|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƯ THANH TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 26/2023/HSST Ngày 16/11/2023 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƯ THANH, TỈNH THANH HÓA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Tiến Dũng;
Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Văn Len; Ông Vũ Ngọc Tài.
Thư ký phiên tòa: ông Lê Đình Chiến - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Thanh tham gia phiên tòa: bà Mai Cẩm Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở tòa án nhân dân huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa, xét xử công khai vụ án hình sự thụ lý số 26/2023/HSST ngày 24 tháng 10 năm 2023; Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2023/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Như Thanh, đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Thị T; Tên gọi khác: không; Sinh năm - 1971 tại xã H, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: thôn X, xã X, huyện N, T. T Nghề nghiệp: Giáo viên, T1 độ văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thổ; Tôn giáo: không; Họ tên bố: Lê Văn N - Sinh năm: 1926; Họ tên mẹ: Lê Thị N1 (Đã chết); Gia đình bị cáo có 05 anh chị em, bị cáo là con thứ 5 trong gia đình. Chồng là Cao Viết C - Sinh năm 1972; Bị cáo có 02 người con, lớn SN 2000: nhỏ SN 2009. Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị Cơ quan CSĐT Công an huyện N tạm giữ, tam giam từ ngày 22/9/2023 đến ngày 27/10/2023 thì được bảo lĩnh theo quyết định số 03/QĐ-TAHNT của Tòa án nhân dân huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa; Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Cao Văn T2 - Sinh năm 1991; Trú tại: thôn Đ, xã X, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Vắng mặt.
- Chị Lô Thị T3 - Sinh năm 1993; Trú tại: thôn P, xã X, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Vắng mặt.
- Chị Phạm Thị G - Sinh năm 1991; Trú tại: thôn X, xã X, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Vắng mặt.
- Người làm chứng:
- Anh Quách Văn T4 - Sinh năm 1966; Trú tại: thôn P, xã P, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Vắng mặt.
- Ông Cao Viết C - Sinh năm 1971; Trú tại: thôn X, xã X, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 21/9/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện N, tiếp nhận tố giác tội phạm của anh Cao Văn T2 - Sinh năm 1991, trú tại thôn P, xã X, huyện N, tỉnh Thanh Hóa với nội dung: ngày 08/12/2022 anh Cao Văn T2 vay số tiền 30.000.000 đồng của bà Lê Thị T - Sinh năm 1971, trú tại thôn X, xã X, huyện N, tỉnh Thanh Hóa với lãi suất là 4.000/01 triệu/ 01 ngày. Từ tháng 03/2023 đến tháng 09/2023 anh T2 trả số tiền lãi là 30.600.000 đồng; bà T có dấu hiệu của hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự. Ngay sau khi tiếp nhận nguồn tin về tội phạm, trong ngày 21/9/2023 CQ CSĐT CA huyện N đã ra Lệnh khám xét khẩn cấp người và chỗ ở của Lê Thị T tại nhà riêng ở thôn X, xã X, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Thu giữ gồm: 05 Giấy vay tiền; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung loại Galaxy A23 màu vàng cam; 03 hợp đồng đặt cọc chuyển quyền sử dụng đất; 01 giấy chuyển quyền sử dụng đất viết tay; 02 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; 01 cuốn sổ tay màu đỏ.
