Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG HỶ

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do- Hạnh phúc

Bản án số: 26/2024/HS-ST

Ngày 26-04-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG HỶ, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Châm Thị Vân Khánh

Các hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Tất Dũng
  2. Bà Nguyễn Thị Hoài Linh

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Nam Thái- Thư ký Toà án nhân dân huyện Đồng Hỷ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Hỷ tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Tuyết Chinh, ông Ngô Lê Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 15/2024/TLST-HS ngày 12/03/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2024/QĐXXST-HS ngày 03/4/2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Đào Ngọc K; giới tính: Nam; sinh ngày 20 tháng 03 năm 1979; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: TDP A, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp khi phạm tội: Công chức địa chính – xây dựng; Đoàn thể: Đảng viên Đ1 ( Đã bị khai trừ theo Quyết định số 77-QĐ/UBKTHU ngày 23/11/2023 của Ủy ban kiểm tra Huyện ủy Đ2); trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào Ngọc K1 và bà Nguyễn Thị V; Vợ: Bế Thị Thu H, vợ chồng có 02 con chung (Con lớn nhất sinh năm 2004, con nhỏ nhất sinh năm 2011); Tiền án, Tiền sự: không.

Bị bắt tạm giam từ ngày 17/8/2023 đến ngày 10/11/2023 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Dương Thị L, sinh năm 1972 (Có mặt)

Trú tại: xóm A, xã M, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên

- Người tham gia tố tụng khác:

+ Người làm chứng:

  1. Nguyễn Thị Y, sinh năm 1975(Có mặt)
  2. Ông Lê Văn Đ, sinh năm 1973 (vắng mặt)

Cùng trú tại: xóm A, xã M, huyện Đ, Thái Nguyên

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 22/12/2015, Chủ tịch UBND huyện Đ2 ban hành Quyết định số 8538/QĐ-UBND về việc điều động luân chuyển Đào Ngọc K ( là công chức địa chính xây dựng xã H) đến nhận công tác tại UBND xã M kể từ ngày 01/01/2016. Sau khi nhận công tác tại UBND xã M, K tiếp nhận hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (QSDĐ) của hộ gia đình bà Dương Thị L, sinh năm 1972, địa chỉ tại xóm A, xã M tại thửa đất số 869, tờ bản đồ số 42, diện tích 1783m2, địa chỉ thửa đất tại xã M, huyện Đ. Trong quá trình giải quyết, K trao đổi với bà L hồ sơ có nhiều khó khăn phải giải quyết, do đất nhà bà L đã bị cấp nhầm cho ông Lê Văn Đ (em trai chồng bà L) và nói với bà L muốn có 400m2 đất thổ cư thì phải có 7.000.000đ, còn nếu không thì chỉ được 100m2 thổ cư. Bà L nhất trí nhưng nói chỉ có 6.000.000đ, K cũng nhất trí. Đầu năm 2017 bà L gọi điện cho K đến quán bán hàng của bà L tại khu vực ngã ba KM7 quốc lộ A thuộc địa phận thị trấn H, huyện Đ, để đưa tiền. Tại đây, bà L đã đưa cho K số tiền 5.000.000đ và hẹn khi nào làm xong hồ sơ sẽ đưa cho K số tiền 1.000.000đ. Khoảng 2 tháng sau do chưa thấy K làm hồ sơ nên bà L đến UBND xã M và đưa cho K số tiền 1.000.000đ. Đến năm 2021 bà L gọi điện nhiều lần để hỏi về việc đã làm được hồ sơ cho bà L chưa, K thông tin sắp làm được và đã cho bà L, ông Đ ký thủ tục thu hồi giấy chứng nhận của ông Đ. Ngày 20/12/2022 UBND huyện Đ2 đã ra quyết định thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp sai. Đến ngày 28/6/2023 bà L chưa nhận được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên đã làm đơn tố cáo K đến cơ quan điều tra và giao nộp 01 USB có chứa file ghi âm cuộc nói chuyện giữa bà LK.

Tại Kết luận giám định số 7888/KTHS ngày 19/01/2024 của V1 Bộ C kết luận: Tiếng nói của người đàn ông xưng “em” trong file ghi âm với tiếng nói của Đào Ngọc K là của cùng một người”

Tại Cơ quan điều tra, Đào Ngọc K khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nêu trên.

