|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HỒNG TỈNH ĐỒNG THÁP Bản án số: 26/2024/HNGĐ-ST Ngày: 27-8-2024 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HỒNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Dưỡng.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lâm Trần Ngoan;
Bà Bùi Nguyễn Tuyết Minh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Hồng Tân – Thư ký Tòa án nhân dân
huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp.
Trong các ngày 09, 27 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 107/2024/TLST-HNGĐ ngày 31 tháng 5 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 19/2024/QĐST-HNGĐ ngày 09 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Trần Thị L, sinh năm 1991.
Địa chỉ: Ấp T, xã T, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.
- Bị đơn: Lê Văn T E, sinh năm 1985.
Địa chỉ: Ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
(Chị L có đơn xin vắng mặt, anh Thuận E vắng mặt lần thứ hai không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo lời trình bày của nguyên đơn Trần Thị L: Năm 2020, chị L và anh Thuận E yêu thương nhau và tự nguyện sống chung với nhau, đến ngày 12-10-2021 chị L và anh Thuận E mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Trong quan hệ hôn nhân chị L và anh Thuận E có với nhau 01 con chung tên Lê Thị Kim N, sinh ngày 23-3-2021, hiện đang sống chung với chị L. Chị L và anh Thuận E chung sống hạnh phúc chỉ được vài tháng thì nảy sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm nhiều vấn đề trong cuộc sống, thường xuyên cải nhau mà không thể hòa thuận được nên sau khi chị L sinh con được khoảng 01 tháng (vào tháng 4-2021) thì chị L và anh Thuận E đã ly thân cho đến nay, trong thời gian ly thân thì chị L và anh Thuận E cũng không hàn gắn lại được tình cảm. Nhận thấy có hàn gắn sống chung lại với anh Thuận E cũng không hạnh phúc nên chị L khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị L yêu cầu được ly hôn với anh Thuận E vì tình cảm vợ chồng không còn.
- Về con chung: Chị L yêu cầu được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên Lê Thị Kim N, sinh ngày 23-3-2021. Chị L không yêu cầu anh Thuận E cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn Lê Văn T E: Đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do, cũng không có gửi văn bản ý kiến cho Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án ly hôn, tranh chấp về nuôi con thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nguyên đơn Trần Thị L có đơn xin vắng mặt, bị đơn Lê Văn T E đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do nên vẫn tiến hành xét xử là phù hợp với quy định tại các điều 227, 228, 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về hôn nhân: Chị L và anh Thuận E sống chung có đăng ký kết hôn vào ngày 12-10-2021 theo Giấy chứng nhận kết hôn số: 51 của Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp nên hôn nhân của chị L và anh Thuận E là hợp pháp.
Trong thời gian sống chung chỉ được vài tháng thì nảy sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm nhiều vấn đề trong cuộc sống, thường xuyên cải nhau mà không thể hòa thuận được nên chị L đã ly thân với anh Thuận E (từ tháng 4-2021 đến nay), trong thời gian ly thân thì chị L và anh Thuận E cũng không hàn gắn lại được tình cảm nên chị L khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Thuận E. Tòa án đã 02 lần thông báo hòa giải đoàn tụ nhưng anh Thuận E không đến Tòa án để hòa giải, điều này thể hiện ý chí của anh Thuận E không muốn Tòa án hòa giải cho vợ chồng chị L và anh Thuận E đoàn tụ về sống chung lại, trong khi chị L thì cương quyết ly hôn với anh Thuận E. Xét thấy quan hệ hôn nhân của vợ chồng chị L và anh Thuận E đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, yêu cầu ly hôn của chị L là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị L.
[2.2] Về con chung: Chị L và anh Thuận E có 01 con chung tên Lê Thị Kim N, sinh ngày 23-3-2021, hiện đang sống chung với chị L. Nay ly hôn chị L yêu cầu được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, trong khi anh Thuận E không có ý kiến gì nên chấp nhận yêu cầu của chị L, giao con chung tên Lê Thị Kim N, sinh ngày 23-3-2021 cho chị L tiếp tục được trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Thuận E có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Chị L cùng các thành viên gia đình không được cản trở anh Thuận E trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Anh Thuận E lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị L có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của anh Thuận E theo quy định tại các điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị L không yêu cầu, anh Thuận E không có ý kiến nên không xem xét, giải quyết.
[2.4] Về tài sản chung và nợ chung: Chị L không yêu cầu, anh Thuận E không có ý kiến nên không xem xét, giải quyết.
[3] Về nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với vụ án hôn nhân và gia đình: Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án quy định: “Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.”, vậy chị Trần Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số: 0010070 ngày 31-5-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp, chị Trần Thị L đã nộp đủ án phí. Anh Lê Văn T E không phải chịu án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các điều 5, 28, 35, 39, 91, 92, 144, 147, 227, 228, 238, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các điều 9, 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Căn cứ vào Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Trần Thị L.
1. Về hôn nhân: Chị Trần Thị L được ly hôn với anh Lê Văn T E.
2. Về con chung: Giao con chung tên Lê Thị Kim N, sinh ngày 23-3-2021 cho chị Trần Thị L được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Anh Lê Văn T E có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Chị Trần Thị L cùng các thành viên gia đình không được cản trở anh Lê Văn T E trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Anh Lê Văn T E lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị Trần Thị L có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của anh Lê Văn T E.
3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Trần Thị L không yêu cầu, anh Lê Văn T E không có ý kiến nên không xem xét, giải quyết.
4. Về tài sản chung và nợ chung: Chị Trần Thị L không yêu cầu, anh Lê Văn T E không có ý kiến nên không xem xét, giải quyết.
5. Về nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với vụ án hôn nhân và gia đình:
Chị Trần Thị L có nghĩa vụ chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số: 0010070 ngày 31-5-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp, chị Trần Thị L đã nộp đủ án phí. Anh Lê Văn T E không phải chịu án phí.
6. Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
7. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại của Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thị Dưỡng |
Bản án số 26/2024/HNGĐ-ST ngày 27/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HỒNG, TỈNH ĐỒNG THÁP về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 26/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HỒNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Trần Thị L. Chị Trần Thị L được ly hôn với anh L Văn T E.