Quá trình điều tra xác định: trong năm 2022 và năm 2023, T cho tổng cộng 07 người vay tiền. Trong đó có 05 người Thanh cho vay tiền lấy lãi; 02 người Thanh cho vay tiền nhưng không lấy lãi. Trong 05 người Thanh cho vay lấy lãi thì có 03 người vay có mức lãi suất gấp từ 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự và thu được số tiền lãi là 150.490.000đ (Một trăm năm mươi triệu bốn trăm chín mươi nghìn đồng) bao gồm: Số tiền lãi tối đa mà T được nhận theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự với mức lãi suất 20%/năm là: 26.636.000đ (hai sáu triệu sáu trăm ba sáu nghìn đông); Số tiền thu lợi bất chính trên mức lãi suất tối đa quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự là: 123.854.000đ (một trăm hai ba triệu tầm trăm nằm từ nghìn đồng). Cụ thể như sau:
1. Anh Cao Văn T2: SN 1991 trú tại thôn P, xã X, huyện N, vào ngày 08/12/2022 T2 có nhờ ông Quách Văn T4 SN 1966 trú tại thôn P, xã X, huyện N giới thiệu để vay tiền của Lê Thị T với số tiền là 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng). Giữa anh T2 và T thống nhất thỏa thuận với nhau lãi suất là 4.000đ/01 triệu/01 ngày, cứ 01 tháng là 30 ngày (không kể tháng thiếu hay tháng thừa). Ngày 08/03/2023, anh T2 gửi số tiền là 9.000.000đ (chín triệu đồng) nhờ ông T4 đưa cho T để trả tiền lãi. Đến ngày 10/09/2023, anh T2 đem số tiền 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng) đến nhà T để xin trả tiền gốc nhưng T không đồng ý mà yêu cầu anh T2 phải trả đủ 06 tháng tiền lãi nợ trước đó (từ tháng 03 đến tháng 09/2023), tương đương với số tiền là 21.600.000đ (hai mươi mốt triệu sáu trăm nghìn đồng). Số tiền còn lại là 8.400.000đ (tám triệu bốn trăm nghìn đồng) được trừ lùi vào tiền gốc. Việc anh T2 vay tiền của T thì không phải viết giấy vay nợ gì mà do ông T4 giới thiệu nên T đã gọi ông T4 đến để viết giấy nhận nợ thay cho anh T2. Đến tối ngày 14/09/2023, anh T2 cùng với ông T4 và bà Lê Thị H (vợ ông T4) đến gặp T để giải quyết số nợ còn lại. Tại đây, T đồng ý cho anh T2 giải quyết số nợ còn lại mà không liên quan gì đến ông T4, T hủy tờ giấy mà ông T4 viết nhận nợ trước đó. Anh T2 xin không phải trả tiền lãi mà chỉ phải trả tiền gốc nên T yêu cầu anh T2 trong tháng 10/2023 phải đưa đủ số tiền 10.000.000đ (Mười triệu đồng) cho T thì T sẽ xóa nợ cho anh T2 và anh T2 đồng ý. Đến nay T2 đang nợ T 10.000.000đ tiền gốc,
Như vậy số tiền mà anh Cao Văn T2 vay của T là 30 triệu đồng, từ ngày 08/12/2022 đến 10/09/2023 (tức là 272 ngày). Số tiền lãi đã trả là 30.600.000đ (ba mươi triệu sáu trăm nghìn đồng), lãi suất là 136,8%/năm, gấp 6,8 lần so với quy định. Số tiền lãi tối đa được thu theo quy định là là 4.471.000đ (bốn triệu bốn trăm bảy mươi mốt nghìn đồng), số tiền lãi thu vượt quy định là 26.129.000 đồng (hai sáu triệu một trăm hai chín nghìn đồng).
2. Chị Lô Thị T3 - SN 1993; trú tại thôn Đ, X, N. Trong khoảng thời gian cuối tháng 08/2022 đến ngày 17/10/2022, chị T3 vay của T5 tổng số tiền là 135.000.000đ (Một trăm ba mươi lăm triệu đồng). Giữa chị T3 và T thống nhất với nhau là kể từ ngày 30/08/2022 sẽ tính lãi suất là 3.000đ/01 triệu/01 ngày, 01 tháng là 30 ngày (không kể tháng thiếu hay tháng thừa).
Số tiền lãi được thu tối đa theo quy định với khoản tiền trên là 3.476.000đ (ba triệu bốn trăm bảy mươi sáu nghìn đồng)
- Đến ngày 17/10/2022, chị T3 tiếp tục vay thêm 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng), nâng tổng số nợ lên 155.000.000đ (Một trăm năm mươi lăm triệu đồng). Số tiền lãi được thu tối đa theo quy định là 3.476.000đ (Ba triệu bốn trăm bảy mươi sáu nghìn đồng).
- Đến ngày 27/12/2022, chị T3 trả 08 triệu tiền gốc, nên số tiền gốc còn nợ lại là 147.000.000đ (Một trăm bốn mươi bảy triệu đồng). Chị T3 trả lãi hàng tháng cho T từ ngày 30/08/2022 đến hết ngày 04/04/2023 thì dừng việc trả lãi do điều kiện gia đình khó khăn. Từ ngày 27/12/2022 đến 04/4/2023 (tức là 97 ngày) đối với số tiền nợ là 147 triệu đồng thì số tiền lãi tối đa được thu theo quy định là 7.813.000đ (Bảy triệu tám trăm mười ba nghìn đồng)
- Đến ngày 15/7/2023, chị T3 tiếp tục trả được 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng) tiền gốc, nên số tiền gốc còn nợ lại là 127.000.000đ (một trăm hai mươi bay triệu đồng) cho đến nay.
Việc trả lãi hàng tháng không cố định cụ thể về thời gian và số tiền trả lãi mà khi nào có tiền thì T3 trả lãi cho T. Tính từ ngày 30/08/2022 đến 04/04/2023 tổng số tiền lãi mà chị T3 đã trả lãi cho T là 94.900.000đ (chín mươi tư triệu chín trăm nghìn đồng). Trong đó, có 10.000.000đ (mười triệu đồng) trả lãi bằng tiền mặt vào ngày 10/09/2022, còn 84.900.000đ (tám mươi tư triệu chín trăm nghìn đồng) trả lãi bằng hình thức chuyển khoản từ số tài khoản của chị T3 là 3528205202833 đến số tài khoản của T là 3528215015066.
Như vậy, Lê Thị T đã cho chị T3 vay nhiều lần với tổng số tiền 155.000.000 đồng. Chị T3 đã trả tiền cho T 12 lần với tổng số tiền là 122.900.000 đồng, gồm: 28.000.000 đồng tiền gốc và 94.900.000đ (chín mươi tư triệu chín trăm nghìn đồng) tiền lãi. Tổng số tiền lãi T được thu theo quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự là 17.234.000đ (mười bảy triệu hai trăm ba mươi bốn nghìn đồng) và số tiến T thu vượt quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự là 17.666.000 đồng (mười bảy triệu sáu trăm sáu sáu nghìn đồng). Hiện tại T3 đang nợ T số tiền gốc là 127.000.000 đồng.
3. Chị Phạm Thị G: ngày 19/07/2022 chị G vay của Lê Thị T số tiền là 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng). Giữa chị G và T thống nhất với nhau với lãi xuất là 3.000đ/01 triệu/01 ngày, cứ 01 tháng là 30 ngày (không kể tháng thiếu hay tháng thừa). Từ ngày 19/07/2022 đến 11/01/2023 chị G đã trả số tiền lãi là 21.990.000đ (Hai mươi mốt triệu chín trăm chín mươi nghìn đồng). Đến ngày 19/01/2023, chị G trả được 10.000.000đ (mười triệu đồng) tiền gốc (trả bằng hình thức tiền mặt) và xin không phải tiền lãi nữa nhưng T yêu cầu chị G phải trả đủ số tiền lại còn nợ trước đó. Nghĩa là: theo thỏa thuận, cứ mỗi tháng chị G phải trả cho T là 4.500.000đ (bốn triệu năm trăm nghìn đồng), từ 19/07/2022 đến 19/01/2023 là 06 tháng, tương ứng với số tiền là 27.000.000đ (hai mươi bảy triệu đồng) nhưng chị G mới trả được số tiền lãi là 21.990.000đ (hai mươi mốt triệu chín trăm chín mươi nghìn đồng), do đó số tiền lãi mà chị T còn nợ lại là 5.010.000đ (năm triệu không trăm mười nghìn đồng). Kể từ ngày 30/03/2023 đến 11/09/2023 chị G đã trả tổng số tiền cho T là 43.000.000đ (bốn mươi ba triệu đồng). Trong đó, có 40 triệu đồng tiền gốc và 03 triệu đồng tiền lãi còn nợ trước đó. Số tiền lãi còn nợ là 2.010.000đ (hai triệu không trăm mười nghìn đồng) chị G xin T không phải trả thì T đồng ý. Như vậy, tổng số tiền lãi mà chị G đã trả cho T là 24.990.000đ (hai mươi tư triệu chín trăm chín mươi nghìn đồng). Các lần trả tiền lãi và tiền gốc chị G đều sử dụng số tài khoản ngân hàng C1 đến số tài khoản của T là 3528215015066.
Như vậy, số tiền mà chị Phạm Thị G vay của T là 50 triệu đồng, từ ngày 19/07/2022 đến 19/01/2023 (tức là 180 ngày). Số tiền lãi đã trả là 24.990.000đ (hai mươi tư triệu chín trăm chín mươi nghìn đồng), lãi suất là 101,%/năm, gấp 5,1 lần so với quy định. Số tiền lãi tối đa được thu theo quy định là là 4.931.000đ (bốn triệu chín trăm ba mươi mốt nghìn đồng), số tiền lãi thu vượt quy định là 20.059.000 đồng.
Ngoài ra, Cơ quan CSĐT Công an huyện N đã thu giữ 03 giấy vay nợ, và tài liệu khác thể hiện:
- + Cho vay với lãi suất 01 %/tháng gồm: vợ chồng anh Hà Văn T6, chị Quách Thị H1 và Bùi Văn T7.
- + Cho vay không tính lãi suất gồm: chị Quách Thị Q và vợ chồng anh Cao Văn Q1, chị Quách Thị Tư.
Cơ quan điều tra đã trả lại cho người quản lý hợp pháp theo quy định của pháp luật.
- Đối với 01 Giấy vay tiền được viết tay bằng mực đỏ mang tên Hà Huy H2, Lô Thị T3 viết ngày 26/6/2023; 01 Giấy ghi nợ được viết tay bằng mực đen mang tên Lô Thị T3 viết ngày 15/07/2023 và 01 quyển sổ màu đỏ, kích thước (15x21)cm, trên bìa thể hiện nội dung “ĐẠI HỘI ĐẢNG BỘ xã X, huyện N lần thứ XXI - Nhiệm kỳ 2010 - 2015". Bên trong quyển sổ có 01 trang giấy thể hiện nội dung giấy vay tiền mang tên Phạm Thị G viết ngày 19/01/2023. Quá trình điều tra xác định đây là tài liệu, chứng cứ của vụ án nên Cơ quan điều tra đã tiến hành thu giữ, lưu theo hồ sơ vụ án. Cần tiếp tục thu giữ, lưu theo hồ sơ vụ án.
- Đối với 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung galaxy A32, màu vàng cam, số imei 1: 353220821178610, số imei 2: 353319901178613, Quá trình điều tra xác định đây là công cụ mà bị cáo sử dụng để liên lạc với người vay để dục, đòi trả tiền lãi khi đã đến hẹn. Cần tịch thu sung quỹ nhà nước vì đây là công cụ, phương tiện phạm tội.
- Đối với 01 Giấy mượn tạm tiền được viết tay bằng mực đỏ mang tên Quách Thị Q viết ngày 30/4/2023 (âm lịch). Đây là giao dịch dân sự nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho người quản lý hợp pháp.
- Đối với 01 Giấy vay tiền được viết tay bằng mực đỏ mang tên Hà Văn T6, Quách Thị H1 viết ngày 23/7/2023 và 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 1904297 mang tên ông Hà Văn B. Quá trình điều tra xác định, ngày 23/07/2023 vợ chồng anh T6, chị H3 vay Lê Thị T số tiền 52 triệu đồng, với lãi suất là 01%/tháng và thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông Hà Văn B (là bố đẻ của anh T6). Đây là giao dịch dân sự nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho người quản lý hợp pháp.
- Đối với 01 Giấy xin chuyển quyền sử dụng đất được viết tay bằng mực đen, mang tên Lô Văn T8 viết ngày 03/10/2020 và 01 Hợp đồng đặt cọc được đánh máy, viết tay bằng mực đỏ, bên A là ông Nguyễn Văn L, bên B là bà Lê Thị Thanh 1 ngày 04/12/2022. Quá trình điều tra xác định, ngày 03/10/2020, ông Lê Văn T9 bán đám đất ở L, K2.TK588, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 783234 cho anh Nguyễn Văn T10 - Sinh năm: 1994 trú tại thôn X, xã X (là con trai ông Nguyễn Văn L). Ngày 04/12/2022 ông Nguyễn Văn L - SN: 1970 trú tại thôn X, xã X bán lại cho Lê Thị T với số tiền là 190 triệu đồng. Đây là giao dịch dân sự nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho người quản lý hợp pháp.
- Đối với 01 Hợp đồng đặt cọc được đánh máy và viết tay bằng mực xanh, thể hiện bên A là ông Cao Văn T11, bên B là ông Cao Viết C lập ngày 10/10/2022. Quá trình điều tra xác định, ngày 10/10/2022 anh T11 bán đất cho anh C với giá là 130 triệu đồng và làm hợp đồng đặt cọc số tiền là 90 triệu đồng. Đây là giao dịch dân sự không liên quan đến vụ án nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp.
- Đối với 01 Hợp đồng đặt cọc được đánh máy và viết tay bằng mực xanh, thể hiện bên A là ông Phạm Văn B1, bà Ngân Thị P, còn bên B là bà Lê Thị Thanh 1 ngày 15/02/2023. Quá trình điều tra xác định: Ngày 15/02/2023 vợ chồng ông B1, bà P bán đất cho vợ chồng ông C, bà T với giá là 420 triệu đồng, do chưa làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất nên mới nhận tiền đặt cọc. Đây là giao dịch dân sự nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho người quản lý hợp pháp.
- Đối với 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB 094282 mang tên ông Nguyễn Xuân N2 - Sinh năm 1970 ở thôn Đ, X, N, Thanh Hóa đối với thửa đất số 110A, 109, tờ bản đồ số 01 cấp ngày 26/02/2005. Quá trình điều tra xác định, tháng 06/2023 anh N2 bán đám đất nêu trên cho T với giá là 70 triệu đồng. Đây là giao dịch dân sự nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho người quản lý hợp pháp.
- Đối với 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tải sản khác gắn liền với đất số CM 909416, thể hiện chủ sở hữu là ông Bùi Văn T12 - Sinh năm 1959 và bà Bùi Thị D - Sinh năm 1961 có địa chỉ tại thôn B, xã T, huyện N cấp ngày 06/4/2018. Quá trình điều tra xác định, tháng 12/2022 anh Bùi Văn T7 - SN: 1990 trú tại thôn B, T, N vay của T số tiền là 10 triệu đồng với lãi suất là 01%/tháng. Để làm tin, anh T7 đã thế chấp 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng của bố đẻ là ông Bùi Văn T13. Đây là giao dịch dân sự nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho người quản lý hợp pháp.
- Đối với 01 giấy mượn tiền mang tên chồng là Cao Văn Q1, vợ là Quách Thị T14 lập ngày 20/10/2022. Quá trình điều tra xác định, ngày 20/10/2022 vợ chồng anh Q1, chị T15 vay T số tiền là 150 triệu đồng để đi xuất khẩu lao động. Vì là anh em họ hàng nên T không tính lãi suất. Đây là giao dịch dân sự nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho người quản lý hợp pháp.
Các vật chứng trên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã xem xét và xử lý đúng quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[9]. Về án phí: bị cáo Lê Thị T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
[10]. Về quyền kháng cáo: bị cáo; Người có quyền lợi, nghĩa vụ kliên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố: bị cáo Lê Thị T phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự".
- - Áp dụng: khoản 2 Điều 201; điểm i và s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015;
- Xử phạt: bị cáo Lê Thị T 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 tháng, tính tình ngày tuyên án sơ thẩm (16/11/2023).
- Giao bị cáo T cho Ủy ban nhân dân xã X, huyện N, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
- Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- - Hình phạt bổ sung: phạt tiền bị cáo Lê Thị T là 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng).
- Về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng:
- Áp dụng điểm a, b khoản 1 khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a, b khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
- - Truy thu từ bị cáo Lê Thị T là 86.400.000đ (tám mươi sáu triệu bốn trăm nghìn đồng);
- - Truy thu từ anh Cao Văn T2 là 21.600.000đ (hai mươi mốt triệu sáu trăm nghìn đồng);
- - Truy thu từ chị Lô Thị T3 là 127.000.000đ (một trăm hai mươi bảy triệu đồng).
- - Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền lãi tương ứng với 20/% năm là 26.636.000đ (hai mươi sáu triệu ba trăm sáu mươi ba nghìn đồng) từ bị cáo T do thu được từ anh T2, chị G và chị T3.
- - Buộc bị cáo Lê Thị T phải trả cho những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan số tiền thu lợi bất chính như sau:
- + Trả cho anh Cao Văn T2 là 26.129.000đ (hai mươi sáu triệu một trăm hai mươi chín nghìn đồng);
- + Trả cho chị Phạm Thị G là 20.059.000đ (hai mươi triệu không trăm năm mươi chín nghìn đồng);
- + Trả cho chị Lô Thị T3 là 77.666.000đ (bảy mươi bảy triệu sáu trăm sáu mươi sáu nghìn đồng).
- Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, người liên quan có đơn yêu cầu thi hành án về khoản tiền phải trả cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng Hoàng Trọng T16 còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
- Tiếp tục thu giữ, lưu theo hồ sơ vụ án đối với 01 giấy vay tiền được viết tay bằng mực đỏ mang tên Hà Huy H2, Lô Thị T3 viết ngày 26/6/2023; 01 Giấy ghi nợ được viết tay bằng mực đen mang tên Lô Thị T3 viết ngày 15/07/2023 và 01 quyển sổ bị màu đỏ, kích thước (15x21)cm, trên bìa thể hiện nội dung “ĐẠI HỘI ĐẢNG BỘ xã X, huyện N lần thứ XXI - Nhiệm kỳ 2010 - 2015". Bên trong quyển sổ có 01 trang giấy thể hiện nội dung giấy vay tiền mang tên. Phạm Thị G viết ngày 19/01/2023.
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước đối với 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung galaxy A32, màu vàng cam, số imei 1: 353220821178610, số imei 2: 353319901178613 (đặc điểm vật chứng này theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Như Thanh số 02 ngày 30/10/2023).
- Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ Luật tố tụng hình sự; Điều 6, Điều 21, khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo T phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần liên quan trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Tiến Dũng |
Bản án số 26/2023/HSST ngày 16/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƯ THANH, TỈNH THANH HÓA về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Số bản án: 26/2023/HSST
- Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƯ THANH, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Thị T
