bỉm Sơn triệu tập anh làm bản tự khai, trình bày quan điểm về yêu cầu xin ly hôn của vợ anh là chị Mai Thị H.
2
Sau khi xem xét thực tế cuộc sống vợ chồng, anh thấy anh chị có một số sai sót trong cuộc sống, vợ chồng chưa thực sự hiểu và đồng cảm cho nhau. Tuy nhiên, những vấn đề trên chưa tạo thành mâu thuẫn gay gắt, tình cảm vợ chồng vẫn còn và vẫn có thể hàn gắn để đoàn tụ. Hơn nữa, vợ chồng đều lo lắng và muốn tạo điều kiện tốt nhất để nuôi dạy con chung là cháu Nguyễn Gia B1 mới 06 tuổi, để cháu được học hành, phát triển một cách tốt nhất. Vì vậy, anh đề nghị Tòa án tạo điều kiện tốt nhất cho vợ chồng có thời gian hòa giải, để vợ chồng đoàn tụ cùng nhau nuôi dạy con chung. Vì lý do trên nên anh chưa đề cập đến vấn đề nuôi con chung và giải quyết về phần tài sản chung vợ chồng.
Tại biên bản xác minh ngày 20/12/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Bỉm Sơn, trưởng khu phố E, phường P, thị xã B cung cấp thông tin: vợ chồng chị H, anh L là công dân sinh sống tại khu phố E, phường P, thị xã B. Vợ chồng mới xây nhà và chuyển đến sinh sống tại địa phương, chị H ở nhà buôn bán cùng mẹ ở cửa hàng sắt thép, còn anh L chạy xe, đi đi về về và vẫn sinh hoạt tại nhà riêng của vợ chồng. Do vợ chồng mới chuyển đến sinh sống nên chính quyền địa phương không biết tình cảm vợ chồng ra sao, hạnh phúc hay mâu thuẫn, chính quyền địa phương không nắm rõ.
Tại buổi hòa giải ngày 25/3/2024, chị Mai Thị H cương quyết xin ly hôn anh Nguyễn Mạnh L và xin được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Gia B1 đến tuổi thành niên và có khả năng lao động, yêu cầu anh L phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị mỗi tháng 3.000.000đ. Anh L1 không nhất trí ly hôn mà mong muốn vợ chồng đoàn tụ, cùng nhau nuôi dạy con cái nên người. Còn nếu ly hôn, anh xin được nuôi con và không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh. Về tài sản: chị H đã rút yêu cầu phân chia tài sản chung của vợ chồng, anh L1 không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 05/2024/HNGĐ-ST ngày 24/5/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa đã quyết định:
Căn cứ: khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 144; khoản 4 Điều 147; Điều 243; Điều 244; Điều 271, 273, 27, 280 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 6, điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Xử:
- Đình chỉ 01 phần yêu cầu khởi kiện của chị Mai Thị H về việc đề nghị phân chia tài sản chung của vợ chồng đối với quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại Lô đất số 0155, thuộc MBQH số 01/QH-XD ngày 24/02/2010 của UBND thị xã B duyệt MBQH khu dân cư B, phường P, thị xã B và 01 xe ô tô tải BKS 29C 95914.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Mai Thị H.
Về hôn nhân: cho chị Mai Thị H được ly hôn anh Nguyễn Mạnh L.
3
Về con chung: giao con chung của chị Mai Thị H và anh Nguyễn Mạnh L là cháu Nguyễn Gia B1, sinh ngày 19/11/2016 cho chị Mai Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến tuổi thành niên và có khả năng lao động, anh Nguyễn Mạnh L có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị H mỗi tháng 3.000.000đ, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm cho đến khi con thành niên và có khả năng lao động.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở.
Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người đó.
Vì quyền lợi của con cái, khi cần thiết, các bên đương sự được quyền làm đơn xin thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản và công nợ chung của vợ chồng: chị H không đề nghị Tòa án giải quyết. Nếu anh L có yêu cầu thì khởi kiện bằng vụ án dân sự khác.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên phần án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
* Sau khi án sơ thẩm xử, ngày 03/6/2024 anh Nguyễn Mạnh L có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm do có vi phạm tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và xâm phạm nghiêm trọng quyền và lợi ích hợp pháp của anh.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, bị đơn không rút đơn kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn đề nghị HĐXX chấp nhận toàn bộ yêu cầu kháng cáo của anh Nguyễn Mạnh L.
Ý kiến của đại diện VKSND tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa:
- Về tố tụng: quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến phiên tòa phúc thẩm, Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, Điều 71, Điều 72, Điều 234 Bộ luật tố tụng dân sự.
- - Về nội dung: Đề nghị HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của anh Nguyễn Mạnh L, giữ nguyên Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 05/2024/HNGĐ-ST ngày 24/5/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
Về án phí: anh Nguyễn Mạnh L phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định pháp luật.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, nghe lời trình bày của các đương sự và ý kiến của đại diện VKS tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
4
[1] Về hình thức: đơn kháng cáo của anh Nguyễn Mạnh L làm trong thời hạn luật định, đã nộp tạm ứng án phí theo quy định pháp luật, nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Xét nội dung kháng cáo của anh Nguyễn Mạnh L:
[2.1] Về thu thập tài liệu, chứng cứ của Tòa án nhân dân thị xã Bỉm Sơn:
Anh L1 kháng cáo cho rằng chị Mai Thị H đã tự ý viết đơn xin “Xác nhận thông tin về cư trú” và “Thông báo số định danh cá nhân” của anh khi không được sự đồng ý của anh nhưng Công an phường P, thị xã B đã cấp các văn bản trên cho chị H là vi phạm pháp luật, nguy cơ làm lộ thông tin, bí mật cá nhân của anh. Do đó “Xác nhận thông tin về cư trú” và “Thông báo số định danh cá nhân” của anh được thu thập bất hợp pháp (anh đang khiếu nại) nhưng Tòa án nhân dân thị xã Bỉm Sơn vẫn chấp nhận làm chứng cứ để giải quyết vụ án là vi phạm quy định pháp luật. Đến nay, ngày 02/8/2024 Công an thị xã B đã trả lời khiếu nại của anh, yêu cầu Công an phường P, thị xã B phải thu hồi “Thông báo số định danh cá nhân” và thông tin công dân trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư của anh.
Hội đồng xét xử xét thấy: khi khởi kiện, chị Mai Thị H giao nộp đơn khởi kiện cùng các tài liệu, chứng cứ kèm theo, trong đó có “Xác nhận thông tin về cư trú” và “Thông báo số định danh cá nhân” của anh Nguyễn Mạnh L do Công an phường P, thị xã B cung cấp. Sau khi xem xét đơn khởi kiện cùng các tài liệu, chứng cứ kèm theo, xét thấy đủ điều kiện để xem xét giải quyết nên TAND thị xã Bỉm Sơn đã tiến hành thông báo cho chị Mai Thị H nộp tiền tạm ứng án phí và thụ lý, giải quyết vụ án. Anh Nguyễn Mạnh L cho rằng văn bản “Xác nhận thông tin về cư trú” và “Thông báo số định danh cá nhân” của anh do Công an phường P, thị xã B cấp là không đúng quy định, đến nay đã bị Công an thị xã B giải quyết khiếu nại yêu cầu thu hồi. Tuy nhiên, HĐXX xét thấy mặc dù Công an phường P cung cấp văn bản “Xác nhận thông tin về cư trú” và “Thông báo số định danh cá nhân” của anh Nguyễn Mạnh L cho chị Mai Thị H có sai sót về trình tự thủ tục cấp văn bản, nhưng không làm ảnh hưởng đến việc thụ lý của TAND thị xã Bỉm Sơn. Khi chị H nộp đơn khởi kiện kèm các văn bản trên thì Tòa án không biết và không buộc phải biết về trình tự cấp văn bản thủ tục của Công an phường P đối với chị Mai Thị H. Vì vậy, đây không phải là lỗi của Tòa án, nên TAND thị xã Bỉm Sơn thụ lý, giải quyết vụ án là đúng quy định pháp luật. Mặt khác, việc “Xác nhận thông tin về cư trú” và “Thông báo số định danh cá nhân” của anh Nguyễn Mạnh L là để xác định con người và nơi cư trú của anh để xác định thẩm quyền và căn cứ giải quyết vụ án. Tại phiên tòa phúc thẩm, anh L thừa nhận mình là người có số định danh 038090005289 theo căn cước công dân do Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 21/6/2024 mà anh xuất trình tại phiên tòa; khẳng định hiện đang đăng ký tạm trú và sinh sống tại Lô A L, khu phố D, phường P, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa; là người có tên trong Giấy đăng ký kết hôn với chị Mai Thị H do UBND phường B, thành phố Hà Nội cấp ngày 04/5/2015; là bố đẻ của cháu Nguyễn Gia B1; là người chị H đang đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn; là người trực tiếp đến TAND thị xã Bỉm Sơn làm việc trong quá trình giải quyết vụ án và là người trực tiếp tham gia phiên tòa phúc thẩm. Vì vậy, việc Công an phường P,
5
thị xã B cấp văn bản “Xác nhận thông tin về cư trú” và “Thông báo số định danh cá nhân” của anh Nguyễn Mạnh L không đúng trình tự thủ tục và bị yêu cầu thu hồi cũng không làm ảnh hưởng đến bản chất của việc giải quyết vụ án. Tại phiên tòa, anh Nguyễn Mạnh L cũng thừa nhận việc cung cấp các văn bản trên của Công an phường P, thị xã B đến nay chưa gây thiệt hại gì đối với anh. Nếu có thiệt hại do việc làm lộ thông tin, bí mật của mình thì anh có quyền khiếu nại đến cơ quan cấp văn bản để đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật.
- Anh L1 kháng cáo cho rằng: ngày 14/12/2023, chị Mai Thị H nộp đơn khởi kiện tại TAND thị xã Bỉm Sơn. Khi chưa được Chánh án phân công xem xét đơn khởi kiện thì cùng ngày 14/12/2023 thẩm phán Tống Thị H1 đã “vượt quyền” ban hành Thông báo số 201 để chị H nộp tạm ứng án phí. Thẩm phán Tống Thị H1 đã cho chị H nộp tiền tạm ứng án phí khi chưa được Chánh án phân công xem xét đơn khởi kiện và cùng ngày tự ý ban hành Thông báo thụ lý vụ án, rồi đến ngày 27/02/2024 mới giao cho anh là chậm so với ngày ký 02 tháng 12 ngày. Đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng theo quy định tại Điều 16, Điều 191, 197 Bộ luật tố tụng dân sự.
HĐXX xét thấy, theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện: ngày 14/12/2023 chị Mai Thị H nộp đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo tại TAND thị xã Bỉm Sơn. Sau khi nhận đơn khởi kiện trực tiếp của chị Mai Thị H, TAND thị xã Bỉm Sơn đã lập biên bản giao nhận và cấp giấy xác nhận đã nhận đơn khởi kiện cho chị Mai Thị H (BL 13-14).
Tại khoản 2 Điều 191 Bộ luật tố tụng dân sự quy định: trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện, Chánh án tòa án phân công thẩm phán xem xét đơn khởi kiện. Theo hồ sơ thể hiện, sau khi nhận được đơn khởi kiện của chị Mai Thị H, ngày 14/12/2023 Chánh án TAND thị xã Bỉm Sơn đã ra “Quyết định phân công những người tiến hành tố tụng, giải quyết, xét xử vụ án Hôn nhân gia đình” số 133/2023/QĐ-TA, phân công thẩm phán Tống Thị H1 và thư ký Lê Thị Ngọc L2 giải quyết vụ án (BL 15).
Khoản 3 Điều 191 Bộ luật tố tụng dân sự quy định: trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày được phân công, thẩm phán phải xem xét đơn khởi kiện và có 01 trong các quyết định sau:
- Yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện.
- Tiến hành thủ tục thụ lý vụ án theo thủ tục thông thường hoặc theo thủ tục rút gọn nếu vụ án đủ điều kiện để giải quyết theo thủ tục rút gọn quy định tại khoản 1 Điều 317 Bộ luật này.
- Chuyển đơn khởi kiện cho Tòa án có thẩm quyền và thông báo cho người khởi kiện vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án khác.
- Trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện nếu vụ việc đó không thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án.
Vì vậy, sau khi xem xét đơn khởi kiện, cùng ngày 14/12/2023 thẩm phán được phân công đã tiến hành ra “Thông báo nộp tiền tạm ứng án phí” (BL 16) gửi
6
chị Mai Thị H. Ngày 15/12/2023 chị Mai Thị H nộp tiền tạm ứng án phí tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Bỉm Sơn, sau đó nộp biên lai nộp tiền tạm ứng án phí cho TAND thị xã Bỉm Sơn. Cùng ngày 15/12/2023, sau khi nhận biên lại nộp tiền tạm ứng án phí do chị H giao nộp (BL18-19), TAND thị xã Bỉm Sơn đã thụ lý vụ án theo thủ tục thông thường là không vi phạm thời hạn tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về việc giao thông báo thụ lý vụ án: căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện sau khi ra “Thông báo về việc thụ lý vụ án” số 133/TB-TLVA ngày 15/12/2023 (BL 20), TAND thị xã Bỉm Sơn đã tiến hành giao thông báo thụ lý đến các bên đương sự. Tuy nhiên, TAND thị xã Bỉm Sơn đến nhà nhiều lần nhưng không gặp được anh L1, do tính chất công việc anh L1 làm nghề lái xe, đi đi về về, không có thời gian cố định ở nhà nên TAND thị xã Bỉm Sơn không trực tiếp giao thông báo thụ lý vụ án cho anh L1 được. Sau khi xác minh tại chính quyền địa phương, tại thời điểm tống đạt văn bản anh L1 không có mặt tại địa phương, vì vậy TAND thị xã Bỉm Sơn đã thực hiện thủ tục tống đạt bằng hình thức niêm yết công khai tại UBND phường P và đường L, khu phố D, phường P, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa là nơi anh Nguyễn Mạnh L đang cư trú. Sau đó, đến ngày 27/02/2024 TAND thị xã Bỉm Sơn đã giao được thông báo thụ lý trực tiếp cho anh Nguyễn Mạnh L.
[2.2] Về tống đạt các văn bản tố tụng:
Anh L1 kháng cáo cho rằng ngoài “Thông báo về việc thu lý vụ án” số 133/TB-TLVA ngày 15/12/2023 thì tất cả các văn bản tố tụng khác TAND thị xã Bỉm Sơn không giao trực tiếp cho anh, hay người thân thích, hoặc tổ trưởng, tổ phó dân phố để giao lại cho anh, hay đặc biệt là anh và chị H vẫn ở chung một nhà, mà lại tiến hành niêm yết công khai là vi phạm nghiêm trọng quy định tại Điều 175, Điều 177, Điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự.
HĐXX xét thấy, như đã phân tích trên, do tính chất công việc của anh L1 thường hay đi đi về về, không có thời gian cố định ở nhà nên TAND thị xã Bỉm Sơn đã trực tiếp đến nhiều lần nhưng không giao được văn bản cho anh L1. Sau khi xác minh tại chính quyền địa phương, tại thời điểm tống đạt văn bản anh L1 không có mặt tại địa phương, vì vậy TAND thị xã Bỉm Sơn đã thực hiện thủ tục tống đạt bằng hình thức niêm yết công khai tại UBND phường P và đường L, khu phố D, phường P, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa là nơi anh Nguyễn Mạnh L đang cư trú là đảm bảo quy định pháp luật. Anh L1 nại anh và chị H ở cùng một nhà nhưng Tòa án không giao cho chị H nhận văn bản để giao lại cho anh. Xét thấy, giữa anh và chị H hiện đang có mâu thuẫn, chị H đang làm đơn khởi kiện xin ly hôn anh, mặt khác theo trình bày của chị H thời điểm Tòa án giải quyết vụ án anh chị sống ly thân, chị về nhà ở với bố mẹ, không ở cùng anh L1 tại Lô A L, khu phố D, phường P, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa. Quá trình giải quyết vụ án ở cấp sơ thẩm, anh L1 đã đến tham gia làm việc, hòa giải, trình bày ý kiến của mình, kháng cáo nội dung của bản án sơ thẩm và có mặt tham gia phiên tòa phúc thẩm là đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của anh L1 theo quy định của pháp luật.
[2.3] Về các nội dung khác:
7
- Anh L1 kháng cáo cho rằng khi khởi kiện chị Mai Thị H yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, nuôi con chung và phân chia tài sản chung vợ chồng, nhưng TAND thị xã Bỉm Sơn không yêu cầu chị H cung cấp tài liệu, chứng cứ về tài sản, không xem xét thẩm định, định giá tài sản theo quy định mà sau đó tư vấn cho chị H rút yêu cầu phân chia tài sản.
HĐXX xét thấy, khi khởi kiện chị H yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, nuôi con chung và phân chia tài sản chung vợ chồng, đồng thời nộp “Hợp đồng hợp tác đầu tư” số 155-LĐC/ĐB-BĐS ngày 04/6/2020 về việc thực hiện dự án MBQH số 01/QH-XD của UBND thị xã B ngày 24/02/2010 thể hiện vợ chồng góp vốn hợp tác đầu tư với Công ty TNHH T để xây dựng dự án đầu tư tại Lô đất số 0155 thuộc MBQH số 01/QH-XD ngày 24/02/2010 của UBND thị xã B duyệt MBQH khu dân cư B, phường P, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa.
Quá trình giải quyết vụ án, ngày 27/02/2024 chị Mai Thị H đã rút 01 phần yêu cầu khởi kiện, không yêu cầu Tòa án phân chia tài sản chung của vợ chồng nữa, nên TAND thị xã Bỉm Sơn không tiến hành các thủ tục thẩm định và định giá tài sản là đúng quy định pháp luật.
Chị Mai Thị H rút 01 phần yêu cầu khởi kiện là hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc, phù hợp với quy định tại Điều 243, 244 Bộ luật tố tụng dân sự, nên TAND thị xã Bỉm Sơn đình chỉ 01 phần yêu cầu khởi kiện của chị H là có có căn cứ. Anh L1 cho rằng chị H rút yêu cầu phân chia tài sản chung của vợ chồng là do có sự “tư vấn” của Tòa án, nhưng không có căn cứ chứng minh. Quá trình giải quyết vụ án ở cấp sơ thẩm, trước khi TAND thị xã Bỉm Sơn ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử anh Nguyễn Mạnh L không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản. Nếu anh L có yêu cầu thì có quyền khởi kiện đối với chị H bằng vụ án dân sự khác.
- Anh L1 còn cho rằng: anh và chị H có 01 con chung là cháu Nguyễn Gia B1, sinh ngày 19/11/2016, nhưng khi hỏi nguyện vọng của con muốn ở với bố hay mẹ khi bố mẹ ly hôn, TAND thị xã Bỉm Sơn chỉ xác định mình chị H là người duy nhất giám hộ cho con là không đúng quy định pháp luật vì anh cũng là bố đẻ cháu B1 lại không được xác định là người giám hộ.
HĐXX xét thấy, tại “Biên bản về việc lấy ý kiến của con chưa thành niên đủ 07 tuổi trở lên khi bố mẹ ly hôn” do TAND thị xã Bỉm Sơn thực hiện (BL 36), nội dung biên bản là ghi ý kiến của cháu Nguyễn Gia B1 (con chung của anh L1 và chị H). Do cháu Nguyễn Gia B1 chưa đủ tuổi thành niên nên chị H ký vào biên bản với tư cách là người giám hộ cho cháu B1, để xác định ý kiến được ghi trong biên bản của TAND thị xã Bỉm Sơn là của cháu Nguyễn Gia B1, không phải là biên bản hoặc văn bản xác định ai là người giám hộ cho cháu Nguyễn Gia B1 theo quy định pháp luật. Mặt khác, việc lấy ý kiến của cháu Nguyễn Gia B1 là để Tòa án xem xét nguyện vọng của cháu theo quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, không phải là căn cứ duy nhất để Tòa án quyết định việc giao cháu Nguyễn Gia B1 cho anh L1 hay chị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung. Vì vậy, không làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của anh L1.
8
Anh L1 trình bày: trong thời gian anh đang khiếu nại Công an phường P, thị xã B về việc cấp văn bản “Xác nhận thông tin về cư trú” và “Thông báo số định danh cá nhân” của anh bất hợp pháp, anh đã đề nghị nhưng TAND thị xã Bỉm Sơn không tạm đình chỉ vụ án để chờ kết quả giải quyết khiếu nại của Công an thị xã B, mà vẫn tiếp tục giải quyết vụ án là sai quy định pháp luật, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của anh.
HĐXX xét thấy: như đã phân tích trên, việc Công an phường P cung cấp văn bản “Xác nhận thông tin về cư trú” và “Thông báo số định danh cá nhân” của anh Nguyễn Mạnh L cho chị Mai Thị H có sai sót về trình tự thủ tục cấp văn bản nhưng không phải là lỗi của cơ quan Tòa án và đến nay chưa gây thiệt hại gì đối với anh Nguyễn Mạnh L, nên không thuộc trường hợp tạm đình chỉ giải quyết vụ án theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 214 Bộ luật tố tụng dân sự, TAND thị xã Bỉm Sơn vẫn tiếp tục giải quyết vụ án mà không phải chờ kết quả giải quyết khiếu nại của Công an thị xã B (do anh L khiếu nại) là đúng quy định pháp luật. Mặt khác, nếu có thiệt hại từ việc cung cấp văn bản “Xác nhận thông tin về cư trú” và “Thông báo số định danh cá nhân” của Công an phường P, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của mình thì anh có quyền khiếu nại đến cơ quan cấp văn bản để đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật.
- Về yêu cầu thay đổi thẩm phán giải quyết vụ án: anh L trình bày, sau khi có đơn đề nghị của anh, Chánh án TAND thị xã Bỉm Sơn đã ban hành văn bản trả lời không chấp nhận yêu cầu thay đổi thẩm phán của anh. Theo quy định tại Điều 504 Bộ luật tố tụng dân sự, anh có quyền khiếu nại đến Chánh án TAND tỉnh Thanh Hóa đề nghị giải quyết. Anh đã khiếu nại đến Chánh án TAND tỉnh Thanh Hóa, đã được nhận đơn và đang chờ kết quả giải quyết, anh đề nghị nhưng TAND thị xã Bỉm Sơn không tạm đình chỉ giải quyết vụ án để đợi kết quả giải quyết của Chánh án TAND tỉnh Thanh Hóa mà vẫn tiếp tục giải quyết vụ án là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của anh.
HĐXX xét thấy, theo quy định tại Điều 56 Bộ luật tố tụng dân sự không quy định Quyết định của Chánh án về việc không thay đổi thẩm phán giải quyết vụ án bị khiếu nại và không thuộc trường hợp tạm đình chỉ giải quyết vụ án theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 214 Bộ luật tố tụng dân sự, vì vậy TAND thị xã Bỉm Sơn không tạm đình chỉ mà vẫn tiếp tục giải quyết vụ án là đúng quy định pháp luật.
- Về nội dung Thẩm phán chủ tọa phiên tòa sơ thẩm không sử dụng đúng trang phục xét xử theo quy định của TAND Tối cao về sử dụng trang phục xét xử. Tuy nhiên, vi phạm này của Thẩm phán không phải là vi phạm tố tụng trong giải quyết vụ án mà xem xét xử lý theo quy định đối với người giữ chức danh tư pháp.
Từ các phân tích trên, xét thấy kháng cáo của anh Nguyễn Mạnh L yêu cầu hủy bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 05/2024/HNGĐ-ST ngày 24/5/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa là không có cơ sở chấp nhận.
9
[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Vì kháng cáo không được chấp nhận nên anh L phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 308; khoản 1 Điều 148 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Không chấp nhận kháng cáo của anh Nguyễn Mạnh L.
- Giữ nguyên bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 05/2024/HNGĐ-ST ngày 24/5/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
Căn cứ: khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 144; khoản 4 Điều 147; Điều 243; Điều 244; Điều 271, 273, 278, 280 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 6, điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27, khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Xử:
- - Đình chỉ 01 phần yêu cầu khởi kiện của chị Mai Thị H về yêu cầu phân chia tài sản chung của vợ chồng đối với quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại Lô đất số 0155 thuộc MBQH số 01/QH-XD ngày 24/02/2010 của UBND thị xã B duyệt MBQH khu dân cư B, phường P, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa và 01 xe ô tô tải BKS 29C-95914.
- - Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Mai Thị H.
Về hôn nhân: cho chị Mai Thị H được ly hôn anh Nguyễn Mạnh L.
Về con chung: giao con chung của chị Mai Thị H và anh Nguyễn Mạnh L là cháu Nguyễn Gia B1 (giới tính: nam), sinh ngày 19/11/2016 cho chị Mai Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến tuổi thành niên và có khả năng lao động. Anh L1 có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị H mỗi tháng 3.000.000đ kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 24/5/2024) cho đến khi con thành niên và có khả năng lao động.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người đó.
Vì quyền lợi của con, khi cần thiết, các bên đương sự được quyền làm đơn xin thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản và công nợ chung của vợ chồng: chị Mai Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh L1 có yêu cầu thì khởi kiện bằng vụ án dân sự khác.
10
Về án phí dân sự phúc thẩm: anh Nguyễn Mạnh L phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ theo biên lai thu tiền số 0004562 ngày 11/6/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Anh L1 đã nộp đủ tiền án phí dân sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thu Hà |
11
Bản án số 26/2024/HNGĐ-PT ngày 27/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 26/2024/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 27/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Mai Thị Hằng khởi kiện yêu cầu ly hôn anh Nguyễn Mạnh Linh, yêu cầu giải quyết nuôi con chung.
