|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÙ LAO DUNG TỈNH SÓC TRĂNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 26/2024/HS-ST
Ngày: 27-8-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÙ LAO DUNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán -Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Thanh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thành Tâm.
Ông Nguyễn Văn Giáp.
Thư ký phiên tòa: Bà Triệu Hoàng Ngọc, Thư ký Toà án nhân dân huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cù Lao Dung tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Trung – Kiểm sát viên.
Trong ngày 27 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cù Lao Dung xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 21/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2024/QĐXXST-HS, ngày 14/8/2024 đối với bị cáo:
Trần Kiên N; sinh ngày 31/7/1997, tại C - Sóc Trăng; Nơi cư trú: ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Làm Thuê; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn C (s) và bà Nguyễn Thị D (s); Anh chị em ruột có: 02 người, lớn nhất là bị cáo, nhỏ nhất sinh năm 2001; Tiền án; tiền sự: không. Nhân Thân: Ngày 14/01/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Cù Lao Dung áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở Cai nghiện ma tuý tỉnh Sóc Trăng; thời hạn 12 tháng (Quyết định số 06/2019/QĐ-TA), bị cáo chấp hành xong ngày 16/9/2019. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 23/4/2024 đến ngày 26/4/2024 chuyển sang tạm giam cho đến nay. (Bị cáo có mặt).
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án :
Ông Trần Văn C, sinh năm 1975; (có mặt).
Cư trú tại: ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng.
Người làm chứng :
- Em Trần Ngọc H, sinh năm 2007 (vắng mặt);
- Người đại diện hợp pháp của Trần Ngọc H: Bà Cô T, sinh năm 1974, là mẹ ruột của Ngọc H1 (vắng mặt).
Cùng cư trú tại: Áp A, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 16 giờ 15 phút ngày 23/4/2024, lực lượng Công an huyện C phối hợp với Công an xã A tiến hành kiểm tra đã bắt quả tang Trần Kiên N có hành vi tang trữ trái phép chất ma tuý trong phòng ngủ tại nhà của N ở ấp A, xã A, huyện C. Vật chứng thu được tại hiện trường gồm có: 01 tờ giấy bạc kích thước 27x7,5cm gói 02 túi nylon bên trong chứa tinh thể rắn màu trắng được hàn kín (nghi là ma túy); 01 cây kéo bằng kim loại màu trắng kích thước 8,5 x 2,9 cm;01 bật lữa tự chế màu trắng kích thước 6,0 x 2,5 cm, được nối với đoạn kim loại màu trắng; 01 chai tự chế, phần thân làm bằng thuỷ tinh dài 6cm, đường kính 4,3cm, phần cổ chai làm bằng nhựa dài 4cm, có phần nắp màu xanh, trên nắp có gắn một ống nhựa màu trắng dài 15,5cm, đường kính 0,6cm nên tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong vật chứng.
Tại kết luận giám định số 70/KLMT-KTHS, ngày 01/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh S kết luận như sau:
Gói 01: Mẫu tinh thể rắn màu trắng được niêm phong (thu giữ trong phòng ngủ của Trần Kiên N tại hiện trường lúc bắt quả tang) gửi giám định là ma túy, tổng khối lượng 0,1401 gam, loại Methamphetamine.
Gói 02: Mẫu tinh thể rắn màu nâu được niêm phong (thu giữ trong phòng ngủ của Trần Kiên N tại hiện trường lúc bắt quả tang) gửi giám định là ma túy, tổng khối lượng 0,0261 gam, loại Methamphetamine.
Như vậy vào ngày 23/4/2024, Trần Kiên N tàng trữ ma tuý có tổng khối lượng là 0,1662 gam, loại Methamphetamine.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C tiến hành khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can đối với Trần Kiên N để tiến hành điều tra làm rõ vụ án.