Vật chứng của vụ án: - 01 (một) hồ sơ đất đai (07 trang); 01 bản phô tô giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00.13QSDĐ; 01 bản phô tô Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DL796255; 01 thông báo số 160/TB-VPĐKĐĐ ngày 29/7/2023 v/v cập nhật, chỉnh lý hồ sơ địa chính; (Được chuyển theo hồ sơ);

- 03 USB chứa file ghi âm; 01 máy tính xách tay, nhãn hiệu Dell, màu đen, đã qua sử dụng, ký hiệu K1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo đã qua sử dụng; Số tiền: 6.000.000₫ (Sáu triệu đồng). Hiện số vật chứng trên đang được bảo quản chờ xử lý theo quy định.

Tại bản Cáo trạng số 18/CT-VKSĐH ngày 06/03/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Hỷ truy tố Đào Ngọc K về tội “Nhận hối lộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 354 Bộ luật Hình sự năm 2015

Tại phiên tòa, bị cáo Đào Ngọc K khai nhận rõ hành vi phạm tội như lời khai tại cơ quan điều tra và bản cáo trạng mô tả. Bị cáo thừa nhận việc truy tố, xét xử là đúng người, đúng tội, không oan.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà L vẫn giữ nguyên lời khai tại cơ quan điều tra.

Tại phiên tòa, trong phần luận tội đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Hỷ giữ nguyên bản Cáo trạng số 18/CT-VKSĐH ngày 06/03/2024, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Đào Ngọc K phạm tội “Nhận hối lộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 354 Bộ luật Hình sự năm 2015.

- Đề nghị áp dụng: điểm a khoản 1 Điều 354, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự: xử phạt Đào Ngọc K từ 24 đến 30 tháng tù.

Về vật chứng: áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

+Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: số tiền 6.000.000đ là tiền đưa hối lộ và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo đã qua sử dụng.

+Trả lại cho bị cáo: 01 máy tính sách tay nhã hiệu Dell insprion 15 3000, màu đen đã qua sử dụng

+Lưu hồ sơ vụ án: 03 USB chứa file ghi âm, 01 (một) hồ sơ đất đai (07 trang); 01 bản phô tô giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00.13QSDĐ; 01 bản phô tô Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DL796255; 01 thông báo số 160/TB-VPĐKĐĐ ngày 29/7/2023 v/v cập nhật, chỉnh lý hồ sơ địa chính.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

Trong phần tranh luận:

Trong phần tranh luận bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.

Trong lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử nghị án bị cáo K nhận thấy hành vi của mình là sai và xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Hỷ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký, Kiểm sát viên tiến hành tố tụng chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo:

[2] Căn cứ vào lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa và lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, kết luận giám định, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các chứng cứ tài liệu khác được thu thập hợp lệ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ xác định, bị cáo Đào Ngọc K nguyên là Công chức địa chính – xây dựng xã M, bị cáo đã lợi dụng việc mình có thẩm quyền tiếp nhận hồ sơ xin cấp, chuyển đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên địa bàn xã M, để trình lên cấp có thẩm quyền xem xét, nên đã nhận của bà Dương Thị L tổng cộng 2 lần với tổng số tiền 6.000.000đ, trong đo lần 1 nhận số tiền 5.000.000đ, lần 2 nhận 1.000.000₫ để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo yêu cầu của bà L. Hành vi của bị cáo Đào Ngọc K thực hiện trước khi Bộ luật hình sự năm 2015 có hiệu lực, nhưng do điều luật quy định về tội Nhận hối lộ mà Bộ luật hình sự năm 2015 quy định nhẹ hơn so với Bộ luật hình sự năm 1999. Vì vậy để đảm bảo nguyên tắc có lợi cho bị cáo, cần áp dụng quy định tại điểm a khoản 1 Điều 354 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi năm 2017 để truy cứu trách nhiệm hình sự, xét xử đối với bị cáo Đào Ngọc K

Do vậy, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Nhận hối lộ”, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 354 Bộ luật hình sự.

Nội dung điều luật quy định như sau:

Điều 354. Tội nhận hối lộ

1. Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn trực tiếp hoặc qua trung gian nhận hoặc sẽ nhận bất kỳ lợi ích nào sau đây cho chính bản thân người đó hoặc cho người hoặc tổ chức khác để làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm hoặc đã bị kết án về một trong các tội quy định tại Mục 1 Chương này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

...

5. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 đến 05 năm, có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản...”

[3] Bản cáo trạng số 18/CT-VKSĐH ngày 06/03/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Hỷ truy tố Đào Ngọc K về tội “Nhận hối lộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 354 Bộ luật hình sự là có căn cứ.

