|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 26/2025/HS-ST |
|
|
Ngày: 26-02-2025. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Văn Quyết
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Trần Thị Thanh Thủy
- Bà Đặng Thị Hiền Thục
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Đức – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 tham gia phiên tòa:
Bà Trần Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 18/2025/TLST-HS ngày 23 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Lê Quang V; sinh ngày: 14/12/1999 tại Thành phố Hồ Chí M; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 358/26/7 C, Phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: 3 C, Phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Thanh H và bà: Lê Thị B; tiền án: Không; tiền sự: Không. Nhân thân: Không có. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/8/2024 tại Nhà tạm giữ Công an Q2.
(Bị cáo có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Ông Trần Văn Q, sinh năm 1973 (vắng mặt)
- Anh Trần Anh T, sinh năm 2000 (vắng mặt)
Cùng địa chỉ:G đường L, thành phố Q, tỉnh Bình Định.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 01 giờ 35 phút ngày 12/8/2024, Tổ tuần tra 363 Công an Quận 10, phát hiện Nguyễn Lê Quang V đang điều khiển xe máy biển số 59V1-39.110 tại ngã tư Đường C - L, Phường A, Quận A có biểu hiện nghi vấn nên đưa về trụ sở Công an Q2, Quận A kiểm tra hành chính. Qua kiểm tra, phát hiện thu giữ trong túi quần của V có 01 (một) gói nylon chứa tinh thể, bị cáo V khai là ma túy, cất giữ để sử dụng. Công an Q2, Quận A lập biên bản bắt người phạm tội quả tang chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q2 để điều tra làm rõ.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q2 đã trưng cầu giám định tinh thể không màu đã thu giữ của bị cáo V. Tại Bản kết luận giám định số 6915/KL-KTHS ngày 20/8/2024 của Phòng K Công an Thành phố H, kết luận: “Tinh thể được ký hiệu mẫu m cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng: 0,1831gram, loại Methamphetamine".
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q2, bị cáo Nguyễn Lê Quang V khai nhận: Bị cáo nghiện ma tuý từ tháng 05/2024, khoảng 15 giờ 45 phút ngày 11/8/2024 khi đang đứng trước hẻm C đường C, Phường A, Quận C thì thấy “Quậy” (không rõ lai lịch) là bạn bè quen biết ngoài xã hội chạy xe máy (không rõ biển số) ngang qua, bị cáo V đưa cho Q1 số tiền 140.000 đồng nhờ mua giùm 01 gói ma túy đá. Q1 đồng ý và cầm tiền chạy xe máy đi, khoảng 10 phút sau Q1 quay lại đưa cho V 01 gói ma túy đá rồi bỏ đi. V cất gói ma túy vào túi quần để dành sử dụng thì bị kiểm tra bắt giữ như trên.
Kết quả xét nghiệm nước tiểu tại Trung tâm Y tế Q3 của Nguyễn Lê Quang V: “Dương tính” với chất ma túy.
Vật chứng vụ án:
- 01 (một) gói vật chứng được niêm phong, bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký ghi tên Nguyễn Lê Quang V và hình dấu Công an Q2, Quận A, bên trong có 01 (một) gói nylon chứa chứa tinh thể.
- 01 (một) xe mô tô biển số: 59V1-391.10, có số khung: RLHJF2700BY 287168, số máy: JF27E1092737 – thu giữ của bị cáo V. Kết luận giám định có số khung, số máy: không bị đục lại số. Xác minh xe do ông Nguyễn Văn N đứng tên đăng ký xe. Ngày 24/4/2017 ông Nguyễn Văn N uỷ quyền công chứng cho ông Nguyễn Hoàng S toàn quyền quyết định. Ông Trần Văn Q khai, ngày 27/4/2017 ông Q mua lại xe máy biển số 59V1-391.10 của ông Nguyễn Hoàng S (có Hợp đồng công chứng ủy quyền) nhưng không làm giấy tờ sang tên. Sau đó, ông Q đưa cho con trai là Trần Anh T sử dụng. Bị cáo V và Trần Anh T khai: Vào khoảng 01 giờ 25 phút ngày 12/8/2024, V hỏi mượn xe của Anh T đi mua nhang muỗi, T đồng ý. T không liên quan và không biết việc Nguyễn Lê Quang V thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý.
- 01 (một) điện thoại di dộng hiệu N1, có số imeil: 358903071368586, đã qua sử dụng, là tài sản cá nhân của bị cáo V không liên quan đến vụ án.
Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 đã có Quyết định chuyển các vật chứng trên đến Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10 chờ xử lý.
Tại bản Cáo trạng số 27/CT-VKSQ10 ngày 23 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố:
Bị cáo Nguyễn Lê Quang V về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c, khoản 1, Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa hôm nay:
- Bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như lời khai tại Cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh công bố bản luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo đúng theo nội dung bản Cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất và hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo đối với xã hội nêu lên những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải); đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1, Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo: Nguyễn Lê Quang V từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù, miễn phạt tiền bổ sung và đề nghị xử lý vật chứng.
- Ý kiến của bị cáo: Không có ý kiến gì tranh luận.
- Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo không nói lời sau cùng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q2, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên thu thập; do bị cáo, người tham gia tố tụng khác cung cấp đều thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về những chứng cứ, tài liệu đã thu thập, cung cấp. Do đó, những chứng cứ, tài liệu trong vụ án đều hợp pháp.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q2, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng như đã nêu trên. Tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung mà bị cáo đã trình bày nội dung lời khai là hoàn toàn tự nguyện. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[3] Nhận định hành vi và điều khoản xét xử:
Tại Cơ quan điều tra, cũng như trước phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thừa nhận hành vi của mình, qua lời khai nhận của bị cáo, vật chứng cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án là phù hợp, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định bị cáo Nguyễn Lê Quang V đã có hành vi cất giữ trái phép 0,1831g ma túy loại Methamphetamine nhằm mục đích để sử dụng. Do vậy, bị cáo Nguyễn Lê Quang V bị truy tố và xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1, Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[4] Việc áp dụng hình phạt, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm nghiêm trọng đến chế độ độc quyền của nhà nước về quản lý chất ma tuý, gây tác hại cho sức khoẻ, làm suy thoái nòi giống, phẩm giá con người, phá hoại hạnh phúc gia đình mà còn gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội. Do vậy, hành vi phạm tội của bị cáo lần này cần phải bị xử phạt nghiêm minh bằng luật hình tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, cụ thể cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian nhất định để cải tạo giáo dục bị cáo thành người tốt cho xã hội, đồng thời cũng để răn đe, giáo dục đối với những người thực hiện hành vi tương tự, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tệ nạn tại địa phương.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo phạm tội lần đầu nên miễn áp dụng hình phạt tiền bổ sung.
Về tình tiết tăng nặng: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ: Xét thấy bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do vậy, Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
[5] Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp khác:
Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 (một) gói vật chứng được niêm phong, bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký ghi tên Nguyễn Lê Quang V và hình dấu Công an Q2, Quận A, bên trong có 01 (một) gói nylon chứa tinh thể. Xét thấy đây là vật chứng cấm lưu hành. Do vậy Hội đồng xét xử áp dụng điểm a, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, tịch thu và tiêu hủy.
Đối với 01 (một) xe mô tô biển số: 59V1-391.10, có số khung: RLHJF2700BY 287168, số máy: JF27E1092737 thu giữ của bị cáo V. Qua xác minh xe do ông Nguyễn Văn N đứng tên đăng ký xe. Ngày 24/4/2017 ông Nguyễn Văn N uỷ quyền công chứng cho ông Nguyễn Hoàng S toàn quyền quyết định. Ông Trần Văn Q khai, ngày 27/4/2017 ông Q mua lại xe máy biển số 59V1-391.10 của ông Nguyễn Hoàng S (có Hợp đồng công chứng ủy quyền) nhưng không làm giấy tờ sang tên. Sau đó, ông Q đưa cho con trai là Trần Anh T sử dụng. Bị cáo V và Trần Anh T khai: Vào khoảng 01 giờ 25 phút ngày 12/8/2024, V hỏi mượn xe của Anh T đi mua nhang muỗi, ông không biết việc bị cáo Nguyễn Lê Quang V thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý. Do vậy Hội đồng xét xử quyết định trả lại cho ông Trần Anh T.
Đối với 01 (một) điện thoại di dộng hiệu N1, có số imeil: 358903071368586, đã qua sử dụng, là tài sản cá nhân của bị cáo V không liên quan đến vụ án, do vậy Hội đồng xét xử áp dụng điểm a, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 trả lại cho bị cáo V.
[6] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ vào điểm c khoản 1, Điều 249; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- - Căn cứ khoản 2, 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
- - Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Lê Quang V 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 12/8/2024.
Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Lê Quang V.
Tịch thu và tiêu hủy đối với 01 (một) gói vật chứng được niêm phong, bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký ghi tên Nguyễn Lê Quang V và hình dấu Công an Q2, Quận A, bên trong có 01 (một) gói nylon chứa tinh thể.
Trả lại cho ông Trần Anh T 01 chiếc xe mô tô biển số: 59V1-391.10, có số khung: RLHJF2700BY 287168, số máy: JF27E1092737
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Lê Quang V 01 (một) điện thoại di dộng hiệu N1, có số imeil: 358903071368586
(Tình trạng vật chứng: Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 05/02/2025 giữa Công an Q2 và Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10).
Buộc bị cáo Nguyễn Lê Quang V chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình.
Thời hạn kháng cáo là 15 ngày; đối với bị cáo có mặt tại phiên tòa thì tính từ ngày tuyên án. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa thì tính từ ngày được giao hoặc ngày niêm yết bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Văn Quyết |
6
Bản án số 26/2025/HS-ST ngày 26/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 26/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Lê Quang Vinh phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