Trong quá trình điều tra, Trần Kiên N tự khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội do mình gây ra, cụ thể là vào khoảng 20 giờ ngày 22/4/2024 Trần Kiên N có gọi điện thoại cho D1 (không rõ lai lịch) đặt mua ma tuý đá với số tiền là 300.000 đồng. Sau đó, D1 chạy xe mô tô đến nhà giao cho N 01 cục giấy bạc của thuốc lá bên trong có chứa 03 túi ni long ma tuý; N lấy 01 túi sử dụng tại phòng ngủ và cất giấu 02 túi còn lại và bị phát hiện bắt giữ.
Tại Cáo trạng số 19/CT-VKS-CLD ngày 31 tháng 7 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Cù Lao Dung truy tố bị cáo Trần Kiên N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây gọi tắt là Bộ luật hình sự năm 2015).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng trong phần tranh luận vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Trần Kiên N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự 2015 đối với bị cáo, đề nghị xử phạt bị cáo N từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy đối với vật chứng không còn giá trị sử dụng gồm: 02 gói niêm phong (ký hiệu Gói 01 và Gói 02) có chử ký, họ tên của những người tham gia đóng gói; bên trong có chứa tinh thể còn lại sau giám định. 01 tờ giấy bạc kích thước 27x7,5cm; 01 cây kéo bằng kim loại màu trắng kích thước 8,5 x 2,9 cm;01 bật lữa tự chế màu trắng kích thước 6,0 x 2,5 cm, được nối với đoạn kim loại màu trắng; 01 chai tự chế, phần thân làm bằng thuỷ tinh dài 6cm, đường kính 4,3cm, phần cổ chai làm bằng nhựa dài 4cm, có phần nắp màu xanh, trên nắp có gắn một ống nhựa màu trắng dài 15,5cm, đường kính 0,6cm.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, thừa nhận Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng tội. Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn C trình bày: Ông là cha ruột của bị cáo Trần Kiên N và là chủ sở hữu hợp pháp căn nhà mà bị cáo đang ở. Tuy nhiên, việc bị cáo mua ma túy về cất giấu trong phòng ngủ để sử dụng thì ông hoàn toàn không hay biết. Đến khi bị Công an bắt quả tang thì ông mới biết sự việc nên không có ý kiến gì khác.
Trong quá trình điều tra, người làm chứng em Trần Ngọc H trình bày: Tôi là em họ của bị cáo N nên N có mượn điện thoại của tôi để chơi game vào chiều ngày 22/4/2024; tuy nhiên, việc bị cáo có dùng điện thoại của tôi để liên lạc mua ma túy hay không thì tôi không biết nên không có ý kiến gì khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát Điều tra, Viện Kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa người làm chứng Trần Ngọc H vắng mặt, nhưng đã có lời khai đầy đủ và rõ ràng trong quá trình điều tra. Đồng thời, tại phiên tòa vị Kiểm sát viên, bị cáo cũng đề nghị xét xử vắng mặt. Xét thấy, sự vắng mặt của Trần Ngọc H không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án. Do đó, căn cứ vào Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định của pháp luật.
[3] Tại phiên tòa, bị cáo Trần Kiên N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Xét thấy, lời nhận tội của bị cáo N là phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 23/4/2024 và vật chứng thu giữ; biên bản khám nghiệm hiện trường; Kết luận giám định số: 70/KLMT-KTHS, ngày 01/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh S và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Cụ thể số ma túy thu giữ của bị cáo có khối lượng 0,1662 gam, loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng. Do đó, Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Trần Kiên N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
[4] Bản thân bị cáo đã nhận thức được rằng ma tuý là chất độc hại, nó làm cho con người lười biếng lao động và làm ảnh hưởng đến sự phát triển giống nòi, dân tộc. Đồng thời, bị cáo biết rõ việc tàng trữ trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện hành vi mua ma túy về cất giấu với mục đích để thỏa mãn nhu cầu cá nhân. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến tình hình trật tự xã hội tại địa phương, làm cho quần chúng nhân dân hoang mang lo sợ không an tâm lao động sản xuất. Nên cần phải có một mức án tương xứng để làm gương cho người khác.
[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng nhưng có nhân thân xấu: Ngày 14/01/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Cù Lao Dung áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở Cai nghiện ma tuý tỉnh Sóc Trăng; thời hạn 12 tháng (Quyết định số 06/2019/QĐ-TA), bị cáo chấp hành xong ngày 16/9/2019.
[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo; bị cáo có trình độ học vấn thấp (6/12) nên nhận thức pháp luật còn hạn chế. Đây là những tình tiết được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo.
[7] Đối với ông Trần Văn C là chủ sở hữu căn nhà (có phòng ngủ của N) nhưng không biết việc bị cáo N đem ma túy về cất giấu trong phòng ngủ. Đồng thời, cơ quan điều tra cũng không có căn cứ để chứng minh có vai trò đồng phạm nên không xử lý ông C là đúng qui định của pháp luật.
[8] Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy đối với vật chứng không còn giá trị sử dụng gồm: 02 gói niêm phong (ký hiệu Gói 01 và Gói 02) có chử ký, họ tên của những người tham gia đóng gói; bên trong có chứa tinh thể còn lại sau giám định. 01 tờ giấy bạc kích thước 27x7,5cm; 01 cây kéo bằng kim loại màu trắng kích thước 8,5 x 2,9 cm;01 bật lữa tự chế màu trắng kích thước 6,0 x 2,5 cm, được nối với đoạn kim loại màu trắng; 01 chai tự chế, phần thân làm bằng thuỷ tinh dài 6cm, đường kính 4,3cm, phần cổ chai làm bằng nhựa dài 4cm, có phần nắp màu xanh, trên nắp có gắn một ống nhựa màu trắng dài 15,5cm, đường kính 0,6cm.
Theo biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 01/8/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cù Lao Dung.
[9] Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23, 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về việc quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[10] Xét lời đề nghị của Kiểm sát viên về tội danh và khung hình phạt là có căn cứ, phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[11] Riêng đối với người bán ma túy cho bị cáo tên D1 (chưa rõ lai lịch cụ thể), Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C chưa xác định được nên chưa có căn cứ để xử lý. Đề nghị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ khi có căn cứ xử lý theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố:
Bị cáo Trần Kiên N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 50; khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Tuyên xử:
- Xử phạt bị cáo Trần Kiên N 01 (Một) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày tạm giữ 23 tháng 4 năm 2024.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm a, c khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
Tịch thu tiêu hủy đối với vật chứng không còn giá trị sử dụng gồm: 02 gói niêm phong (ký hiệu Gói 01 và Gói 02) có chử ký, họ tên của những người tham gia đóng gói; bên trong có chứa tinh thể còn lại sau giám định. 01 tờ giấy bạc kích thước 27x7,5cm; 01 cây kéo bằng kim loại màu trắng kích thước 8,5 x 2,9 cm;01 bật lửa tự chế màu trắng kích thước 6,0 x 2,5 cm, được nối với đoạn kim loại màu trắng; 01 chai tự chế, phần thân làm bằng thuỷ tinh dài 6cm, đường kính 4,3cm, phần cổ chai làm bằng nhựa dài 4cm, có phần nắp màu xanh, trên nắp có gắn một ống nhựa màu trắng dài 15,5cm, đường kính 0,6cm.
Theo biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 01/8/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cù Lao Dung.
- Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về việc quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Trần Kiên N phải chịu là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, để yêu cầu Toà án tỉnh Sóc Trăng xem xét theo trình tự phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Ngọc Thanh |
Bản án số 26/2024/HS-ST ngày 27/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÙ LAO DUNG TỈNH SÓC TRĂNG về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 26/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÙ LAO DUNG TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tàng trữ trái phép chất ma túy