[4] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo xâm phạm trực tiếp đến hoạt động đúng đắn của cơ quan Nhà nước, làm ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội, gây dư luận xấu cho hoạt động của cơ quan có thẩm quyền, làm giảm lòng tin của nhân dân. Vì vậy cần phải xử phạt bị cáo với mức phạt nghiêm, đúng với hành vi của bị cáo mới đủ sức răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

[5] Đối chiếu với các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy:

Bị cáo Đào Ngọc K có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, đã tự nguyện nộp lại số tiền nhận hối lộ. Trong quá trình công tác bị cáo được tặng nhiều giấy khen, bị cáo có mẹ đẻ là bà V được tặng thưởng huy chương. Do vậy bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự và không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Về hình phạt đối với bị cáo:

[6] Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, sau khi xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân đối với bị cáo. Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt tù tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

Xét đề nghị về phần hình phạt của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp cần chấp nhận.

[7] Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng

[8]Về xử lý vật chứng: - Số tiền 6.000.000đ là tiền của bà L dùng để đưa hối lộ, là tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

  • 03 USB chứa file ghi âm được thu thập trong quá trình điều tra và các giấy tờ thu giữ được trong quá trình điều tra được lưu trong hồ sơ vụ án.
  • 01 Chiếc máy tính sách tay nhãn hiệu Dell insprion 15 3000, màu đen đã qua sử dụng đây là tài sản chung của gia đình nên cân trả lại cho bị cáo.
  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo đã qua sử dụng, bị cáo dùng để liên lạc thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

[9]Về án phí: Bị cáo Đào Ngọc K phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[10]Về quyền kháng cáo: bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

[11]Các vấn đề khác: - Trong vụ án này còn có bà Dương Thị L đã có hành vi đưa hối lộ cho bị cáo Đào Ngọc K. Tuy nhiên trước khi sự việc bị phát giác bà L đã chủ động tố cáo hành vi nhận hối lộ của K, nên được cơ quan điều tra xem xét không xử lý về hình sự đối với bà L theo khoản 7 Điều 364 Bộ luật hình sự là phù hợp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về hình phạt chính:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 354, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự

Tuyên bố bị cáo Đào Ngọc K phạm tội “Nhận hối lộ”

Xử phạt bị cáo Đào Ngọc K 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án, được trừ đi thời gian đã tạm giữ tạm giam từ ngày 17/8/2023 đến ngày 10/11/2023.

2.Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

  • Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo 1916 đã qua sử dụng số IMEI1: 865966047756735, số IMEIL2: 865966047756727, niêm phong ký hiệu B2 và số tiền 6.000.000₫ (Sáu triệu đồng).
  • Lưu hồ sơ vụ án: 01 USB màu bạc, nhãn hiệu Kingston, được niêm phong trong phong bì ký hiệu Đối tượng GĐ (mẫu so sánh); 01 USB màu bạc nhãn hiệu Toshiba; 01 USB màu bạc, nhãn hiệu Kingston ghi âm giọng nói của Đào Ngọc K; 01 (một) hồ sơ đất đai (07 trang); 01 bản phô tô giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00.13QSDĐ; 01 bản phô tô Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DL796255; 01 thông báo số 160/TB-VPĐKĐĐ ngày 29/7/2023 v/v cập nhật, chỉnh lý hồ sơ địa chính.
  • Trả lại cho bị cáo: 01 máy tính sách tay nhãn hiệu Dell insprion 15 3000, màu đen, đã qua sử dụng được niêm phong ký hiệu K1.

(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/4/2024 giữa Công an huyện Đ và Chi cục thi hành án dân sự huyện Đồng Hỷ, số tiền 6.000.000 theo Ủy nhiệm chi số 35 ngày 28/3/2024 giữa Công an huyện Đ và K huyện Đ)

3.Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ- UBTVQH14 về án phí, lệ phí Toà án. Buộc bị cáo Đào Ngọc K phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách Nhà nước.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • VKSND Tối Cao;
  • Cơ quan CSĐT VKSNDTC;
  • VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • TTG Công an tỉnh Thái Nguyên;
  • Sở tư pháp tỉnh Thái Nguyên;
  • VKSND huyện Đồng Hỷ;
  • Công an huyện Đồng Hỷ;
  • THADS huyện Đồng Hỷ;
  • THA phạt tù;
  • Bị cáo, NLQ;
  • Lưu hồ sơ.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Tất Dũng

Nguyễn Thanh Thủy

Châm Thị Vân Khánh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 26/2024/HS-ST ngày 26/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG HỶ, TỈNH THÁI NGUYÊN về nhận hối lộ

  • Số bản án: 26/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Nhận hối lộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG HỶ, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Kh nhận hối lộ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger